MỤC LỤC
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam khép lại năm 2011 với chỉ số VN-Index ở
mốc 351,55điểm, giảm 27,46%; HNX-Index đóng cửa ở mốc 58,74 điểm, giảm 48,6%,
xuống mức thấp nhất trong lịch sử. Mặc dù đang gặp rất nhiều khó khăn xuất phát từ
nhiều khía cạnh như ảnh hưởng của bối cảnh khó khăn chung của kinh tế trong, ngoài
nước hay do chính từ những vấn đề nội tại, bất cập của thị trường chứng khoán Việt
Nam nhưng với quan điểm của các cơ quan quản lý Nhà nước thì thị trường chứng
khoán vẫn được xem là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế
nước ta. Do đó, nhiệm vụ cần phải đề ra trong thời gian tới là vực dậy, tiếp tục thúc
đẩy phát triển và hoàn thiện thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tiếp cận vấn đề từ việc đánh giá thực trạng của thị trường chứng khoán Việt
Nam hiện nay, qua đó kiến nghị một số giải pháp nhằm vực dậy và phát triển thị
trường chứng khoán trong thời gian tới, đề tài của nhóm được phân chia như sau:
− Phần 1: Lý thuyết về thị trường chứng khoán;
− Phần 2: Thực trạng thị trường chứng khoán tại Việt Nam hiện nay;
− Phần 3: Các giải pháp kiện toàn thị trường chứng khoán Việt Nam trong
thời gian tới.
Bài thảo luận nhóm 2 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ THUYẾT CĂN BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN (TTCK)
1.1 Cơ sở hình thành thị trường chứng khoán
Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích vốn trong xã hội tăng lên và
trở nên đa dạng, phong phú; người thì cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư,
người thì có vốn nhàn rỗi muốn cho vay để sinh lời. Đầu tiên, họ tìm gặp nhau trực
tiếp trên cơ sở quen biết. Tuy nhiên sau đó, khi cung cầu vốn không ngừng tăng lên thì
hình thức vay, cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ quen biết không đáp ứng được. Vậy
cần phải có một thị trường cho cung và cầu gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu tài chính
của nhau – đó là thị trường tài chính.
thặng dư vốn sang chủ thể thiếu vốn. Là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung cầu
của vốn đầu tư mà ở đó giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn
hay giá cả của vốn đầu tư. TTCK là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và
lưu thông hàng hóa.
1.2.3 Cơ cấu tổ chức của thị trường chứng khoán:
Bất cứ một TTCK nào của bất cứ nước nào, dù mới thành lập hay đã phát triển,
đều cấu thành bởi hai bộ phận thị trường có tổ chức khác nhau:
- Thị trường sơ cấp (primary market) là giai đoạn khởi đầu của TTCK.
Đây là nơi mua bán những chứng khoán mới phát hành. Vì vậy, trong thực tế thị
trường sơ cấp còn được gọi là thị trường phát hành chứng khoán. Nguồn vốn chủ yếu
của thị trường này là nguồn tiết kiệm của công chúng cũng như một số tổ chức phi tài
chính. Như vậy thị trường sơ cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của TTCK đó là
chức năng kinh tế: mang nguồn tiền nhàn rỗi đến cho người cần sử dụng, đưa nguồn
tiết kiệm vào công cuộc đầu tư. Vai trò của thị trường sơ cấp là tạo ra hàng hóa cho thị
trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế.
- Thị trường thứ cấp (secondary market) còn được gọi là thị trường cấp
hai, là nơi giao dịch mua bán các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ
cấp và là một bộ phận quan trọng của TTCK, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp.
