thực trạng và giải pháp giao dịch mua ký quỹ trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 24

Chủ đề: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIAO DỊCH MUA KÝ QUỸ TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ GIAO DỊCH KÝ QUỸ CHỨNG KHOÁN
1.1/. Khái niệm, đặc điểm, ưu nhược điểm và rủi ro của giao dịch ký quỹ chứng khoán
Giao dịch ký quỹ có nguồn gốc từ thị trường tương lai về hàng hóa. Thị trường tương
lai đã xuất hiện từ thời trung cổ, nó được phát triển để đáp ứng yêu cầu của giới nông dân và
lái buôn. Đi vào phân tích tình huống nông dân ở thời điểm thu hoạch trong tương lai, giá cả
hàng hóa có thể rất cao nhưng cũng có thể rất thấp và điều này ảnh hưởng rất nhiều đến họ
nhất là khi họ cần tiền. Và tương tự, giới lái buôn cũng chịu rủi ro khi giá cả hàng hóa biến
động ở tương lai, trong khi họ là những người luôn cần hàng. Do vậy nông dân và lái buôn
gặp nhau trước thời điểm thu hoạch để thỏa thuận giá cả cho thời điểm họ có hàng hoặc cần
hàng trong tương lai. Điều đó có nghĩa là họ đã thương lượng loại hợp đồng tương lai về
hàng hóa – là loại hợp đồng cung cấp cách thức mua bán hàng hóa giữa các bên để có thể
loại trừ rủi ro do giá cả hàng hóa không ổn định trong tương lai. Sự phát triển của thị trường
tương lai, kèm theo sự gia tăng những rủi ro dẫn đến việc xuất hiện hệ thống thanh toán bù
trừ các giao dịch. Nền tảng của thanh toán bù trừ là một hệ thống tiền gửi hoặc bảo lãnh tiền
gửi, được yêu cầu từ những người tham gia thị trường tương lai. Trong thực tế trao đổi,
những khoản tiền gửi này được gọi là giao dịch kỹ quỹ, đó là số tiền mà khách hàng phải trả
vào tài khoản của công ty môi giới khi anh ta thiết lập vị thế, được gọi là ký quỹ, tỷ lệ kỹ
quỹ thường 1-10% giá trị hợp đồng tương lai. Từ hoạt động kỹ quỹ trong giao dịch hàng hóa
đã được vận dụng sang các sản phẩm tài chính khác như là chứng khoán (Giao dịch kỹ quỹ
trên thị trường chứng khoán), ngoại tệ (Giao dịch ký quỹ at FOREX), vàng (Gold giao dịch
kỹ quỹ) …và tiếp tục phát triển vào những năm 20 của đầu thế kỷ 20.
1.1.1/. Khái niệm mua ký quỹ chứng khoán
Giao dịch ký quỹ chứng khoán là giao dịch mua bán chứng khoán của khách
hàng có sử dụng tiền vay của công ty chứng khoán và sử dụng các chứng khoán khác có
trong tài khoản và chứng khoán mua được bằng tiền vay để cầm cố
Theo đó sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ là loại sản phẩm dịch vụ mà công ty
chứng khoán (công ty môi giới) cung cấp cho khách hàng. Trong đó, công ty chứng khoán
1
(công ty môi giới) cho phép nhà đầu tư mượn tiền của nhà môi giới (công ty môi giới, công

1.1.2/. Vai trò giao dịch ký quỹ chứng khoán
1.1.2.1/. Vai trò của giao dịch ký quỹ chứng khoán đối với TTCK
Có kinh doanh là có vay nợ, do vậy hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ "Đòn bẩy
tài chính" sẽ còn có đất để phát triển. Lợi ích của hoạt động này (đối với nhà đầu tư, đối với
tổ chức cung ứng dịch vụ và đối với thị trường) đã quá rõ, vấn đề còn lại là từng thành viên
tham gia phải tìm cách để giảm thiểu đến mức thấp nhất tổn thất mà hoạt động này có thể
gây ra.
Vai trò to lớn nhất của giao dịch ký quỹ đối với thị trường chứng khoán là góp phần
làm gia tăng tính thanh khoản, khuyến khích thêm nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp tham
gia thị trường, tiến gần hơn tới TTCK thế giới.
