MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
***********
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trên thế giới, khối cộng đồng chung Châu Âu ( EU) là một khối liên
kết các nước mạnh nhất về kinh tế và trở thành một thị trường nhập khẩu rộng lớn
đặc biệt là những mặt hàng tiêu dùng trong đó có sản phẩm dệt may. Việc khai thác
hiệu quả thị trường này sẽ tạo ra được nhiều cơ hội và lợi ích cho Việt Nam như tăng
kim ngạch xuất khẩu, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong
ngành dệt may…. Từ lẽ đó, EU đã trở thành một đối tác quan trọng, một thị trường
tiềm năng của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam trong thời gian qua và những năm
sắp tới.
Đối với Việt Nam, ngành dệt may là một ngành truyền thống có từ lâu đời và
rất phát triển, đóng góp một tỷ trọng lớn vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước. Các
sản phẩm dệt may đã có mặt ở rất nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên đối với một số
thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản và đặc biệt là EU thì các mặt hàng dệt may của
Việt Nam vẫn gặp những trở ngại lớn.
Với một sân chơi lớn, một thị trường sôi động như EU, thì môi trường cạnh
tranh của các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt và khốc liệt. Nếu các doanh nghiệp
dệt may của Việt Nam không nhanh chóng có những giải pháp nâng cao sức cạnh
tranh thì sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi cuộc chơi của toàn thế giới. Để giải quyết
những vấn đề nan giải như hiện nay, đồng thời cung cấp, hỗ trợ cho các doanh nghiệp
có thêm được nhiều thông tin, giải pháp xác thực.. nhằm tăng cường sức cạnh tranh
vào thị trường EU, em đã quyết định chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao sức cạnh
tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường EU”. Hi vọng rằng
đề tài này sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam từng bước phát triển trong hoạt
động xuất khẩu sang thị trường EU và luôn giữ vững được vị trí đó trước những sức
ép cạnh tranh.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua việc phân tích thực trạng về sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất
1.1.1.1.Khái niệm cạnh tranh
Từ lâu, vấn đề cạnh tranh kinh tế về mặt lý luận đã được các nhà kinh tế học
trước Các Mác và chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã đề cập
đến. Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất và
trao đổi hàng hoá. Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác động của các qui
luật thị trường như qui luật giá trị, qui luật cung - cầu hay nói cách khác cạnh tranh là
một trong những qui luật cơ bản của nền kinh tế thị trường.
Theo C.Mác: “ Phân công xã hội khiến cho những người sản xuất hàng hoá
độc lập trở thành đối lập với nhau, họ không thừa nhận bất kỳ quyền uy nào khác mà
chỉ thừa nhận quyền uy của cạnh tranh, chỉ thừa nhận sự cưỡng chế của áp lực lợi
ích giữa họ với nhau đè nặng lên chính mình”
Ở nước ta, trong quá trình đổi mới nền kinh tế đã có sự thay đổi rất lớn về tư
duy, quan niệm về cạnh tranh. Cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực phát
triển cho nền kinh tế thị trường. Trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng cũng đã ghi
rõ: “Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành
mạnh, hợp pháp, văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước, chứ không phải
làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau”. Trong mục tiêu
tổng quát của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, Đảng ta khẳng định cần phải nâng cao rõ
rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thực tế do cách tiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau, nên có
rất nhiều những quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Tuy nhiên, trong đề tài nghiên
cứu này khái niệm cạnh tranh được nhìn nhận và đánh giá dưới góc độ sau: Cạnh
tranh là hành vi hoặc quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế của kinh tế thị trường,
cùng theo đuổi mục đích tối đa hoá lợi ích. Trong cạnh tranh, các chủ thể ganh đua
nhau tìm mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường các
mục tiêu này là chiếm lĩnh thị trường, giành giật khách hàng, cũng như các điều kiện
4
sản xuất và khu vực thị trường có lợi nhất.
1.1.1.2 Khái niệm về sức cạnh tranh
Điểm lại lý thuyết cạnh tranh và sức cạnh tranh trong lịch sử có thể thấy hai
5
triển của thể chế.