Những chứng khoán giao dịch ở đây có thể được mua đi bán lại nhiều lần với giá cả
cao thấp khác nhau. Vì vậy trong thực tế, thị trường thứ cấp còn được gọi là thị trường
giao dịch luân chuyển chứng khoán, là nơi chủ yếu tạo điều kiện trao đổi chứng khoán
“cũ”, mà chủ sở hữu của chúng lúc này nhà đầu tư, chứ không phải là của công ty phát
hành, càng không phải của Sở giao dịch. Thị trường thứ cấp thực hiện các chức năng:
tạo dễ dàng để bán những công cụ tài chính nhằm thu tiền mặt, lấy ngân quỹ, tức là tạo
Bài thảo luận nhóm 4 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
cho các công cụtài chính tăng cao tính thanh khoản; kiếm lời từ việc nắm giữ chứng
khoán; xác định giá chứng khoán hợp lý trên cơ sở đấu giá tự do (cạnh tranh hoàn
hảo); giá hợp lý trên thị trường thứ cấp ảnh hưởng đến giá phát hành chứng khoán trên
thị trường sơ cấp.
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
khoán niêm yết thông qua thương lượng. Các thương vụ được thu xếp bởi các công ty
chứng khoán là nhà tạo giá của thị trường OTC, các công ty này phải đăng ký và được
phép mua bán lô lớn chứng khoán niêm yết.
- Thị trường thứ tư: để tạo thuận lợi cho các tổ chức tài chính chuyên
nghiệp có điều kiện trực tiếp mua bán chứng khoán cho tổ chức của mình, các thị
trường lớn có lập ra một mạng giao dịch nội bộ gọi là “INSTINET” phục vụ cho việc
giao dịch các khối lượng lớn chứng khoán giữa họ với nhau. Cả loại niêm yết trên sàn
hoặc loại mua bán OTC đều có thể đem ra giao dịch. Các tổ chức tham gia vào mạng
này thường là các ngân hàng, các quỹ hỗ tương đầu tư, các đại diện quản lý quỹ hưu trí
và nhiều tổ chức khác tùy theo quy định.
1.3.2 Căn cứ vào địa điểm phát hành
Theo căn cứ vào địa điểm phát hành, thị trường chứng khoán được chia làm hai
loại:
- TTCK chính thức – Sở giao dịch chứng khoán còn gọi là TTCK tập
trung như đã trình bày ởtrên.
- TTCK phi chính thức gồm có 2 loại: một là TTCK bán tập trung, một là
thị trường thứ ba cũngđã trình bày ở trên.
1.3.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch
Theo căn cứ vào phương thức giao dịch, thị trường chứng khoán được chia làm
2 loại:
- Thị trường giao ngay: còn gọi là thị trường thời điểm, có nghĩa là thị
trường giao dịch mua bán theo giá của ngày hôm đó. Còn việc thanh toán và giao hoán
sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày tùy theo mỗi TTCK quy định riêng số ngày này.
- Thị trường tương lai: là thị trường mua bán chứng khoán theo những hợp
đồng mà giá cả được thỏa thuận ngay trong ngày giao dịch, nhưng việc thanh toán và
giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định ở tương lai (có thể là 1 tháng, 6 tháng
hay 1 năm…).
1.3.4 Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hóa lưu hành trên thị trường chứng
khoán
khoán với số lượng lớn trên thị trường. Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị
trường là các ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán, công ty đầu tư, các
công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ…
1.4.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán: là các doanh nghiệp hoạt động theo quy định của
Pháp luật hoạt động trên TTCK. Tùy theo số vốn điều lệ và nội dung trong đăng ký
kinh doanh mà công ty chứngkhoán có thể thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ kinh
doanh chứng khoán như: môi giới chứng khoán, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư,
bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư và lưu ký chứng khoán.
- Các ngân hàng thương mại: ở một số nước các ngân hàng thương mại có
thể sử dụng vốn tự có để tăng và đa dạng hóa lợi nhuận qua việc đầu tư vào chứng
Bài thảo luận nhóm 7 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
khoán. Ở Việt Nam, các ngân hàng thương mại thành lập các công ty con chuyên
doanh trong hoạt động kinh doanh chứng khoán.
- Các trung gian tài chính khác như quỹ đầu tư, …
1.4.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước: nhận thấy cần thiết phải có một cơ quan bảo
vệ lợi ích của các nhà đầu tư và đảm bảo cho TTCK hoạt động một cách thông suốt
cũng như việc thanh tra giám sát hoạt động của các chủ thể trên thị trường chính là
việc cần thiết phải có một cơ quan thực hiện các nhiệm vụ trên. Ở Việt Nam có Ủy ban
chứng khoán nhà nước thuộc Bộ Tài Chính.