Với quy mô niêm yết và giao dịch sẽ tăng lên nhanh chóng trong những năm tới, điều
hiển nhiên là nhu cầu vay đầu tư chứng khoán sẽ càng nhiều thêm. Các ngân hàng thương
mại sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vay cho từng cá nhân vì chi phí thẩm định các
khoản vay và kiểm soát rủi ro tín dụng sẽ rất lớn. Trong khi thực tế trên thế giới, các ngân
hàng thương mại không trực tiếp cho nhà đầu tư vay mua chứng khoán mà kênh tín dụng
này được thực hiện qua các công ty môi giới chứng khoán. Nhà đầu tư được vay một phần
tiền từ các công ty chứng khoán theo tỷ lệ ký quỹ ban đầu và cam kết dùng tài sản thế chấp
chính là các chứng khoán.
Giao dịch ký quỹ đang là nhu cầu chính đáng và bức thiết của đa số các nhà đầu tư,
của các công ty môi giới chứng khoán, ngân hàng thương mại và cũng là đòi hỏi chính đáng
để thị trường phát triển. Nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính trong giao dịch ký quỹ là đòn
bẩy có nguyên tắc, được kiểm soát và thừa nhận của pháp luật. Với xu thế của thị trường
tăng trưởng, xác suất cao để nhà đầu tư thành công trong việc sử dụng đòn bẩy tài chính.
Các công ty chứng khoán cũng có nguồn thu tốt hơn nhờ khối lượng giao dịch tăng vọt.
Nhưng quan trọng hơn cả là tính thanh khoản của thi trường sẽ tăng đáng kể và đó là cơ sở
để thị trường sơ cấp phát triển. Giao dịch tăng đột biến vừa qua là bằng chứng cho thấy
không chỉ nhà đầu tư được lợi mà công ty chứng khoán áp dụng đòn bẩy cũng gặt hái siêu
lợi nhuận.
Một trong những tác động dễ thấy nhất của giao dịch ký quỹ đối với thị trường chứng
khoán là sẽ đưa giá chứng khoán dần trở về với giá trị thực của nó. Thật vậy, nhà đầu tư chỉ

luôn tranh cãi liệu có nên đầu tư vào những cổ phiếu đang tăng hay không. Chúng ta không
4
cân nhắc các tranh luận ở đây, nói một cách đơn giản là ký quỹ đã tạo cơ hội cho các nhà
đầu tư tăng lợi nhuận.
Để minh họa rõ nét hơn sức mạnh của lực đòn bẩy là thông qua một ví dụ. Hãy tưởng
tượng một tình huống mà chúng ta đều muốn trải qua tạo ra lợi nhuận khổng lồ:
Chúng ta sẽ giữ 20.000 USD giá trị của cổ phiếu mua bằng cách sử dụng 10.000 USD
ký quỹ và 10.000 USD tiền mặt. Cổ phiếu của Công ty Cory’s Tequilla giao dịch với giá 100
USD và bạn cảm nhận rằng nó sẽ tăng giá đáng kể. Thông thường, bạn chỉ có thể mua 100
cổ phiếu (100 x $100 = $10,000). Do bạn đầu tư ký quỹ, bạn có thể mua 200 cổ phiếu (200 x
$100 = $20,000).
1.1.2.3/. Vai trò của giao dịch ký quỹ đối với CTCK
Ở các nước có TTCK phát triển thì nghiệp vụ giao dịch ký quỹ là một nghiệp vụ
thường xuyên. Ở VN thì mới có văn bản hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ giao dịch ký quỹ
này. Mặc dù vậy trước đó các CTCK vẫn thực hiện nghiệp vụ cho khách hàng vay để mua
chứng khoán, dùng chứng khoán đã mua để cầm cố. Việc đưa giao dịch ký quỹ vào thực
hiện là phù hợp với tình hình phát triển của TTCK và là điều tất yếu. Với con số 51 CTCK
hiện nay có cung cấp dịch vụ giao dịch ký quỹ
Giao dịch ký quỹ đưa vào thực hiện có vai trò sau :
Thêm được sản phẩm mới cho công ty chứng khoán. Việc các công ty đưa ra tỷ lệ
ký quỹ, các loại chứng khoán ký quỹ, lãi suất hợp lý. Có thể giúp công ty thu hút được
khách hàng. Tăng tính cạnh tranh giữa các công ty
Tăng khối lượng giao dịch của nhà đầu tư. Kích thích nhà đầu tư giao dịch nhiều hơn.