Theo công bố mới đây trong báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2006-2007
của Diễn đàn kinh tế thế giới, thứ hạng của Việt Nam xếp theo Chỉ số năng lực cạnh
tranh tổng hợp là 77 trên 125 quốc gia, Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng là 86.
Trong khi đó thứ hạng tương ứng theo các chỉ số trên của Việt Nam tại báo cáo năm
2005-2006 là 74 và 81. Như vậy, thứ hạng của Việt Nam theo các chỉ số năng lực
cạnh tranh tổng hợp và tăng trưởng năm 2006 đều sụt giảm so với năm 2005.
1.1.2.2. Sức cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp
Trong những năm vừa qua các doanh nghiệp của Việt Nam đang dần dần lớn
mạnh và đang trên đà phát triển. Song chúng ta vẫn nhận thấy còn rất nhiều vấn đề
đáng lo lắng và một trong những vấn đề đáng lưu tâm nhất hiện nay là về việc nâng
cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế. Để giải quyết
được vấn đề về sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kì hội nhập, chúng ta cần
phải nắm thật rõ khái niệm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thực chất sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo cách đơn giản nhất có thể hiểu
là “ khả năng nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được “. Vì
vậy khi thị phần tăng lên, cho thấy sức cạnh tranh cũng đựơc nâng cao. Sức cạnh
tranh của doanh nghiệp còn là khả năng hãng đã bán được hàng nhanh và nhiều hơn
so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trường cụ thể về một loại hàng hoá cụ thể.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của OECD định nghĩa sức cạnh
tranh là: “ khả năng của doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia hoặc khu vực tạo ra
thu nhập tương đối cao hơn và mức độ sử dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn đối
mặt với cạnh tranh quốc tế ”.
Trên thực tiễn ở Việt Nam, khi đánh giá về khả năng cạnh tranh tầm vi mô, các
so sánh quốc tế đều ghi nhận thành tựu trung bình của Việt Nam vào tốp 3 trong ngũ
phân vị (xếp thứ 38/80 nước), nhất là đánh giá tốt việc triển khai mạnh các dự án FDI
kèm theo chuyển giao công nghệ và việc thi hành Luật Doanh nghiệp, tạo điều kiện
thuận lợi cho khu vực ngoài Nhà nước phát triển bình đẳng vì sự nghiệp phát triển
đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lĩnh vực chỉ tiêu hiệu quả của Việt Nam còn rất
ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên đặt trong phạm vi bài nghiên cứu về các sản
phẩm xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, thì để đánh giá tổng quát về sức cạnh tranh
của hàng hóa chúng ta cần so sánh các sản phẩm đó với các đối thủ cạnh tranh dựa
trên những tiêu chí cơ bản như: doanh thu của sản phẩm, thị phần của sản phẩm, giá,
chi phí của sản phẩm, chất lượng sản phẩm, mức độ vệ sinh và uy tín của sản phẩm.
1.1.3.1. Mức doanh thu hàng dệt may xuất khẩu
Doanh thu của một sản phẩm nào đó qua các năm là một chỉ tiêu trực tiếp
7
phản ánh sức cạnh tranh của 1 loại hàng hóa, bởi số lượng tiêu thụ của hàng hóa thể
hiện sức hấp dẫn của nó trong mắt người tiêu dùng. Qua đó người ta có thể đánh giá
được sức cạnh tranh của hàng hóa này so với hàng hóa khác. Khi một hàng hóa được
tiêu thụ với số lượng nhiều hơn so với các hàng hóa cùng loại thì hàng hóa đó được
coi là có sức cạnh tranh cao trên thị trường đang xét.
Theo kinh tế học vi mô, doanh thu được xác định bởi công thức sau:
TR= P.Q
Trong đó
TR: Doanh thu
P : Giá của sản phẩm
Q : Lượng tiêu thụ sản phẩm.