- Sở giao dịch chứng khoán: Sở giao dịch chứng khoán thực hiện việc vận
hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ
cho các họat động giao dịch trên Sở giao dịch. Ngoài ra, Sở giao dịch cũng ban hành
những quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch trên Sở giao dịch phù hợp với quy
định của Pháp luật.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là một tổ chức tự quản và
thường thực hiện một số chức năng chính sau: khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh
doanh chứng khoán, ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở của
trực tiếp đấu giá.
− Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập
vào hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán. Hệ thống máy chủ này sẽ xác
định mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối luợng cao nhất.
1.5.3 Nguyên tắc công khai:
Tất cả các hoạt động trên TTCK đều phải đảm bảo tính công khai. Sở giao dịch
chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị trường. Các tổ
chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công
ty, các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc,
người quản lý, cổ đông đa số. Các thông tin càng được công bố công khai minh bạch,
thì càng thu hút đuợc nhà đầu tư tham gia vào TTCK.
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình
thành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Do đó, ở hầu hết
các nước trên thế giới hiệnnay, mỗi nước chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy
nhất (tuy nhiên, người dân mọi miền đất nước đều có thể tiếp cận thị trường thông qua
các phòng giao dịch của công ty chứng khoán mở tới các điểm dân cư).Một số nước
khác còn tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử để lại thì đều nối mạng với
nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt.
Bài thảo luận nhóm 9 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam
Đối với các nước phát triển, các chỉ báo của TTCK được xem như là một công
cụ phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và khá chính xác nhất. Chính
vì vậy, TTCK luôn được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế.TTCK Việt Nam trải qua
hơn 10 năm xây dựng và phát triển (từ năm 2000 đến năm 2011) đã từng bước khẳng
định vai trò của nó như là một kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế bổ sung cho
hệ thống ngân hàng. Có thể sơ lược lịch sử hình thành TTCK Việt Nam như sau:
2.1.1 Diễn biến thị trường chứng khoán giai đoạn 2000-2005
2.1.3 Diễn biến thị trường chứng khoán 2009
Từ ngày 01/01/2009 đến 31/12/2009 VN-Index tăng thêm 171,96 điểm từ
312,49 điểm lên đến 494,77 điểm tương đương với mức tăng là 58%. Nếu tính từ đáy
thấp nhất trong năm khi VN-Index ở mốc 234,66 điểm vào ngày 24/02/2009 và đỉnh
cao nhất là 633,21 điểm vào ngày 23/10/2009 thì VN-Index đã tăng 2,69 lần. Tương tự
ở sàn HNX mức tăng trưởng trong năm 2009 của HNX-Index là 60,9%; và nếu so từ
đáy thấp nhất 78,06 điểm lên đỉnh cao nhất trong năm 218,38 điểm thì HNX-Index đã
tăng 2,79 lần.
Tính đến cuối năm 2009, đã có 541 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả hai
sàn giao dịch chứng khoán và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, với tổng giá trị
niêm yết đạt 127,489 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5 lần so với cuối năm 2005. Tổng giá trị
vốn hóa thị trường tính từ thời điểm ngày 31/12/2009 ước đạt 620,551 nghìn tỷ đồng
tương đương với gần 38% GDP cả năm 2009.
2.1.4 Diễn biến thị trường chứng khoán 2010
Sang đến năm 2010, xu hướng thị trường được chia làm 04 giai đoạn chính:
− Giai đoạn 1 (từ 10/01-11/04): giảm nhẹ, đi ngang xen kẽ các đợt tăng
nhẹ. TTCK mở cửa năm 2010, với liên tiếp các phiên giảm điểm ảnh hưởng bởi thông
tin không chính thức từ việc tăng lãi suất cơ bản, VN-Index rơi mạnh từ 530 xuống
còn 478 điểm. Tiếp đó, VN-Index tăng quay lại ngưỡng 530 do được hỗ trợ bởi thông
tin lãi suất cơ bản vẫn được giữ ở mức 8% và việc phát hành thành công 1 tỷ USD trái
phiếu chính phủ tại thị trường Mỹ. Kỳ vọng về kết quả kinh quý I của các doanh
nghiệp khiến VN-Index tăng nhẹ trở lại vào cuối tháng tư.
