SKKN Giúp học sinh lớp 3 học tốt biện pháp tu từ so sánh - Pdf 24

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
"Giúp học sinh lớp 3 học tốt biện pháp tu từ so sánh "
Phần thứ nhất:
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài:
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính
thức của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam Bởi thế, dạy
Tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống
của mỗi con người. Những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội ,
văn hoá giáo dục, thành tựu khoa học đều có liên quan đến việc dạy Tiếng Việt
mà trong đó biện pháp tu từ so sánh góp một phần không nhỏ để làm nên điều
đó .
Mặt khác, so sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh
mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, so sánh còn có tác dụng làm cho
lời nói rõ ràng, cụ thể, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm. Có ai sinh ra mà
không biết rằng:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Chỉ cần sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong câu ca dao trên , tâm tư
tình cảm của con người sẽ được bộc lộ một cách kín đáo và tế nhị. Nó gởi gắm
vào đó cả một niềm tâm sự thầm kín .Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Bác Hồ
cũng đã sử dụng Biện pháp so sánh tương đồng để viết : “ Tất cả mọi người
sinh ra đều có quyền bình đẳng . Tạo hoá cho họ những quyền mà không ai
có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền
1
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Như vậy đối với tác phẩm văn học nói
chung, so sánh mang chức năng nhận thức và biểu cảm.
Nhờ những hình ảnh bóng bẩy, ước lệ, dùng cái này để đối chiếu cái kia
nhằm diễn tả những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh tu từ được sử dụng phổ biến
trong thơ ca, đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi. So sánh tu từ giúp các em hiểu
và cảm nhận được những bài thơ, bài văn hay, từ đó góp phần mở mang tri thức

của học sinh lớp 3 năm học 2010 - 2011 tôi đã thu được kết quả như sau:
Tổng số học sinh lớp 3A là 26 em:
Số học sinh đạt yêu
cầu về nhận biết tu
từ so sánh
Số học sinh chưa có kỹ năng
nhận biết tu từ so sánh
Số học sinh không nhận biết
tu từ so sánh
9/26 ≈ 35%
13/26 ≈ 50%
4/26 ≈ 15%
Phần thứ hai:
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A. Nội dung chương trình:
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài, tôi thống kê phân tích các
hướng nghiên cứu biện pháp so sánh trong phân môn: "Luyện từ và câu" của
chương trình SGK lớp 3 phục vụ cho việc giảng dạy.
Kiến thức về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở
phân môn: "Luyện từ và câu". Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 - Tập I đã dạy
về so sánh gồm 8 bài ở các tuần: Tuần 1,3,5,7, 10,12,15 và tuần ôn tâp 18.
3
B. Những biện pháp cụ thể:
I/ Dạy đúng quy trình :
Để học sinh học tốt dạng bài tu từ so sánh . Bất cứ một bài tập nào, GV
cần làm theo các yêu cầu sau:
- Đọc kỹ đề bài
- Xác định đúng yêu cầu của bài
- Phân tích yêu cầu của bài
- Học sinh làm bài

đồng ,bờ biển Cửa Tùng) GV có thể cho học sinh tìm câu văn có sử dụng biện
pháp so sánh . Học sinh sẽ rất dễ dàng tìm ra câu :
- Mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển .
- Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi mồi
cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển.
Với những câu văn hay như thế, học sinh đã tìm được thì sẽ nhớ rất lâu
và sẽ áp dụng tốt trong việc viết văn của nình .
2) Tích hợp Biện pháp tu từ so sánh qua các môn học khác :
a) Dạy Tự nhiên xã hội :
5
Khi dạy bài “ Các thế hệ trong gia đình’’ Giáo viên có thể cho học sinh
tìm những câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ nói về tình cảm của những ngưòi
thân trong gia đình . Học sinh đại trà tìm tự do . Học sinh giỏi , giáo viên có thể
yêu cầu cao hơn( có sử dụng biện pháp so sánh )
- Anh em như thể tay chân
- Con hơn cha là nhà có phúc
- Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
b) Dạy Toán : Tích hợp biện pháp so sánh khi dạy Toán qua các dạng về
nhiều hơn , ít hơn , Điền dấu < , >, =., So sánh số lớn gấp mấy lần số bé ,Số bé
bằng một phần mấy số lớn …
III/ Dạy theo mô hình :
Bài tập về so sánh lớp 3 được chia làm 2 dạng:
- Dạng 1: Bài tập theo mẫu(Bài tập nhận biết ). Trọng tâm
- Dạng 2: Bài tập sáng tạo ( Bài tập vận dụng )
1)Dạng 1 : Giúp học sinh nhận biết các từ chỉ sự vật so sánh . Dạng bài tập này
rất đơn giản. Chủ yếu là nhận biết các sự vật so sánh thông qua các bài tập .
Dạng này chiếm đa số trong chương trình . Nó được xây dựng dựa trên 4 mô
hình sau:.
a) Mô hình 1: So sánh: Sự vật - Sự vật.