1.1.3.2. Thị phần hàng dệt may xuất khẩu
Nếu một hàng hóa chiếm được một thị phần cao hơn so với các mặt hàng thay
thế cùng loại trên thị trường thì có thể tất yếu khẳng định sức cạnh tranh của hàng
hóa đó là rất cao. Hiện nay thị phần có thể được hiểu là thị phần trong nước và thị
phần chiếm lĩnh trên thế giới. Bên cạnh đó, một hàng hóa của một doanh nghiệp có
sức cạnh tranh lớn khi nó có khả năng thâm nhập và chiếm lĩnh được nhiều thị trường
khác nhau một cách nhanh hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác. Đặc biệt là phải
liên tục giữ vững và duy trì được thị phần của mình.
Để xác định qui mô thị trường thị phần, chúng ta có công thức tính thị phần của
hàng hóa xuất khẩu trên một thị trường như sau:
MS =
hai yếu tố này là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
giữa các đối thủ khác nhau trên cùng một thị trường hoặc ở các thị trường khác nhau.
Bằng việc sẽ tính được mức chênh lệch giữa giá bán và chi phí để từ đó có giải
pháp cân đối 2 yếu tố này một cách hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong việc
nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
1.1.3.4. Chất lượng hàng dệt may xuất khẩu
Tiêu chuẩn về chất lượng hàng hóa được qui định theo ISO9000. Nhằm đảm
bảo lợi ích cho người tiêu dùng, tránh tình trạng bị sử dụng những hàng hóa kém chất
lượng. Đây là hệ thống tiêu chuẩn quốc tế được coi là không bắt buộc, tuy nhiên các
sản phẩm khi được có bằng ISO 9000 sẽ nâng cao được sức cạnh tranh hơn rất nhiều
so với các sản phẩm khác. Bởi lẽ, điều đó thể hiện sự ổn định về chất lượng của sản
phẩm, sự minh bạch trong sản xuất của doanh nghiệp và tạo được lòng tin với người
tiêu dùng.
Bên cạnh hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, mỗi quốc gia đều có những
hệ thống đánh giá chất lượng sản phẩm riêng. Vì vậy, những sản phẩm ngoài việc có
bằng ISO 9000 còn có thể thực hiện việc công nhận các tiêu chuẩn chất lượng của
nước nhập khẩu để từ đó tạo được uy tín lớn hơn từ phía thị trường nhập khẩu.
1.1.3.5. Mức độ vệ sinh công nghiệp, đảm bảo môi trường của hàng dệt may
9
xuất khẩu
Hiện nay nhà nước và các tổ chức quốc tế đã đưa ra các qui định nhằm đánh
giá và đảm bảo an toàn cho người sử dụng hàng hóa, bảo vệ môi trường sinh thái và
tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong thương mại quốc tế. Các qui định này
thường được cụ thể hóa qua các tiêu chuẩn như sau:
Tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái: Được qui định trong tiêu chuẩn
ISO14000. Trong đó qui định đối với các cơ sở sản xuất ngoài việc đảm bảo chất
lượng sản phẩm còn phải có tránh nhiệm và các biện pháp giải quyết đối với các chất
phế thải gây ô nhiễm môi trường và việc khai thác nguồn nguyên liệu tránh tình trạng
mất cân bằng sinh thái.
Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội: là hệ thống tiêu chuẩn SA8000. Trong đó,
Sau đây là 3 công cụ chính:
1.1.4.1 Cạnh tranh bằng chất lượng hàng dệt may xuất khẩu
Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng
của các doanh nghiệp trên thị trường. Trong điều kiện hiện nay, mức sống của người
dân ngày càng đựơc nâng cao, tức là nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu
dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xu hướng thay vị trí cho sự
cạnh tranh bằng chất lượng.
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện
nhất định về kinh tế kỹ thuật thể hiện ở nhiều mặt khác. Do vậy để nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm, doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao
chất lượng sản phẩm như đáp ứng được đầy đủ tiêu chuẩn về chất lượng của nhà
nước, các tổ chức, các thị trường qui định.