Số hoa hồng, lãi vay, phí giao dịch thu được nhiều hơn
1.2 Quy trình hoạt động, và các quy định có liên quan giao dịch ký quỹ
1.2.1/. Qui trình hoạt động giao dịch ký quỹ chứng khoán
Ở các TTCK phát triển, thủ tục để thực hiện giao dịch ký quỹ thông thường như sau:
Thực hiện giao dịch ký quỹ, khách hàng phải ký hợp đồng mở tài khoản giao dịch ký
quỹ với CTCK. Sau khi mở tài khoản giao dịch ký quỹ, khách hàng được vay một tỷ lệ
nhất định so với giá trị số chứng khoán định mua. Tỷ lệ vay tối đa tại hầu hết các nước là

dịch ký quỹ tính theo giá thị trường
• Tỷ lệ ký quỹ ban đầu: là tỷ lệ giữa tài sản thực có (trước khi thực hiện giao dịch)
so với giá trị hợp đồng giao dịch (dự kiến thực hiện) tính theo giá thị trường
Theo đó nó là tỷ lệ % tối thiểu của giá trị giao dịch mà NĐT phải có trong tài khoản
ký quỹ khi thực hiện giao dịch mới. Tỷ lệ ký quỹ ban đầu thường được quy định bằng các cơ
quan quản lý và sự đặc thù của mỗi nhà môi giới (công ty môi giới)
• Tỷ lệ ký quỹ duy trì: là tỷ lệ tối thiểu giữa tài sản thực có so với tổng tài sản trên
tài khoản giao dịch ký quỹ tính theo giá thị trường
• Ngày 30/8, UBCK đã ban hành Quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ chứng
khoán. Theo quy định này thì
+ Tỷ lệ ký quỹ ban đầu do công ty chứng khoán quy định nhưng không được thấp
hơn 60%.
+ Tỷ lệ ký quỹ duy trì do công ty chứng khoán quy định nhưng không được thấp hơn
40%.
+ Căn cứ vào tình hình hoạt động thị trường chứng khoán, Uỷ ban Chứng khoán Nhà
nước có thể điều chỉnh tỷ lệ ký quỹ.
1.2.2.2/. Chứng khoán được giao dịch ký quỹ
Chứng khoán đủ điều kiện giao dịch ký quỹ bao gồm: cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư
niêm yết giao dịch tại Sở Giao dịch chứng khoán, không bao gồm các chứng khoán đăng ký
niêm yết giao dịch trên hệ thống giao dịch UpCom và không thuộc các trường hợp sau:
1. Có thời gian niêm yết dưới 06 tháng tính đến thời điểm công bố danh sách; trường
hợp cổ phiếu chuyển sàn niêm yết thì thời gian niêm yết được tính là tổng thời gian niêm yết
ở cả hai Sở Giao dịch chứng khoán;
2. Bị đặt trong tình trạng bị tạm ngừng giao dịch, bị đưa vào diện cảnh báo, bị hủy
niêm yết, bị đưa vào diện kiểm soát;
3. Kết quả kinh doanh của tổ chức niêm yết chứng khoán là có lỗ căn cứ trên báo cáo
tài chính gần nhất đã kiểm toán hoặc có ý kiến soát xét của tổ chức kiểm toán (tùy trường
hợp nào gần nhất thời điểm xem xét); Trường hợp tổ chức niêm yết là quỹ đầu tư đại chúng,
có tối thiểu một tháng có giá trị tài sản ròng (NAV) tính trên một đơn vị chứng chỉ quỹ nhỏ
7

lệnh mới biết tỷ lệ ký quỹ là bao nhiêu
1.2.2.3/. Điều kiện công ty chứng khoán thực hiện giao dịch ký quỹ
8
Công ty chứng khoán thực hiện giao dịch ký quỹ phải thỏa mãn các điều kiện quy
định về giao dịch ký quỹ sau:
1. Được cấp phép thành lập và hoạt động theo pháp luật chứng khoán Việt Nam; được
cấp phép hoạt động nghiệp vụ môi giới chứng khoán; là thành viên của Sở giao dịch chứng
khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán;
2. Không có lỗ lũy kế lớn hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ (tính theo báo cáo tài chính có
kiểm toán gần nhất nhưng không quá 06 tháng đến thời điểm nộp báo cáo thực hiện giao
dịch ký quỹ);
3. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu không vượt quá 6 lần.