− Giai đoạn 2 (từ 11/05-11/08): giảm, đi ngang và giảm mạnh. Đầu tháng
5, VN-Index đột ngột quay đầu giảm điểm do ảnh hưởng từ khủng khoảng nợ châu Âu
lan rộng mà khơi ngòi là Hy Lạp. Tiếp đó, tin đồn về thông tư 13 ra đời đã kiến cho
VN-Index tiếp tục rơi. Từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 7, VN-Index lình xình đi ngang,
một phần bị ảnh hưởng lớn bởi số lượng cổ phiếu niêm yết bổ sung và niêm yết mới.
Trong giai đoạn này có khoảng 3.058.308.677 cổ phiếu được đưa vào giao dịch chiếm
khoảng 43% tổng số cổ phiếu niêm yết bổ sung và niêm yết mới năm 2010. Vào cuối
tháng 7, VN-Index tiếp tục bị giáng một đòn khá mạnh từ thông tin chính phủ quyết
các nhà đầu tư. Chốt phiên ngày 30/12/2011, VN Index và HNX Index lần lượt đóng
cửa ở 351,55 và58,74 điểm, như vậy so với đầu năm 2011 sàn Hồ Chí Minh đã giảm
mạnh 27,46% còn sàn Hà Nội thì lao dốc đến hơn 48,6%. Thanh khoản của TTCK
cũng giảm mạnh, so vớicon số của năm 2010 thì giá trị trung bình của mỗi phiên giao
dịch của mỗi sàn đều sụt giảm mạnh đến xấp xỉ 60%.
Bài thảo luận nhóm 13 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
Hình 2.3: VN-Index và HNX-Index trong năm 2011
(Nguồn: VCBS tổng hợp)
Phần đông các công ty chứng khoán (CTCK) gặp khó khăn và chịu thua lỗ
trong năm2011: cùng với sự sụt giảm cả về điểm số lẫn giá trị giao dịch của TTCK
Việt Nam thì, theo thống kê chưa đầy đủ, trong năm 2011, số lượng công ty chứng
khoán chịu thua lỗ chiếm ưu thế áp đảo. Trong số hiếm hoi những công ty có lợi nhuận
thì các khoản này chủ yếu đến từ mảng kinh doanh khác ngoài dịch vụ môi giới cũng
như tự doanh. Tính đến thời điểm hiện tại có khoảng 105 CTCK đang hoạt động thì
hơn 80% con số này phải đối diện với Báo cáo tài chính lợi nhuận âm khi doanh thu
sụt giảm trong khi chi phí lại đội lên cao. 1.400 tỷ đồng là số tiền mà 18/27 CTCK
niêm yết ghi lỗ trong 09 tháng đầu năm2011. Để tiếp tục tồn tại, một số công ty đã
phải cắt giảm nhân sự thậm chí là loại bỏ một số nghiệp vụ, trong đó có môi giới cụ
thể như trường hợp của CTCK SME, chứng khoán Gia Anh, chứng khoán Đông
Dương, chứng khoán Hà Nội… và lấn sân sang lĩnh vực bất động sản, như CTCK Kim
Long (KLS), CTCK Sài Gòn (SSI)… hoặc chuyển tiền gửi tiết kiệm ngân hàng. Các
CTCK không kiểm soát chặt chẽ quy trình nội bộ và quản lý rủi ro, dẫn đến thời điểm
thanh toán không chuyển đủ tiền thanh toán vào tài khoản. Điển hình cho hiện tượng
này trong thời gian qua là vụ việc của CTCK SME, TAS. Bên cạnh đó hiện tượng cắt
giảm nhân sự cũng diễn ra trên diện rộng. Với hơn 100 CTCK hoạt độngtrong khi thị
trường diễn biến ảm đảm, thị phần của từng công ty bị thu hẹp lại, hoạt động môi giới,
Bài thảo luận nhóm 14 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
tư vấn trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Nhiều CTCK phải cắt giảm từ 15% -20% nhân
Châu Á – Thái Bình Dương
8.4 6.3 6.5
Châu Á- Châu Đại Dương
2.6 1.8 3.3
Đông Âu
3.3 3.7 3.2
Mỹ La Tinh
6.1 4.5 4.0
Trung Đông và Châu Phi
4.7 4.4 4.3
Bắc Mỹ
3.0 1.6 1.8