Bên cạnh đó chất lượng sản phẩm còn phải đem lại lợi ích tiêu dùng tối đa và
đạt được kì vọng tối đa cho khách hàng. Khi đó người tiêu dùng sẽ tăng khối lượng
hàng hóa tiêu thụ, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Đó là điều kiện không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn giành được thắng lợi
trong cạnh tranh đi đầu về chất lượng. Khi chất lượng không còn được đảm bảo,
không thoả mãn nhu cầu khách hàng thì ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh
nghiệp và kết quả này sẽ thể hiện rõ ràng nhất sự tụt giảm sức cạnh tranh của hàng
hóa, và doanh nghiệp đó..
1.1.4.2. Cạnh tranh bằng giá bán hàng dệt may xuất khẩu
Giá cả sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán hay
doanh nghiệp bán dự định có thể nhận được từ người mua thông qua việc trao đổi
hàng hoá đó trên thị trường.Hiện nay, có rất nhiều cách để định giá bán sản phẩm.
Các cách thường sử dụng bao gồm:
Thứ nhất, chính sách định giá thấp là cách định giá bán thấp hơn mức giá thị
11
trường. Chính sách định giá thấp có thể hướng vào các mục tiêu khác nhau, tuỳ theo
tình hình sản xuất của thị trường và đựơc chia ra theo các cách khác nhau như: (1)
Định giá thấp hơn so với thị trường nhưng cao hơn giá trị sản phẩm(2) Định giá bán
đến người tiêu dùng sản phẩm ấy. Thông thường kênh tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp được chia thành: A là kênh trực tiếp ngắn, từ doanh nghiệp đưa sản phẩm đến
tay người tiêu dùng, B là kênh trực tiếp dài ( từ DN tới người bán lẻ, sau đó đến tay
người tiêu dùng), C là kênh gián tiếp ngắn ( từ DN tới các đại lý, tiếp đó phân tới các
người bán lẻ và sau cùng đến tay người tiêu dùng).
Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng. doanh nghiệp có thể tiến hành một
loạt các hoạt động hỗ trợ như: Tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng, tổ chức hội
nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh tế....
Cho đến nay, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm đang dần trở thành một chính sách
tốt và chiếm ưu thế, thậm trí quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trên thị
trường. Trước nhất là làm tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá thông qua việc thu hút sự
quan tâm của khách hàng tới sản phẩm của doanh nghiệp. Tiếp theo là cải thiện vị trí
hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường ( thương hiệu, chữ tín của doanh nghiệp).
Cuối cùng là mở rộng quan hệ làm ăn với các đối tác trên thị trường, phối hợp với
các chủ thể trong việc chi phối thị trường, chống hàng giả.
1.1.5. Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng dệt
may xuất khẩu
1.1.5.1. Đặc điểm của hàng dệt may xuất khẩu
Đặc trưng của sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có yêu cầu mặt hàng phong
phú, đa dạng tùy thuộc vào thị hiếu, văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, địa lý,
khí hậu, giới tính, tuổi tác và thu nhập của người tiêu dùng của thị trường nhập khẩu.
Sản phẩm dệt may xuất khẩu mang tính thời trang cao, vì vậy phải thường
xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng được tâm lý
chuộng cái mới, có những nét độc đáo riêng và gây ấn tượng đối với người tiêu dùng.
Ngoài ra, khi buôn bán các sản phẩm dệt may còn rất chú trọng đến yếu tố
thời vụ trong năm. Vì hàng hóa xuất khẩu đến các thị trường khác nhau thì có thời
tiết và khí hậu khác nhau.
Dệt may còn là ngành thu được lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn tương đối
nhanh do qui mô vốn đầu tư thấp ( ngành may là 2,6triệu USD/dự án, ngành dệt đạt
trên 16triệu USD/dự án).
độ tiêu dùng của khách hàng bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thu nhập của chính
bản thân họ và chỉ khi đạt được cả 2 điều kiện là đạt lợi ích tiêu dùng và trong giới
hạn ngân sách cho phép. Khi đó khách hàng mới chấp nhận trao đổi buôn bán.