4. Tỷ lệ vốn khả dụng theo quy định tại Thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày
31/12/2010 của Bộ Tài chính là lớn hơn 150% trong vòng ba (03) tháng gần nhất tính đến
thời điểm nộp báo cáo thực hiện giao dịch ký quỹ;
5. Có hệ thống giao dịch phục vụ giao dịch ký quỹ, giám sát tài khoản giao dịch ký quỹ;
quy trình nghiệp vụ và quy trình quản lý rủi ro cho nghiệp vụ giao dịch ký quỹ;
6. Có tối thiểu 2 nhân viên có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán để thực hiện hoạt
động giao dịch ký quỹ.
1.3/. Giao dịch ký quỹ ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho TTCK Việt Nam
1.3.1/. Giao dịch ký quỹ chứng khoán ở một số nước trên thế giới
1.3.1.1/. Tìm hiểu hoạt động giao dịch ký quỹ ở thị trường chứng khoán Mỹ
Đối với một số nước như Mỹ không có các tổ chức chuyên doanh lĩnh vực tài chính
chứng khoán mà rất nhiều tổ chức tài chính như NHTM, nhà môi giới chứng khoán được
phép tham gia vào hoạt động này như là một trong các nghiệp vụ kinh doanh. Trước năm
1920, không có quy định nào điều chỉnh hoạt động tài chính chứng khoán phục vụ cho giao
dịch ký quỹ. Sau cuộc đại suy thoái năm 1929, vấn đề này mới được pháp luật Mỹ đặt dưới
sự kiểm soát nghiêm ngặt để ngăn ngừa các tổ chức tài chính cho vay quá mức. Hiện nay,
hoạt động tài chính chứng khoán chịu sự điều chỉnh của Quy chế của Cục Dự trữ liên bang.
Tuy nhiên, hoạt động vay và cho vay chứng khoán của các tổ chức này cũng được kiểm soát

chức năng tài chính chứng khoán, đó là Công ty tài chính chứng khoán Nhật Bản (vốn điều
lệ 10 tỷ Yên), Công ty tài chính chứng khoán Osaka (vốn điều lệ 3,5 tỷ Yên) và Công ty tài
chính chứng khoán Chubu (vốn điều lệ 200 triệu Yên) (tính đến tháng 6/2003). Đặc thù của
10
hệ thống các Công ty tài chính chứng khoán tại các nước này là không đặt ra mục tiêu kinh
doanh mà chủ yếu nhằm mục tiêu bình ổn giá cả và phát triển TTCK thông qua việc hỗ trợ
các giao dịch chứng khoán. Việc thành lập các Công ty tài chính chứng khoán theo mô hình
này đáp ứng được nhu cầu thúc đẩy hoạt động giao dịch của thị trường, song vẫn đảm bảo
khả năng quản lý chặt chẽ để giảm thiểu khả năng rủi ro, đặc biệt là với các thị trường mới
thành lập do vay và cho vay chứng khoán về bản chất là các giao dịch phức tạp và ẩn chứa
nhiều rủi ro nếu hệ thống quản lý thị trường không đủ hiệu quả.
1.3.2/. Bài học kinh nghiệm khi áp dụng giao dịch ký quỹ chứng khoán tại Việt Nam
 Một là thành lập Công ty tài chính chứng khoán. Cùng với sự phát triển của thị
trường, tính thanh khoản của thị trường ngày một nâng cao, trình độ và năng lực của các nhà
đầu tư chứng khoán ngày càng hoàn thiện, cần nghiên cứu cho phép áp dụng các giao dịch
loại này như một biện pháp khuyến khích giao dịch, thực hiện thông lệ và tiêu chuẩn giao
dịch quốc tế. Trong trường hợp của Việt Nam, với đặc thù TTCK còn rất non trẻ, trước mắt
có thể nghiên cứu để triển khai hoạt động vay và cho vay chứng khoán theo mô hình thành
lập Công ty tài chính chứng khoán như là một cơ quan thực hiện chính sách thị trường chứ
không phải vì mục tiêu lợi nhuận (giống như Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan).
