Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn mới từ nay đến 2020 - Pdf 24

Mở đầu

Dệt may là ngành kinh tế gắn liền với nhu cầu thiết yếu của con người từ
lúc mới sinh ra và tồn tại suốt cả đời người.
Ngành dệt may phát triển đã lâu đời, từ công việc thủ công, đơn giản đến
giai đoạn công nghiệp hoá đan xen với nghệ thuật thêu may bán thủ công như
ngày nay.
Khi nền kinh tế - xã hội phát triển thì nhu cầu may mặc của con người
ngày càng đa dạng cả số lượng, chủng loại và mẫu mã. Từ đó tạo điều kiện
thúc đẩy ngành dệt may phát triển theo để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Ngành may so với các ngành khác, có khả năng thu hút một lực lượng
lao động rất lớn (hiện thu hút khoảng 80 vạn lao động) và đây cũng là một
ngành tạo thu nhập quốc doanh đáng kể cho nền kinh tế nước ta nếu ngành
dệt may hoạt động có hiệu quả hơn.
Đối với Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá đất nước chú trọng đến
ngành dệt may là định hướng đúng đắn, phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội
của đất nước hiện tại và cũng phù hợp với xu hướng chuyển dịch ngành dệt
may đến các nước đang phát triển trên thế giới.
Ngành dệt may xuất khẩu hiện đang là một ngành chiếm vị trí khá quan
trọng trong kim ngạch xuất khẩu của nước nhà. Tuy nhiên, trong thời gian vừ
qua, ngành dệt may Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát
triển, đặc biệt là sự liên kết giữa ngành dệt may và các ngành liên quan khác
chưa chặt chẽ dẫn đến tỷ lệ “nội địa hoá” trên từng sản phẩm xuất khẩu rất
thấp, hiệu quả kinh doanh chưa cao.
Vì vậy, việc tìm ra giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ “nội địa hoá” ngành
dệt may Việt Nam trong giai đoạn sắp tới là cần thiết nhằm phát huy thế mạnh
tiềm tàng của ngành, tận dụng nguồn lao động dồi dào của đất nước, tăng
nguồn thu ngoại tệ và quan trọng hơn là tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm dệt may trên thị trường quốc tế (do hội đủ điều kiện hưởng chính sách
ưu đãi về thuế quan của các nước phát triển và tận dụng nguồn nguyên liệu có
sẵn trong nước).

Đã gần 5 năm kể từ khi Tổng công ty Dệt may Việt Nam được thành lập
trên cơ sở kết hợp hai ngành dệt và may vào trong một tổ chức thống nhất
cùng với quyết định sát nhập Công ty Bông Việt Nam vào Tổng công ty Dệt
may vào cuối năm 1998, chủ trương của Chính phủ muốn tạo ra cho ngành
Dệt may Việt Nam một cơ cấu thống nhất từ khâu nguyên liệu đến sản phẩm
tiêu dùng. Tuy nhiên sự liên kết này thật sự có hiệu quả? Ngành dệt đã trở
thành ngành cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho ngành may mặc? Ngành may
đã là động lực góp phần thúc đẩy ngành dệt hay chưa? Thực chất lượng ngoại
tệ thực thu của ngành dệt may là bao nhiêu phần trăm? Và trên những sản
phẩm xuất khẩu của Việt Nam tỷ lệ “nội địa hoá” chiếm bao nhiêu phần trăm?
Từ thực trạng trên đòi hỏi ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam cần phải
hoạt động có hiệu quả hơn bằng cách nâng cao tỷ lệ “nội địa hoá”. Vậy tỉ lệ
“nội địa hoá” là gì?
1.1.2. Khái niệm tỷ lệ “nội địa hóa”
Theo quy tắc xuất xứ trong hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của
các nước công nghiệp phát triển áp dụng cho các nước đang phát triển thì tỷ lệ
“nội địa hoá” của một mặt hàng được tính theo tiêu chuẩn xuất xứ như sau:
“Tỷ lệ “nội địa hoá” của một mặt hàng là tỷ trọng của nguyên vật liệu có
xuất xứ từ nước xuất khẩu mặt hàng đó trong giá trị của sản phẩm”
Trong khái niệm trên, “nguyên vật liệu có xuất xứ từ nước xuất khẩu” có
thể hiểu theo nhiều cách tuỳ vào các tiêu chuẩn xuất xứ khác nhau:
- Theo tiêu chuẩn xuất xứ toàn bộ thì nguyên vật liệu đó phải hoàn toàn
có nguồn gốc từ sản xuất của nước xuất khẩu.
- Theo tiêu chuẩn xuất xứ có thành phần nhập khẩu thì nguyên vật liệu
đó có thể nhập khẩu toàn bộ hay một phần, kể cả nguyên vật liệu không xác
định được nguồn gốc. Nhưng các nguyên vật liệu đó phải trải qua quá trình
gia công chế biến đầy đủ.
- Theo tiêu chuẩn xuất xứ cộng gộp thì nguyên vật liệu đó có thể được
nhập khẩu từ các nước được hưởng khác, có thể là từ tất cả các nước được
hưởng GSP hoặc các nước cùng một khu vực địa lý.