Cho đến nay, qua quá trình so sánh, giá hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam
luôn đạt ở mức giá khá cao so với các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc - một nước
14
xuất khẩu hàng dệt may giá rẻ hàng đầu trên thế giới. Chính điều đó đã là nhân tố tác
động lớn đến sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam, khiến sức cạnh tranh của
mặt hàng này luôn giữ ở vị trí trung bình khó đứng vững trên thị trường đầy biến
động như hiện nay.
c.Thế giới là tập hợp của hàng trăm quốc gia khác nhau.Mỗi quốc gia lại mang
những đặc trưng văn hóa và thị hiếu tiêu dùng khác nhau.
Sức mua của hàng hóa thể hiện sức hấp dẫn và mức độ ưa thích của người tiêu
dùng đến sản phẩm đó.Khi sản phẩm phù hợp với thị hiếu, phong cách và xu hướng
tiêu dùng của họ thì tỉ lệ phần trăm họ lựa chọn mua sản phẩm sẽ khá cao.
Mặt khác, một doanh nghiệp khi tham gia vào một thị trường mới thì việc
nghiên cứu thị trường để từ đó hình thành một hệ thống, nắm bắt được tổng hợp các
xu hướng tiêu.Việc nghiên cứu này, sẽ giúp cho doanh nghiệp hiểu rất rõ việc mình
phải làm, cần làm, để đạt được mục tiêu và thị phần trên thị trường, và nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm.
d. Yếu tố thời tiết cũng là một trong những yếu tố rất đặc trưng của hàng dệt
may xuất khẩu
Như đã đề cập ở trên, thế giới là tổng hòa của rất nhiều những yếu tố khác nhau
cấu thành. Mỗi nước lại có một khí hậu thời tiết riêng biệt. Vì vậy yếu tố thời vụ
đóng vai trò hết sức quan trọng đối với hàng dệt may xuất khẩu. Thời tiết của mỗi
quốc gia nhập khẩu sẽ liên quan đến chủng loại mặt hàng dệt may sử dụng trên thị
trường. Chúng ta sẽ chỉ đạt được hiệu quả doanh thu cao, một sức cạnh tranh lớn khi
hiểu biết rõ về khí hậu luân chuyển của thị trường đang hướng tới.
Ngoài ra, một vấn đề cũng rất đáng chú ý là sự chậm trễ trong việc vận
chuyển. Sẽ dẫn tới một trường hợp không mong muốn là khi hàng dệt may được
công nghiệp có triển vọng và được Chính phủ quan tâm hỗ trợ . Indonesia là nước có
số lượng sản phẩm dệt may đứng thứ ba sau Trung quốc và Ấn độ, hàng may mặc
xuất khẩu chiếm thị phần 1,7% ( xếp thứ 9) và có mặt ở trên 200 nước. Sự phát triển
của ngành dệt may xuất khẩu của Inđonêxia trong thời gian qua là nhờ vào những
chiến lược đúng đắn của nhà nước, bao gồm:
Chiến lược thứ nhất là cơ cấu lại máy móc tại các nhà máy do máy móc quá cũ
hoặc lạc hậu. Để thực hiện chiến lược này Bộ Công nghiệp Indonesia và Ngân hàng
Trung ương Indonesia (BI) đã thành lập một nhóm công tác nhằm tìm cách đổi nguồn
vốn ngắn hạn hiện có tại BI thành nguồn vốn trung và dài hạn thông qua các kỹ thuật
ứng dụng tài chính do việc tái cơ cấu máy móc cần các nguồn vốn trung và dài hạn.
Đây là một bước tiến nhảy vọt về công nghệ, nhằm bắt kịp với sự thay đổi chóng mặt
của các công nghệ hiện đại trên thế giới.
16
Bước chiến lược thứ hai, chính phủ sẽ hỗ trợ bảo đảm việc cung cấp các nguyên
vật liệu chính cho ngành dệt may, trong đó có các sản phẩm hoá dầu hiện khá khan
hiếm. Việc làm này đã giúp các doanh nghiệp phần nào giảm đi được gánh nặng về
chí phí nguyên vật liệu sản xuất. Từ đó, tăng mức chênh lệch giữa giá cả và chi phí
và đem lại tác động tích cực đến sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may trên thế giới.