Trước thực trạng hơn 100 CTCK với quy mô vốn, trình độ quản lý và công nghệ rất
khác nhau ở Việt Nam hiện nay, việc áp dụng cơ chế giao dịch ký quỹ sẽ đặt ra những thách
thức không nhỏ. Để cơ chế giao dịch ký quỹ vận hành hiệu quả dưới sự quản lý giám sát có
hệ thống, cần có sự hiện diện của một định chế tài chính đặc biệt đóng vai trò "nhà cái" cho
các CTCK tham gia cung cấp dịch vụ giao dịch ký quỹ.
Mục tiêu của việc thành lập Công ty tài chính chứng khoán thể hiện ở việc thúc đẩy
các hoạt động giao dịch chứng khoán, bình ổn thị trường, tăng tính thanh khoản cho TTCK.
Do đó, Chính phủ phải đóng vai trò quyết định trong việc thành lập Công ty tài chính chứng
khoán Việt Nam, trong đó có sự cân nhắc các điều kiện thực tế của nền kinh tế và TTCK.
Trong thời gian đầu, do Chính phủ phải đóng vai trò chủ chốt trong việc quản lý và điều tiết

đồng, thấp hơn mức dự thảo trước đó là 20 triệu đồng. Mức cụ thể do công ty chứng khoán
quy định.
- Tỷ lệ trên có thể thay đổi tùy theo tình hình thị trường và do Ủy ban chứng khoán
Nhà nước điều chỉnh.
- Trường hợp tỷ lệ ký quỹ của khách hàng giảm xuống thấp hơn tỷ lệ ký quỹ duy trì,
công ty chứng khoán sẽ phát hành lệnh gọi ký quỹ bổ sung. Thời gian bổ sung tài sản thế
chấp trong thời hạn theo yêu cầu của công ty chứng khoán nhưng không quá 3 ngày làm
việc.
- Thời hạn các khoản vay giao dịch ký quỹ không quá 3 tháng tính từ ngày thực hiện
13
giải ngân khoản vay và có thể gia hạn tối đa là 3 tháng. So với dự thảo trước đây, thời hạn
tối đa đối với các khoản vay giảm từ 12 tháng xuống còn 6 tháng.
- Công ty chứng khoán thực hiện giao dịch ký quỹ phải không có lỗ lũy kế lớn hơn
hoặc bằng 50% vốn điều lệ (tính theo báo cáo tài chính có kiểm toán gần nhất nhưng không
quá 06 tháng đến thời điểm nộp báo cáo thực hiện giao dịch ký quỹ); tỷ lệ tổng nợ trên vốn
chủ sở hữu không vượt quá 6 lần; Tỷ lệ vốn khả dụng theo quy định tại Thông tư số
226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 của Bộ Tài chính là lớn hơn 150% trong vòng ba 3
tháng gần nhất tính đến thời điểm nộp báo cáo thực hiện giao dịch ký quỹ;
- Điều 13 quy định hạn mức cho vay giao dịch ký quỹ của công ty chứng khoán. Theo
đó, tổng dư nợ cho vay giao dịch ký quỹ của một công ty chứng khoán không được vượt quá
200% vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán;
- Tổng mức cho vay giao dịch ký quỹ của công ty chứng khoán đối với một khách
hàng không được vượt quá 3% vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán; và không vượt quá
10% vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán đối với một loại chứng khoán.
- Tổng số chứng khoán cho vay giao dịch ký quỹ của một công ty chứng khoán không
được vượt quá 5% tổng số chứng khoán niêm yết của một tổ chức niêm yết.
- Vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán theo Báo cáo tài chính kiểm toán gần nhất
nhưng không quá 6 tháng kể từ thời điểm tính toán.
- Công ty chứng khoán bị ngừng giao dịch ký quỹ trong vòng 12 tháng nếu vi phạm
về quản lý tài khoản, hạn mức cho vay, tỷ lệ ký quỹ, loại chứng khoán được phép giao dịch

không tỉnh táo, không tích cực tất toán các khoản nợ, thậm chí còn gia tăng các khoản nợ khi
TTCK tụt dốc thì tài sản của họ cũng nhanh chóng bị bốc hơi, một số nhà đầu tư mới chưa
có kinh nghiệm đã lâm vào hoàn cảnh tiền bán chứng khoán không đủ trả ngân hàng đã buộc
phải bán nhà để trả nợ.