văn trên .
Có 2 phương án
Phương án 1: Gạch chân các từ chỉ sự vật so sánh trong các câu trên bằng bút
chì vào SGK
Phương án 2: Giáo viên phát phiếu học tập nhóm đôi. Các nhóm điền vào
phiếu
Câu Sự vật 1 Từ so sánh Sự vật 2
a) Hai bàn tay như hoa đầu cành
b) Mặt biển như tấm thảm khổng lồ
c) Cánh diều như dấu “ á”

Học sinh trình bày :
+ "Hai bàn tay em" so sánh với "hoa đầu cành"
+ "Mặt biển" so sánh với "tấm thảm khổng lồ".
+ "Cánh diều" so sánh với "dấu á"
+ "Dấu hỏi" so sánh với "vành tai nhỏ".
Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với
"Hoa đầu cành" hay vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"? Lúc đó
giáo viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào
giống nhau, chẳng hạn:
+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.
8
+ Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.
+ Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.
(Giáo viên có thể vẽ lên bảng "Cánh diều" và "Dấu á")
b)Tìm hiểu dạng A là B: Dạng này học sinh rất dễ nhầm lẫn giữa câu so sánh
với câu giới thiệu . Bởi lẽ, cả 2 kiểu câu này đều có từ “ là ”
Ví dụ :(Bài 1c, d trang 24,25): Tìm các hình ảnh so sánh trong câu :
c/ Mùa đông
Trời là cái tủ ướp lạnh

b)Dạng A là B:
Ví dụ : Bài tập 1/ trang 42,43( phương pháp dạy như mô hình 1)
"Ông là buổi trời chiều

10
Svật1(người)
Svật 2(Svật )

Cháu là ngày rạng sáng"

c) Dạng A chẳng bằng B:
Ví dụ: Bài tập 1c/trang 43 : Tìm các hình ảnh so sánh trong câu :
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
Đem nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời
Trần Quốc Minh
Dạng bài tập này chỉ cần học thực hiện được hai yêu cầu :
- Xác định sự vật so sánh ( ngôi sao - mẹ ) , ( mẹ - ngọn gió )
- Xác định từ so sánh ( Chẳng bằng , là )
Xác định được hai yêu cầu trên là học sinh đã xác định được hình ảnh so sánh .
1.3: Mô hình 3:So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
Mô hình này có dạng như sau:
+ A x B.
+ A như B.
* Ví dụbài tập 2 /trang 98:

Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào
được so sánh với nhau:
"Con trâu đen lông mượt

Mục tiêu: Giúp học sinh biết cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh .
Dạng bài tập này có tính tư duy, sáng tạo cao hơn.tuy nhiên , dạng bài tập
này trong SGK rất ít . Nó tập trung ở cuối chương trình HKI gồm 2 bài tập .
2.1: Nhìn tranh đặt câu
Tương tự Bài tập 3/SGKtrang126: Ta có thể đưa ra bài tập sau :
Ví dụ : Quan sát từng cặp tranh rồi viết các câu có hình ảnh so sánh
- Xe ô tô lao nhanh như tên bắn .
13
- Bóng đèn điện toả sáng như mặt trăng.
- Cây thông cao như ngọn tháp .
- Nụ cười của cô ấy xinh như hoa hồng .
- Thỏ thì hiền hơn báo.
2.2: Dạng bài tập điền khuyết :
Ví dụ : Bài tập 4 / SGKtrang 126: Tìm những từ ngữ thích hợp để điền vào
chỗ trống :
a) Công cha nghĩa mẹ được so sánh như , như
b) Trời mưa, đường đất sét trơn như
c) Ơ thành phố có nhiều toà nhà cao như
Ở mỗi câu , giáo viên nên để học sinh xác định sự vật đã cho để cho học
sinh có thể tìm nhiều từ cần điền .
Ví dụ : a) như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn chảy, như sông như biển
b) như bôi mỡ, xà phòng, đổ dầu
c) núi ,những ngọn tháp
Các bài tập mang tính sáng tạo này rất ít nên trong quá trình dạy , nhất là
các tiết Tiếng Việt (Tăng cường) Giáo viên nên đưa thêm những bài tập tương
tự hai dạng trên để học sinh khắc sâu kiến thức .
Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so
sánh: Ngang bằng và hơn kém. Kiểu so sánh này thường gặp các từ sơ sánh
như: Tựa, giống , giống như , không thua, không khác. ( So sánh bằng ) và các
từ hơn ,kém, thua , chẳng bằng ( so sánh hơn kém ).