Đông Âu
2.3 1.9 0.7
Bảng 2.1 Tăng trưởng kinh tế thế giới và các khu vực
(Nguồn: IMF; *Số liệu dự báo được công bố vào tháng 12/2011)
2.2.2 Kinh tế trong nước:
2.2.2.1 Lạm phát:
Trong năm 2011, lạm phát trung bình 12 tháng tăng 18,58% so với giai đoạn
tương ứng của năm 2010 và 18,13% so với tháng 12/2010. Mức lạm phát tăng cao
trong 04 tháng đầu năm, đỉnh điểm lên tới mức 3,32% trong tháng 4. Đây là hệ quả từ
việc cung tiền những năm trước, tăng tỷ giá (ngày 11/02/2011 tăng 9,3%), giá nguyên
vật liệu trong nước tăng (nguồn nguyên liệu Việt Nam đang phụ thuộc nhập khẩu quá
nhiều), giá năng lượng tăng (xăng dầu, điện) dẫn đến giá hàng hoá các loại đồng loạt
tăng theo. Từ tháng 5 trở đi, nhờ những nỗ lực ổn định hóa quyết liệt của Chính phủ,
CPI đã liên tục giảm tốc và xuống dưới 1% kể từ tháng 08/2011.
2.2.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2011 tiếp tục suy
giảm. Cụ thể nguồn vốn FDI năm 2011 đạt 14,7 tỷ USD, giảm 26% so với cùng kỳ
Bài thảo luận nhóm 16 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
tăng mạnh và đã đẩy giá vàng thế giới lên cao và lập kỷ lục ở mức $1.920/oz vào đầu
tháng 9 sau đó giảm dần trong quý IV. Giá vàng trong nước cũng đã giao động với
biên độ mạnh, tăng từ mức khoảng 37 triệu đồng/lượng lên tới mức cao nhất là 49
Bài thảo luận nhóm 17 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
triệu đồng/lượng, sau đó giảm dần và đứng quanh mốc 44 triệu đồng/lượng vào thời
điểm cuối năm 2011.
2.2.2.6 Chính sách tiền tệ
Trước áp lực lạm phát tăng cao, ngay từ đầu năm, Chính phủ đã ra Nghị quyết
11/NQ- CP, chính sách tiền tệ thắt chặt đã được thực hiện khá nhất quán trong suốt cả
năm 2011.
Về lãi suất điều hành, lãi suất cơ bản giữ nguyên ở mức 9% trong cả năm
nhưng lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đều đã được điều chỉnh tăng. Cụ thể,
lãi suất tái chiết khấu đã được điều chỉnh tăng từ 7% lên mức 12% trong Quý I và lên
mức 13% chovQuý III và IV, còn lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh tăng từ mức 9%
trong tháng 1 lên tới 15% từ Quý IV.
Lãi suất cho vay VND bình quân thực tế khá cao, cụ thể, lãi suất cho vay nông
nghiệp, nông thôn và xuất khẩu khoảng 17-19%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực sản
xuất kinh doanh khác khoảng 17-21%năm, lãi suất cho vay lĩnh vực phi sản xuất
khoảng 22-25%/năm. TTCK là nơi chịu những tác động trực tiếp từ chính sách tiền tệ
thắt chặt, trongđó có tín dụng phi sản xuất kiểm soát dưới 16%.
Bài thảo luận nhóm 18 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP KIỆN TOÀN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Chủ trương vực dậy thị trường chứng khoán tại Việt Nam trong thời gian
tới:
Năm 2011, TTCK Việt Nam đã hoạt động khó khăn để lại nhiều hệ lụy cho toàn
hệ thống kinh tế, lượng cổ phiếu phát hành trong năm chỉ đạt 13.000 tỷ đồng, giảm
60% so với cùng kỳ, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ khi giá cổ phiếu dưới mệnh
phạm chứng khoán, quy trách nhiệm cụ thể đến từng cá nhân.