2.2.2/. Giai đoạn 2008 - 2009
Sau thời kỳ hoàng kim của phong trào tín dụng đầu tư chứng khoán, việc cho vay đầu
tư trở lại vào tháng 7/2008 khi tiến trình xử lý nợ vay kết thúc, đồng thời lạm phát đã được
kiểm soát, đi cùng với TTCK phục hồi từ 360 điểm đến 570 điểm, tuy nhiên hoạt động cho
vay chứng khoán nhanh chóng bị ngừng trệ từ tháng 9/2008 do Việt Nam bắt đầu chịu tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sau quý 1/2009, kinh tế Việt Nam chạm đáy,
TTCK đã xuống ở mức thấp và bắt đầu phục hồi đi lên thì hoạt động cho vay đầu tư chứng
15
khoán cũng khởi động trở lại, tuy nhiên đã có nhiều đặc điểm khác biệt căn bản so với thời
kỳ “hoàng kim” :
• Tất cả các tổ chức đầu tư chứng khoán trong nước không đi vay tiền để đầu tư
chứng khoán.
• Hầu như các công ty chứng khoán đã cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư theo hướng
dành một tỷ trọng vốn đáng kể đầu tư vào trái phiếu hay dùng tiền mặt để chi tiêu hoạt động
hay phục vụ hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán dưới nhiều hình thức, chỉ dành một
khoản tiền tự có phục vụ cho công tác đầu tư tự doanh ngắn hạn và dài hạn.
• Các tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty chứng khoán đã có kinh nghiệm
xương máu nên nhìn chung đều tính toán tăng giá trị tài sản cầm cố, lựa chọn danh mục cổ
phiếu hay thời hạn cho vay
• Tuy nhiên do sự cạnh tranh về khách hàng, một số công ty chứng khoán có sự
cạnh tranh không lành mạnh về hạn mức cho vay.
Trong thời gian qua, khi TTCK phục hồi đi lên từ mức thấp thì đã có một lượng tiền tín
dụng đáng kể được đổ vào TTCK, với đỉnh cao dư nợ tín dụng chứng khoán khoảng 10.000
tỷ - 12.000 tỷ đồng. Dư nợ tín dụng lần này chủ yếu tập trung cho thị trường niêm yết, ít có
dòng tín dụng đổ vào thị trường OTC.
2.2.3/. Giai đoạn 2009 - 2010

hoạt động quản trị rủi ro đã dẫn đến sự thua lỗ nặng nề cho các bên tham gia.
Hiện tượng này có thể được minh họa điển hình qua vụ việc về giao dịch cổ phiếu của
CTCP nhựa An Phát (AAA) niêm yết trên HNX. “Cổ phiếu AAA đã tăng mạnh từ mức giá
47.000 VND/CP ngày 19/8/2010 lên mức cao nhất là 91.600 VND/CP (bình quân) ngày
16/09/2010 với thanh khoản tốt, trong bối cảnh TTCK chỉ dao động rất hẹp. Khoảng 4,4
triệu CP được giao dịch trong khoảng giá trên 90.000 VND. Tuy nhiên, sau 5 ngày giao
dịch, giá AAA đã giảm về mức 63.400 VND (bình quân) tính đến hết ngày 4/09/2010, với
khối lượng đặt mua khiêm tốn và dư bán lên tới hàng triệu cổ phiếu”. Có nhiều giả thiết giải
thích cho hiện tượng bất thường trong giao dịch cổ phiếu AAA, nhưng có một nhận định
hợp lý cho rằng đã có sự làm giá cổ phiếu này của một nhóm nhà đầu tư. Lợi dụng việc được
ưu đãi trong hoạt động ký quỹ tại một số CTCK, nhóm nhà đầu tư này đã liên kết với nhau
thực hiện việc “làm giá” cổ phiếu AAA, sau đó sử dụng vốn ký quỹ từ các CTCK để mua ở
17
giá cao. Sau cùng, sau khi các nhà đầu tư đã “cao chạy xa bay”, các CTCK đã phải lĩnh hậu
quả từ việc cho thực hiện ký quỹ với một tỷ lệ lớn.