- Học sinh 1 (HS1) lên “bốc thăm”, mở phiếu đọc từ cho các bạn nghe rồi
nêu thật nhanh cụm từ có hình ảnh so sánh để làm rõ nghĩa từ đó.
- Ví dụ: HS1: “bốc thăm” được từ trắng – Có thể nêu cum từ so sánh:
trắng như tuyết, trắng như vôi, ( hoặc : trắng như trứng gà bóc ).
- Trọng tài cùng cả lớp chứng kiến và xác nhận kết quả Đúng- Sai
+ Đúng được bao nhiêu kết quả được bấy nhiêu điểm .
+ Trọng tài đếm từ 1-5 vẫn không nêu được kết quả thì không có điểm .
- Lần lượt 5 học sinh lên bốc thăm thử tài .Hết 5 phiếu thì về chỗ , thư kí
công bố kết quả .
- Mỗi bộ phiếu sẽ chọn ra 1 người có tài so sánh cao nhất là người thắng
cuộc.
• Cách tiến hành này có thể thay đổi tùy sự linh động của giáo viên .
Cũng có thể mỗi học sinh lần lược bốc cả 5 phiếu . Mỗi phiếu chỉ cần
nêu 1 cụm từ . Người thứ không được nêu lặp cụm từ của người
trước . Hoặc cũng có thể bốc cả 5 phiếu và tiến hành theo nhóm .
Nhóm nào tìm được nhiều cụm từ nhất thì nhóm đó thắng .
Tham khảo:
1/ Gợi ý các cụm từ có hình ảnh so sánh nêu ở mục chuẩn bị
Bộ phiếu A: ( 5 từ chỉ hoạt động, trạng thái)
- Đọc : Đọc như đọc kinh, đọc như cuốc kêu, đọc như nói thầm
16
- Viết : viết như gà bới , viết như giun bò , viết như rồng bay phượng múa,
viết như in,
- Cười : cười như nắc nẻ, cười như pháo nổ , cười như mếu,
- Nói : nói như khướu, nới như vẹt, nói như Trạng Quỳnh, nói như thánh
tướng ,
- Khóc : khóc như mưa, khóc như cha chết ,
Bộ phiếu B ( 5 phiếu từ chỉ màu sắc ):
- Trắng : trắng như trứng gà bóc , trắng như tuyết , trắng như vôi, trắng
như bột lọc , trắng như ngà voi ,

Bộ phiếu G: (5 phiếu từ chỉ đặc điểm, tính chất )
- Gầy : gầy như cò hương, gầy như hạc, gầy như que tăm, gầy như cây củi,
gầy như ống sậy,
- Hiền : hiền như phật, hiền như bụt, hiền như cô Tấm , hiền như đất ,
- Dữ : dữ như báo, dữ như cọp, dữ như hổ, dữ như chó sói ,
- Tròn : tròn như bi ve, tròn như cái đĩa, tròn như quả bóng ,
- Cong: cong như lưỡi liềm, cong như cầu vồng, cong như con tôm, cong
như cánh cung,
18
* Kết luận : Khi hướng dẫn học sinh tìm biện pháp tu từ so sánh và sử dụng triệt
để các biện pháp trên . Tập trung trò chơi ở phần củng cố và các tiết tăng cường,
TôI khảo sát học sinh lớp 3A cuối năm học 2010-2011 đạt kết quả như sau:
Số học sinh có kĩ năng nhận
dạng và sử dụng tốt tu từ so
sánh
Số học sinh có kỹ
năng nhận dạng và sử
dụng được .
Số học sinh chưa có
kỹ năng nhận dạng
18/26 8/26 Không
Phần thứ ba:
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Qua kinh nghiệm rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3.
Bản thân tôi thấy rằng cần hướng và rèn cho học sinh những kỹ năng sau:
* Về phía học sinh:
- Chuẩn bị kĩ bài trước khi đến lớp .
- Học sinh tự củng cố vốn kiến thức của mình bằng cách đọc nhiều sách báo
phù hợp với lứa tuổi, xem băng hình, quan sát tranh
- Cho học sinh giao lưu trực tiếp với các bạn trong lớp, trong trường sau mỗi bài

20
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status