− Kể từ ngày 01/04/2012, Thông tư số 226 chính thức có hiệu lực thi hành.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện việc quản lý, giám sát, tái cấu trúc các
công ty chứng khoán trên cơ sở phân loại, xử lý theo các mức cảnh báo, kiểm soát,
kiểm soát đặc biệt. Thậm chí nếu công ty chứng khoán không khắc phục được theo
yêu cầu sẽ đình chỉ hoạt động.
− BTC đang xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn tổ chức và hoạt động
công ty chứng khoán theo hướng tập trung vào công tác quản trị, quản lý an toàn tài
chính, hướng dẫn cụ thể về việc hợp nhất, sáp nhập, giải thể. Ngoài ra, sẽ tăng cường
công tác giám sát đối với công ty chứng khoán thông qua việc ban hành quy định đánh
giá xếp hạng, phân loại hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, xây dựng hệ
thống chấm điểm mức độ rủi ro và quy trình hoạt động của công ty chứng khoán để áp
dụng cơ chế kiểm tra, giám sát theo mức độ rủi ro.
− BTC và UBCK đã xây dựng Đề án tái cấu trúc TTCK. Đề án sẽ là cơ sở
để BTC, UBCK thực hiện từng bước tái cấu trúc TTCK từ nay đến năm 2015 trên các
lĩnh vực: cải cách cơ sở hàng hóa; tăng cường chất lượng nhà đầu tư; nâng cao hiệu
quả của thị trường trái phiếu; tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán; tái cơ cấu
Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán tại Việt Nam.
− Để hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn này, BTC hiện
đang xây dựng giải pháp tháo gỡ tài chính và đã trình Chính phủ để giãn thuế cho
doanh nghiệp. Tùy vào diễn biến năm 2012, BTC sẽ tiếp tục tham mưu về giãn và
miễn thuế.
− Ngay trong quý II/2012, BTC sẽ trình Chính phủ về việc thành lập Sở
giao dịch chứng khoán Việt Nam trên cơ sở sáp nhập hai Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội và Tp. HCM, tạo ra một thị trường giao dịch chứng khoán thống nhất nhằm nâng
cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả.
Bài thảo luận nhóm 20 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
3.2. Một số giải pháp kiện toàn thị trường chứng khoán Việt Nam
Với định hướng vực dậy TTCK Việt Nam của các cơ quan quản lý Nhà nước
Về nguyên lý và thực tế trên thế giới cho thấy, việc duy trì thanh khoản của
TTCK có ảnhhưởng tích cực tới giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp cũng như nền
kinh tế nhờ vào khả năng luân chuyển và sử dụng tối đa nguồn lực tài chính. Rủi ro
thanh khoản hay khả năng giao dịch chứng khoán khó khăn làm cho giá chứng khoán
sẽ giảm, nói cách khác là chi phí vốn tăng.
Trong nhiều năm qua, vấn đề liên thông vốn giữa ngân hàng và chứng khoán
của ta là khá lỏng lẻo, việc kiểm soát rủi ro theo các tiêu chí phù hợp tại các ngân hàng
và công ty chứng khoán còn chưa được thực hiện đầy đủ. Vì vậy có nhiều trường hợp
luồng tiền qua chứng khoán lại đi vào bất động sản hoặc vào các nghiệp vụ đòn bẩy tài
chính có tính rủi ro cao. Tuy nhiên nếu từ tình hình trên lại chuyển sang giải pháp thắt
chặt tất cả các luồng tín dụng vào chứng khoán là ta đang
chuyển từ thái cực này sang thái cực khác. Vấn đề quan trọng là cần có các tiêu chí
kiểm soát rủi ro để bảo đảm dòng tiền vào là ngắn hạn và được đi đúng hướng trên cơ
sở tình hình của từng ngân hàng và công ty chứng khoán. Nếu chúng ta có chính sách
phù hợp sẽ huy động và khơi thông nguồn vốn trên TTCK phục vụ cho các ngân hàng,
doanh nghiệp và cả nền kinh tế.