Chưa có số liệu thống kê chính thức về các khoản cho vay của công ty chứng khoán
đối với nhà đầu tư dưới dạng hợp đồng hợp tác đầu tư nhưng chắc chắn con số này lên tới
nhiều ngàn tỷ VNĐ. Các khoản vay ký quỹ tại các CTCK tiếp tục là áp lực nặng nề đối với
TTCK nhất là khi thị trường đang đi xuống như hiện nay. Trong giai đoạn TTCK suy giảm
trong tháng 5.2010, hiện tượng giải chấp của các CTCK đã khiến thị trường giảm điểm. Để
đảm bảo thanh khoản, các CTCK phải bán chứng khoán bất chấp việc giá cổ phiếu và khối
lượng giao dịch xuống rất thấp. Đối với các nhà đầu tư, do thị trường giảm sâu, cùng với lãi
suất đối với lĩnh vực phi sản xuất tăng lên sẽ khiến nhiều NĐT bán ra để trả nợ gốc và lãi
cho các NHTM. Vì không có dòng tiền mới vào thị trường nên bất chấp giá đã giảm mạnh,
khối lượng giao dịch vẫn ở mức rất thấp. Nhiều tài khoản vô chủ xuất hiện để mặc cho
CTCK tự xử lý. Đây là lý do khiến cho không ít CTCK đang ở bên bờ vực đổ vỡ tài chính.
2.2.3/. Giai đoạn 2011
Thực tiễn thị trường các nước cho thấy, việc dùng giao dịch ký quỹ đúng thời điểm là
rất có lợi vì nhà đầu tư có thể kiếm lợi nhuận lớn khi số vốn đầu tư ban đầu có hạn, tạo tính
thanh khoản cho thị trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô và thị trường Việt Nam

dịch chứng khoán là 653,92 tỷ đồng. Khoản phải thu này tách bạch thành 6 khoản nhỏ, trong
đó lớn nhất là phải thu khách hàng về nghiệp vụ hợp tác đầu tư với 603,65 tỷ đồng. Công ty
chứng khoán VNDS cũng có khoản phải thu ngắn hạn tổng cộng 919,5 tỷ đồng. Trong đó,
khoản lớn nhất lên tới 734,6 tỷ đồng là phải thu về bảo lãnh thanh toán tiền mua chứng
khoán của nhà đầu tư. VNDS có khoản thu khá đặc thù là các hợp đồng mua bán lại chứng
khoán nhưng quy mô đang giảm mạnh, chỉ còn 480 triệu đồng ghi nhận thời điểm
31/3/2011. CTCK Sài Gòn có khoản phải thu 625 tỷ đồng, trong đó phải thu khách hàng về
nghiệp vụ hợp tác đầu tư là 443,46 tỷ đồng. CTCK Sài Gòn – Hà Nội có khoản phải thu
475,79 tỷ đồng với hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua bán chứng khoán.
19
Bảng 2.8: Thống kê các khoản phải thu của một số công ty chứng khoán Quý I/2011
Đơn vị tính: tỷ đồng
CTCK
Tổng số
phải thu
Phân bổ
lớn nhất
Thuyết minh
TLDP
PTKĐ
Kim Long
55,6 23,72
Phải thu của khác hàng
0
VNdirect
919,5 734,6
Bảo lãnh thanh toán tiền mua C.khoán của KH
14,81
TP.HCM 731,7 603,65 Phải thu KH về nghiệp vụ hợp tác đầu tư 0
NH nông nghiệp 7001,45 5895,17 Phải thu khác 326,35

Thông qua báo cáo tài chính quý 1/2011 ở trên cho thấy rất hiếm CTCK thực hiện
trích lập dự phòng đối với các khoản thu khó đòi. Trong 14 công ty nói trên, chỉ có 4 công ty
có trích lập dự phòng: CTCK VN Direct trích lập 14,81 tỷ đồng, không đổi so với quý
4/2010. CTCK Ngân hàng Nông nghiệp trích lập 326,35 tỷ đồng, tăng khoảng 3,3%. CTCK
Bảo Việt trích lập 11,12 tỷ đồng, không đổi so với quý trước. CTCK Rồng Việt trích lập
1,99 tỷ đồng, không đổi so với quý trước. Việc trích lập dự phòng hiện vẫn là khoảng mờ
đối với các dịch vụ đòn bẩy. Có thể báo cáo tài chính quý 1 nhiều công ty không muốn thực
hiện trích lập dự phòng, hoặc các hợp đồng trong quý này chưa rơi vào ngưỡng “nguy
hiểm”. Việc trích lập dự phòng dĩ nhiên sẽ làm báo cáo tài chính quý 1 xấu đi nhiều. Mặt
khác, việc xác định các khoản hỗ trợ rơi vào tình trạng xấu có thể được nhà đầu tư bù đắp,
hoặc đơn giản chỉ là “cầu” cho thị trường sẽ tốt hơn thời gian tới.