“đầu vào” để sản xuất ra mặt hàng đó.
1.2. Các yếu tố nguyên phụ liệu “đầu vào” của gia công hàng dệt
may
Để nâng cao tỷ lệ “nội địa hoá” hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam,
trước hết chúng ta cần xem xét từng yếu tố nguyên phụ liệu là “đầu vào” của
quá trình sản xuất mặt hàng này để xác định xem “nội địa hoá” yếu tố nào.
Đối với ngành dệt may, 70% giá trị sản phẩm là nằm ở nguyên phụ liệu,
đó là chưa kể các chi phí về nhiên liệu, hoá chất thuốc nhuộm. Giá trị sáng tạo
mới chỉ chiếm khoảng 10 - 15% [109,14]
1.2.1. Nguyên phụ liệu “đầu vào” của ngành dệt
“Nguyên liệu chính của ngành dệt gồm các loại tơ, sợi như: bông, tơ sợi
tổng hợp, tơ tằm...Phụ liệu dệt gồm các loại hoá chất thuốc nhuộm, trợ chất.”
Hiện tại ngành dệt nước ta đang gặp nhiều khó khăn, nhất là ở khâu “đầu
vào”. Do nhiều lý do khác nhau, đặc biệt là chưa có chiến lược phát triển
nguồn nguyên liệu, nên sau khi Liên Xô sụp đổ, ngành dệt đã mất nguồn cung
cấp bông, gia công với giá rẻ và lâm vào tình trạng bị động thường xuyên, bế
tắc lâu dài.
Ngành dệt Việt Nam hiện phụ thuộc gần như hoàn toàn và thị trường thê
giới từ nguyên liệu, hoá chất thuốc nhuộm (phải nhập ngoại trên 80%) cho
đến thiết bị máy móc, dệt nhuộm, chưa kể ngành thiết kế thời trang, mẫu mốt
còn quá hạn chế.
1.2.2. Nguyên phụ liệu “đầu vào” của ngành may
“Nguyên liệu đầu vào của ngành may gồm vải các loại, trong khi đó phụ
liệu may rất đa dạng với các loại phụ liệu chính như: các loại cúc, chỉ, khoá
kéo nhựa, kim loại, mex, dựng vải, dựng giấy, khoanh nơ cổ bằng nhựa, giấy,
bìa lưng, hòm, hộp bằng giấy, túi PE, PP đựng sản phẩm, bông tấm làm cốt
trong áo lạnh, dây thun các cỡ”.
Mặt hàng may mặc là mặt hàng thời trang rất đa dạng, thay đổi mẫu mốt,
chất liệu nhanh. Chất lượng sản phẩm, kiểu mốt sản phẩm may lại phụ thuộc
một phần quan trọng vào chất lượng nguyên phụ liệu.