− Tái cấu trúc thành câu chuyện sống còn:
Mục tiêu đến năm 2015, TTCK Việt Nam có quy mô vốn hoá của thị trường cổ
phiếu đạt khoảng 60% GDP. Bên cạnh việc chú trọng phát triển quy mô các thị trường,
trong năm 2012 sẽ phải thực hiện từng bước tái cấu trúc lại các thị trường tài chính và
dịch vụ tài chính trong khuôn khổ nội dung tái cấu trúc lại nền kinh tế.
Theo đề án tái cấu trúc TTCK do BTC xây dựng trình Chính phủ, dự kiến thông
qua vào quý I/2012, chủ trương phát triển TTCK giai đoạn sắp tới sẽ hướng tới mục
tiêu: tăng quy mô, củng cố tính thanh khoản cho TTCK, tăng tính hiệu quả cho thị
trường trên cơ sở tái cấu trúc tổ chức TTCK, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, chuyên
nghiệp hóa việc tổ chức và vận hành hạ tầng công nghệthông tin, nâng cao sức cạnh
tranh của các định chế trung gian thị trường, các tổ chức phụ trợ thị trường và của
TTCK Việt Nam, tăng cường năng lực quản lý, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm,
củng cố lòng tin của nhà đầu tư
Trong bối cảnh nhiều công ty chứng khoán đang đứng trước bờ vực phá sản,
(trừ ngành ngân hàng) đối với những lĩnh vực không cần hạn chế để thu hút vốn của
khối đầu tư nước ngoài.
− Nhanh chóng xóa bỏ các rào cản phát triển TTCK Việt Nam bằng cách
khắc phục những yếu kém do tính không hoàn hảo của thị trường gây ra:
Bài thảo luận nhóm 23 Nhóm 1_ CH18A.QLKT
Trường đại học Thương mại Khoa sau đại học
Khắc phục hiện tượng thông tin bất cân xứng bằng cách thực hiện minh bạch
hoá, khai thông kênh thông tin đối với giới đầu tư trên thị trường. Khuyến khích các
công ty định mức tín nhiệm cóuy tín như Standard & Poor’s, Moody thành lập chi
nhánh tại Việt Nam. Để đánh giá được năng lực tài chính của các doanh nghiệp Việt
Nam thì cần phải có những tổ chức chuyên nghiệp, những tổ chức tài chính có uy tín
như trên thì mới có thể đánh giá được khả năng tài chính của các doanh nghiệp Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra bản thân các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
cần phải công khai hơn, minh bạch về tài chính hơn thì mới có thể đạt được tín nhiệm
trên thị trường. Đây cũng là một trong những khó khăn và thách thức khi phát triển hệ
thống định mức tín nhiệm cũng như việc mở rộng quy mô thị trường chứng khoán Việt
Nam hiện nay.
Thúc đẩy hoạt động đào tạo, nghiên cứu và nâng cao nhận thức về TTCK cho
công chúng đầu tư để tránh tình trạng đầu tư theo bầy đàn như hiện nay.
Tăng cường năng lực hoạt động của các tổ chức trung gian trên thị trường và
tạo ra một cơ chế cạnh tranh công bằng để giảm chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư,
đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân. Quy định một mức giá chung hợp lý xuyên suốt trên thị
trường.
Hệ thống tài chính xảy ra đổ vỡ, khủng hoảng, Chính phủ phải đứng ra can
thiệp bằng chính sách cứng rắn. Các chính sách này đến lượt nó lại bóp méo các quan
hệ thị trường, không phân bổ sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, cản trở sự phát triển
kinh tế xã hội và dẫn đến thất bại của Chính phủ. Để giải quyết, Chính phủ trở lại nới
lỏng và tự do hoá TTCK, như vậy có một “vòngluẩn quẩn” trong hoạt động và phát
triển của TTCK của các nước đang phát triển nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng
khi mà chính phủ can thiệp quá sâu vào thị trường với kỳ vọng khắc phục thất bại thị