Tính đến tháng 12/2011, UBCKNN đã cấp phép cho 37 CTCK được giao dịch ký quỹ
trong đó có 18 CTCK đang niêm yết trên sàn như CTCK Sài Gòn (SSI), CTCK Hồ Chí
Minh (HSC), CTCK VNDirect… Một số công ty niêm yết hiện vẫn chưa được giao dịch ký
quỹ như CK Bảo Việt (BVSC), CK Hòa Bình (HBS), Chứng khoán SME, chứng khoán
Tràng An (TAS)…
Lỗ nhiều thì “cắt” giao dịch ký quỹ: Theo quy chế hướng dẫn giao dịch ký quỹ của
UBCKNN, đối với công ty chứng khoán, để được phép thực hiện giao dịch ký quỹ, doanh
nghiệp phải đảm bảo không có lỗ lũy kế quá 50% vốn điều lệ tại báo cáo tài chính có kiểm
toán gần nhất, có tổng nợ không vượt quá 6 lần vốn chủ sở hữu, tỷ lệ vốn khả dụng lớn hơn
150% trong vòng 3 tháng gần nhất. Các CTCK không đảm bảo duy trì một trong các điều
kiện quy định phải ngừng ngay việc ký mới Hợp đồng margin và ngưng cho vay vốn.
21
Các CTCK đang niêm yết được phép giao dịch ký quỹ
(số liệu đến 30/9/2011)
22
Các CTCK chưa niêm yết được phép giao dịch ký quỹ
(số liệu đến 31/12/2010) (*) đến 30/9/2011; (**) đến 30/6/2011; (***) 31/3/2011
Nếu tính tỷ lệ nợ/Vốn chủ sở hữu, một số CTCK đang ở ngưỡng cao như CK Bản
Việt (số liệu tháng 6/2011 là 553%), SBS (số liệu tháng 9/2011 là hơn 300%), CK Beta (số

có danh sách cho vay margin nhiều nhất là chứng khoán Đại Tây Dương với 292 mã trên sàn
HoSe và 166 mã sàn Hà Nội.
Nhìn vào khoản phải thu ngắn hạn của các CTCK tại thời điểm 30/9/2011 có thể thấy,
hầu hết các công ty đều giảm mạnh khoản phải thu so với thời điểm đầu năm. Duy nhất có
KLS tăng gấp đôi nhưng khoản này tập trung vào mục “phải thu khác”, trong khi khoản
“phải thu khách hàng” và “phải thu hoạt động giao dịch chứng khoán” đều giảm mạnh so
với số cuối năm 2010.
24
Ở một khía cạnh khác, nhiều NĐT cho rằng thời điểm này chưa biết đáy của thị
trường ở đâu, việc vay tiền margin lúc này là quá mạo hiểm. CTCK Habubank trong báo cáo
cho rằng thị trường sụt giảm mạnh thái quá trong thời gian gần đây một phần do động thái
giải chấp của các CTCK
2.2.3/. Giai đoạn 2012
Hơn 50% CTCK (51 công ty chứng khoán) được phép cung cấp dịch vụ giao dịch ký
quỹ. Hoạt động này đem lại lợi nhuận lớn, nhưng không phải lúc nào cũng minh bạch. Theo
quy định, CTCK thực hiện giao dịch ký quỹ phải đáp ứng các điều kiện như không có lỗ lũy
kế lớn hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ, tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu không vượt quá 6
lần, tỷ lệ vốn khả dụng lớn hơn 150% trong vòng 3 tháng gần nhất. Ngoài ra, CTCK phải có
hệ thống giao dịch phục vụ giao dịch ký quỹ, giám sát tài khoản giao dịch ký quỹ; quy trình
nghiệp vụ và quy trình quản lý rủi ro cho nghiệp vụ giao dịch ký quỹ; có tối thiểu 2 nhân
viên có chứng chỉ hành nghề để thực hiện hoạt động giao dịch ký quỹ.
Theo thống kê của Đầu tư Chứng khoán, trên website UBCK, hiện có 51 CTCK đã
đăng ký cung cấp dịch vụ margin cho NĐT, chiếm hơn 50% so với con số 99 CTCK được
thực hiện nghiệp vụ môi giới hiện nay.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status