Thứ ba, chính phủ nỗ lực nhằm bảo hộ ngành công nghiệp trong nước trước
môi trường kinh doanh không lành mạnh như buôn, nhập lậu ồ ạt hàng may mặc. Ông
Fahmi cho rằng, cần siết chặt cơ chế nhập khẩu hiện nay và yêu cầu số hàng hoá này
phải đi qua “ cửa đỏ “ của hải quan ( hàng hoá cần khai báo). Bộ Công nghiệp nước
này cũng tìm cách ngăn chặn hiện tượng chuyển tải “ ma” các sản phẩm may mặc
của Trung Quốc qua Indonesia, nghĩa là chỉ các chứng từ xuất khẩu “ quá cảnh” của
Indonesia, trong khi hàng hoá lại được xuất thẳng từ Trung Quốc. Để ngăn chặn tình
trạng này, Bộ Công nghiệp đã hợp tác với các cơ quan liên quan nhằm thẩm tra xem
hàng hoá có thực sự được xuất khẩu từ Indonesia hay không và đánh giá mức độ
buôn lậu dưới hình thức quá cảnh. Đây là một hình thức bảo vệ các ngành sản xuất
trong nước, để tạo nên một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp
trong nước, và từ đó tạo đà cho các doanh nghiệp tăng sức bật cạnh tranh so với các
tranh. Kết quả của sự chuẩn bị này đã nâng mức kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của Trung Quốc lên 50 tỷ USD trong năm 2000, tăng 30% so năm 1999. Năm 2003
đạt khoảng 70 tỷ USD, tăng 12% so năm 2002. Nếu các nước nhập khẩu không có
những rào cản mới Trung Quốc có thể dễ dàng đạt 100 tỷ USD (không kể Hồng
Kông và Ma Cao) trong tổng kim ngạch thương mại dệt may thế giới 350 tỷ USD vào
năm 2005.
Dù các nước nhập khẩu có Luật Chống bán phá giá hoặc có điều khoản “tự vệ
đặc biệt” có thể áp đặt hạn ngạch khi cần thiết như Hoa Kỳ, song cũng không mấy dễ
dàng cản trở Trung Quốc, vì nước này đã trở thành thành viên của WTO, nhiều DN
Hoa Kỳ đã đầu tư vào Trung Quốc. Việc chống lại hàng dệt may Trung Quốc khi đó
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính quyền lợi của người Mỹ.Các nhà phân tích khẳng
định, kể cả Mỹ và EU cũng không thể ngăn chặn được Trung Quốc chiếm lĩnh thị
trường dệt may trong những thập kỷ tới như Nhật Bản hiện nay (khoảng 80% thị
phần).
1.1.6.3 Chính sách và kinh nghiệm của một số nước khác
Một số nước có khả năng cạnh tranh hàng dệt may cao cũng đã có sự chuẩn bị
cho mình. Để có được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, bài nghiên cứu
tổng hợp một số chính sách đặc trưng của một số nước như Ấn Độ, Parkistan,
ASEAN...như sau
18
Ấn Độ với mức xuất khẩu mặt hàng dệt may sang EU chiếm 27,38% trong tổng
lượng hàng xuất khẩu, hiện đang triển khai chương trình hiện đại hóa ngành dệt với
giá trị 6 tỷ USD, điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Dự kiến năm 2010
xuất khẩu 50 tỷ USD, trong đó 50% là hàng dệt, 50% là hàng may mặc.
Tiếp đến là Pakistan, nước có nguồn nguyên liệu bông dồi dào và ngành công
nghiệp dệt phát triển, chiếm tới 46% sản lượng công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may năm 2002 đạt 7,17 tỷ USD, chiếm trên 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu.
Từ năm 1998, 1999 nước này đã có những chính sách đầu tư mới, đổi mới công
nghệ, hiện đang triển khai xây dựng các khu “đô thị dệt” ở một số thành phố lớn. Dự
kiến sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 13,8 tỷ USD vào năm 2005.
may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU được bãi bỏ hoàn toàn hạn ngạch
thì việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may lại càng trở nên vô cùng cần thiết.