1.3.2.1. Tiêu chuẩn xuất xứ toàn bộ: sản phẩm có xuất xứ toàn bộ lkà sản
phẩm mà thành phần của nó hoàn toàn lấy nguồn gốc từ sản xuất của nước
xuất khẩu.
1.3.2.2. Tiêu chuẩn xuất xứ có thành phần nhập khẩu: sản phẩm được
sản phẩm tại nước được hưởng ưu đãi GSP, bằng toàn bộ hoặc một phần
nguyên vật liệu nhập khẩu, kể cả nguyên vật liệu không xác định được nguồn
gốc. Sản phẩm này được coi là có xuất xứ từ nước được hưởng ưu đãi đó, nếu
như các nguyên vật liệu thành phẩm đó đã trải qua quá trình gia công chế biến
đầy đủ (nghĩa là gia công làm thay đổi đặc trưng hay đặc tính của nguyên vật
liệu). Trong quy chế của nhiều nước cho hưởng GSP, người ta quy định các
công việc đơn giản không được chấp nhận để cho hưởng quy chế về xuất xứ
(ví dụ bảo quản, thay bao bì...).
Về tiêu chuẩn gia công chế biến, có hai cách để xác định:
- Các nước thuộc EU, Nhật Bản, Nauy, Thụy Sĩ cho rằng đã có gia công
chế biến đầy đủ khi sản phẩm thuộc một hạng mục thuế quan khác hằn hạng
mục thuế quan của nguyên vật liệu làm ra sản phẩm đó. Ví dụ: gỗ xẻ thuộc
hạng mục HS 44.07; véc ni thuộc hạng mục HS 32.09, đinh thuộc hạng mục
HS 73.18...nhưng ghế bành thuộc hạng mục HS 94.03.[107].
- Các nước khác (như Australia, Canada, New Zealand, Nga và Đông
Âu) lại quy định tỷ trọng % tối đa của nguyên liệu nhập khẩu trong trị giá của
sản phẩm. Chẳng hạn, đối với Canada nếu trị giá nguyên liệu nhập khẩu
chiếm tối đa 40%, sản phẩm đó vẫn được coi là xuất xư từ nước được hưởng
ưu đãi GSP. [107]
1.3.2.3. Tiêu chuẩn xuất xứ cộng gộp.
Trong chương trình của một số nước cho hưởng GSP người ta cho phép
một sản phẩm có thể được sản xuất tại một nước được hưởng GSP nếu sản
phẩm đó được làm bằng nguyên liệu, thành phần nhập khẩu từ các nước được
hưởng khác. Việc hưởng qui chế xuất xứ cộng gộp được áp dụng theo phạm
vi và các điều kiện khác nhau:
- Chính sách cộng gộp toàn thể coi tất cả các nước được hưởng GSP như

chính sách khuyến khích để hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực
sản xuất nguyên phụ liệu tjừ đó có thể tăng dần tỷ lệ “nội địa hoá” của mặt
hàng này.
1.4.2. Giải quyết thêm việc làm.
Dân số và nguồn lao động dồi dào là sức mạnh của mỗi quốc gia. Nó là
một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đến năm 1995, cả nước có 73,2 triệu dân,
trong đó có 37 triệu người trong độ tuổi lao động. Bình quân mỗi năm tăng
trên 1 triệu lao động. Trong mấy năm gần đây tỷ lệ thất nghiệp nước ta tăng
liên tục từ 5,88% năm 1996 đến 7,4% năm 1999 [69,7]. Vì vậy, yêu cầu giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động càng cấp bách.
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy ngành dệt may là một
ngành “xốp”, tức là có khả năng thu hút lớn nguồn lao động trong xã hội, đó
là chưa kể lao động làm trong các ngành có liên quan như sản xuất phụ liệu,
hoá chất, trồng bông, trồng dâu nuôi tằm... Ví dụ khi mở thêm một ha bông
vải sẽ tạo được việc làm cho 7 - 8 người lao động [114].
Sử dụng lao động trong ngành may của các nước Châu á.
Tên nước Số lượng cơ sở may Số lao động ngành may
Trung Quốc 35.000 3.000.000
Hồng Kông 9.500 250.000
Đài Loan 3.002 77.000
Hàn Quốc 5.792 193.305
Thái Lan 2.000 830.000
Nguồn: VINATEX.
“Đối với ngành dệt may Việt Nam hiện nay thu hút trên 800.000 [8] lao
động, tuy nhiên nếu chúng ta thực hiện thành công việc nâng cao tỷ lệ “nội
địa hoá” đối với mặt hàng này thì sẽ giải quyết được thêm một lượng lớn lao
động trong các ngành có liên quan”.
1.4.3. Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ
Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ là hai chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu

tiêu tiết kiệm ngoại tệ luôn ở mức âm trong hai năm 1996 và 1997 tương ứng
là - 119,3 và - 358,7 triệu USD song sang năm 1998, do việc tỷ lệ sử dụng
nguyên liệu trong nước tăng nên tiết kiệm ngoại tệ tăng lên đáng kể đạt 270,8
triệu USD.
Thực tế, nếu chúng ta liên kết tốt giữa các ngành bông - sợi - dệt - may
trong nước thì giá trị thực thu ngoai tệ và tiết kiệm ngoại tệ nhằm kiềm chế
nhập siêu ở mức dự kiến và đảm bảo an toàn cho cán cân thanh toán quốc tế.
1.4.4. Nâng cao khả năng cạnh tranh xuất khẩu của hàng dệt may
Đối với ngành dệt may, nếu chỉ chú trọng trong việc đầu tư đổi mới công
nghệ, thiết bị thì chưa đủ mà chúng ta cần quan tâm tới một vấn đề không
kém phần quan trọng, đó là giải quyết tốt nguồn nguyên liệu cho công nghiệp
dệt may. Bởi lẽ chính nguyên liệu là yếu tố quan trọng giải quyết sự cạnh
tranh cả về chất lượng và giá cả của sản phẩm dệt may Việt Nam trên thị
trường thế giới.
Chất lượng của sản phẩm dệt may trước hết phụ thuộc vào tính chất và
chất lượng của nguyên liệu làm ra nó. Mỗi loại nguyên liệu dệt, tuỳ thuộc vào
thành phần và cấu tạo của chúng sẽ có những tính chất và chất lượng nhất
định, tạo nên các giá trị sử dụng khác nhau cho sản phẩm dệt may. Vì vậy, tìm
mọi biện pháp nâng cao chất lượng xơ sợi cũng chính là nâng cao khả năng
cạnh tranh về chất lượng cho mặc hàng dệt may xuất khẩu.
Song sản phẩm dệt may của ta muốn cạnh tranh được trên thị trường thì
ngoài việc nâng cao chất lượng, còn phải hạ được giá thành, bởi sự cạnh tranh
về giá cả và chất lượng luôn là hai mặt cạnh tranh gay gắt quyết định sự thành
bại của các doanh nghiệp trên thương trường. Nên việc phấn đấu giảm chi phí
nguyên liệu xơ sợi là biện pháp hữu hiệu để giảm giá thành của các sản phẩm
dệt may, nhất là đối với ngành dệt may nước ta hiện nay, hầu hết các loại xơ
đều phải nhập khẩu.
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, một trong những đối thủ cạnh tranh
lớn nhất hàng dệt may Việt Nam hiện nay. Hàng dệt may của Trung Quốc có
sức cạnh tranh rất lớn về giá cả. Tính bình quân, giá bán sản phẩm dệt may

,7
118.096
,9
134.420,
7
157.223
,3
166.965,
3
Tổng kim ngạch xuất khẩu
(triệu USD)
5.448,9 7.255,9 9.185 9.360,3 11.540
Kim ngạch KX hàng dệt may
(triệu USD)
850 1.150 1.502,6 1.450 1.682
Nguồn: Niên giám thống kê 1999
Bắt đầu từ năm 1993, hàng dệt may Việt Nam đã chiếm vị trí thứ hai
trong 10 mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất cuả đất nước chỉ sau dầu khí.
Kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu thời kỳ từ 1992 - 1999
Mặt hàng Đơn vị 1992 1993 1995 1998 1999***
Dầu thô 1000 tấn 5.446 6.153 7.652 12.100 2.017
Hàng dệt may Tr. USD 190,2 238,8 850 1.350 1.682
Giày dép Tr. USD 5,2 68 296,4 9.600 1.406
Hàng thủy sản Tr. USD 307,7 427,2 621,4 8.590 979
Gạo 1000 tấn 1.946 1.722 1.988 3.800 1.035
Cà phê 1000 tấn 116,2 122,7 248,1 379 592
Cao su 1000 tấn 81,9 96,7 138,1 185 145
Hạt điều 1000 tấn 51,7 47,7 90 25,1* 94
Lạc nhân 1000 tấn 62,8 105,4 111 87 33
(*: hạt điều nhân **: giá trị - Tr. USD)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status