Bởi các nguyên nhân chính sau đây:
1.2.1 Vai trò to lớn của hàng dệt may xuất khẩu đối với Việt Nam
Thực tế cho thấy, hàng dệt may xuất khẩu đóng một vai trò rất quan trọng
trong nền kinh tế Việt Nam được biểu hiện qua các mặt sau:
1.2.1.1 Là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam
Do đặc điểm rất thuận lợi như thời gian thu hồi vốn nhanh do qui mô vốn đầu
tư thấp, công nghệ đơn giản, đặc biệt với nguồn lao động khéo léo, dệt may được coi
là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Nam trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ số 55/2001/QĐ-TT đã xác định phát triển ngành Dệt May trở thành một
trong những ngành trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu và trở thành lợi thế của Việt
Nam.
1.2.1.2 Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
Với đặc trưng riêng của ngành là sử dụng nhiều lao động với quá trình đào tạo
nhanh đã có thể đi vào sản xuất. Trong khi Việt Nam lại là nước có nguồn lao động
dư thừa rất nhiều và đặc điểm chung là khá khéo léo. Do vậy, đây là một trong những
ngành thu hút được nhiều công việc nhất. Theo thống kê của Hiệp hội Dệt May Việt
Nam, hiện có khoảng 2 triệu lao động đang làm việc trong ngành dệt may(chưa kể lao
động gián tiếp, làm việc theo lĩnh vực cung cấp nguyên liệu như trồng bông, trồng
dâu tằm) chiếm một tỉ trọng tương đối lớn trong các ngành công nghiệp.
1.2.1.3 Góp phần mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế
Kể từ khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa sau thời kì tập trung bao cấp, nhà
nước đã đưa ra mục tiêu mở rộng mối quan hệ với các nước trên thế giới trên mọi
20
lĩnh vực kinh tế - xã hội. Cho đến nay, quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế ngày
một trở nên sâu đậm và đạt được những kết quả như mong muốn, và thành tựu lớn
nhất chính là việc Việt Nam gia nhập tổ chức WTO. Để có được những thành công
đáng kể như thế thì hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu hàng
dịch vụ giữa Việt Nam và EU đã được mở hoàn toàn. Việt Nam và EU đã kết thúc
đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới từ
năm 2004.
Những năm gần đây, cộng đồng người Việt tại các nước EU cũng là một cầu
nối tích cực trong quan hệ thương mại giữa hai bên. Hàng năm, cộng đồng người
Việt tại EU đã nhập khẩu một lượng hàng Việt Nam để bán tại các trung tâm thương
mại và các cơ sở kinh doanh của người Việt tại các nước này. Với tiềm năng lớn và
những thuận lợi trong quan hệ thương mại như vậy, việc xuất khẩu hàng dệt may
sang thị trường EU đã và đang trở thành mục tiêu và mối quan tâm của các đơn vị, tổ
chức của Việt Nam.
1.2.2.2. EU là một thị trường lớn, có nhu cầu đa dạng
Theo các chuyên gia Vụ Xuất nhập khẩu, đặc điểm của khu vực thị trường EU
là nhiều thị trường “ngách” có mức sống và nhu cầu hàng dệt may rất đa dạng từ
hàng có phẩm cấp thấp đến hàng có chất lượng cao phù hợp năng lực sản xuất nhiều
thành phần của Việt Nam. Bên cạnh đó, EU là khối thương mại chung lớn nhất thế
giới gồm có 27 quốc gia với lượng dân số là 453 triệu người, hoạt động các nước
trong nội khối giao thương buôn bán liên thông với nhau. Vì vậy, hàng hoá một khi
thâm nhập vào được một thị trường bất kì nào trong khối sẽ dễ dàng tiếp cận được
với các thị trường còn lại.Vì vậy EU là một thị trường tiêu thụ rất lớn và vô cùng hấp
dẫn với các doanh nghiệp và các quốc gia.
1.2.2.3. Cơ cấu kinh tế EU đang có xu hướng chuyển dịch theo hướng tăng
nhập khẩu hàng dệt may.
Do có trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao nên những mặt
hàng mà các nước EU có thế mạnh và có tính cạnh tranh cao hầu hết thuộc các ngành
công nghiệp cơ khí, chế tạo, hóa chất, giao thông vận tải, hàng không, dược phẩm,
mỹ phẩm cao cấp, thực phẩm, đồ uống và dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị
gia tăng lớn. Nhu cầu nhập khẩu của EU phần lớn là nguyên, nhiên vật liệu, hàng thủ
công mỹ nghệ, giầy dép, dệt may,… chiếm 52,3% tổng sản lượng nhập khẩu của
EU(bảng 2.1). Điều đó thể hiện rõ sự chuyển dịch theo hướng gia tăng nhập khẩu
hàng dệt may trong cơ cấu kinh tế của EU
thiện. Thúc đẩy tiến trình cải cách của Việt Nam đồng bộ hơn tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp có tiền đề tốt để thực hiện hoạt động xuất khẩu có hiệu quả.
Cơ hội lớn khi Việt Nam gia nhập WTO là việc thay đổi chính sách quản lý,
điều hành nền kinh tế theo hướng rõ ràng hơn, giảm dần sự phân biệt đối xử giữa các
thành phần kinh tế.
1.2.3.2 Những thách thức đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam
Thách thức đầu tiên đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam là kim
ngạch xuất khẩu thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của Việt Nam. Theo số liệu
thống kê, trong những giai đoạn 2005 – 2008 kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may
23
đã đạt trên 1tỷ USD. Tuy nhiên, nếu so sánh tổng thể và so sánh với các nước khác,
ta thấy rằng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng mà
chúng ta đang có như nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ nhất so với các nước
xuất khẩu dệt may.
Năm 2005 bãi bỏ quota tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu được cạnh
tranh bình đẳng. Tuy nhiên, với khách hàng khó tính như EU, các nhà doanh nghiệp
Việt Nam vẫn phải e dè bởi chất lượng và yêu cầu đòi hỏi của thị trường EU phức tạp
và cầu kỳ. Trong khi đó, chất lượng hàng dệt may của Việt Nam hiện nay chỉ đạt
mức độ trung bình và chỉ đáp ứng được nhóm khách hàng cấp 2, và cấp 3 của thị
trường EU.
Ngành dệt may Việt Nam vẫn đang có nhiều khó khăn, thách thức để phát
triển bền vững ở thị trường EU. Khó khăn khi các ngành công nghiệp phụ trợ chưa
phát triển tương xứng do thiếu công nghiệp phụ trợ nên ngành dệt may Việt Nam gần
như phụ thuộc vào thị trường thế giới cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu. Cho đến thời điểm
này, ngành dệt may phải nhập khẩu với tỷ lệ lớn như: 100% máy móc thiết bị; 100%
xơ sợi hoá học: 90% bông xơ thiên nhiên; 70% vải các loại; 67% sợi dệt cũng là nhập
khẩu. Từ số liệu trên có thể thấy, ngành dệt may Việt Nam đang “đi trên đôi chân của
người khác”. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế khả năng cạnh
tranh quốc tế của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam so với các cường quốc xuất
khẩu dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan.
THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG EU
2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ QUI ĐỊNH CỦA THỊ TRƯỜNG EU
ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY NHẬP KHẨU
2.1.1 Giới thiệu chung về EU
Ngày 1-1-1994 Cộng đồng Châu Âu ( EC ) đổi tên thành liên minh Châu Âu
(EU). Cộng đồng Châu Âu ( EU) có trụ sở đạt tại Brucxen - thủ đô của Bỉ. Với sự
phát triển không ngừng về kinh tế - xã hội, khối cộng đồng chung EU liên tục mở
rộng qui mô và cho đến ngày 1/1/2007 số lượng thành viên đã tăng lên 27 thành viên
với Rumania, Bulgaria.
Lĩnh vực quan trọng nhất cho quá trình hợp nhất hoá của các thành viên có ảnh
25