UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG CHÈ NGUYÊN LIỆU
TẠI CÔNG TY CHÈ PHÚ BỀN THANH BA, PHÚ THỌ
Chủ nhiệm đề tài:
Cộng tác viên:
Phú Thọ - 2013
1
ThS. Nguyễn Thị Thu Hương
ThS. Phạm Thị Thu Hương
ThS. Phạm Thị Thu Hường
MỤC LỤC
i
DANH MỤC BẢNG
ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT KÝ HIỆU NỘI DUNG
1 BVTV Bảo vệ thực vật
2 CTC Công nghệ chè đen CTC
3 QĐ Quyết định
4 KD Kinh doanh
5 NVL Nguyên vật liệu
iii
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mọi tổ chức, cung ứng luôn là
hoạt động không thể thiếu. Xã hội càng phát triển, cung ứng càng khẳng định rõ
hơn vai trò quan trọng của mình. Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa nền
kinh tế thế giới, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cung ứng đã thực sự trở thành vũ
tại công ty Chè Phú Bền Thanh Ba, Phú Thọ.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động cung ứng
nguyên liệu cho sản xuất trong các doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động cung ứng chè nguyên liệu tại công
ty chè Phú Bền Thanh Ba, Phú Thọ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cung ứng chè
nguyên liệu tại công ty chè Phú Bền trong thời gian tới.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động cung ứng chè nguyên liệu
cho sản xuất và xuất khẩu chè tại công ty chè Phú Bền Thanh Ba, Phú Thọ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian
Đề tài được triển khai thu thập thông tin từ địa bàn cung cấp nguyên liệu
của công ty chè Phú Bền Thanh Ba, Phú Thọ là: Thanh Ba, Đoan Hùng, Hạ Hòa.
- Về thời gian:
+ Thời gian của số liệu thứ cấp từ 2008 – 2012
2
+ Thời gian thực hiện đề tài: Năm 2013.
- Về nội dung:
+ Nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động cung ứng chè nguyên liệu
búp tươi tại công ty chè Phú Bền Thanh Ba, Phú Thọ từ khâu quy hoạch vùng
nguyên liệu và tổ chức sản xuất chè nguyên liệu búp tươi…
+ Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc quản lý hoạt động
cung ứng chè nguyên liệu cho xuất khẩu tại công ty chè Phú Bền Thanh Ba, Phú
Thọ trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến nhằm định hoàn thiện hoạt động cung
ứng chè cho công ty chè Phú Bền Thanh Ba, Phú Thọ.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
4.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
đã được công bố từ các cơ quan thống kê các cấp, các báo cáo tổng kết, báo cáo
tài chính hàng năm của công ty, kết quả nghiên cứu của các đề tài có liên quan
qua các năm từ 2010 đến năm 2012 nhằm phục vụ cho từng nội dung của đề tài:
bổ sung hoàn chỉnh cơ sở lý luận của đề tài, những thông tin chung của vùng
nghiên cứu nhằm hệ thống hóa tài liệu trong vùng nghiên cứu, làm cơ sở đưa ra
định hướng và giải pháp.
- Số liệu thu thập được sàng lọc và tính toán qua bảng tính Excel.
- Phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả nghiên cứu các hiện tượng
kinh tế xã hội bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được. Phương pháp
này chúng tôi sử dụng để phân tích thực trạng về sản xuất kinh doanh của công
ty qua các năm có liên quan chặt chẽ đến việc cung ứng chè nguyên liệu của
công ty giai đoạn 2010 – 2012.
4
- Phân tích bằng phương pháp thống kê so sánh được áp dụng để so sánh
kết quả sản xuất kinh doanh, diện tích, năng suất, chất lượng và sự điều chỉnh giá
thu mua nguyên liệu chè búp tươi ảnh hưởng đến quy hoạch và tạo vùng nguyên
liệu cung ứng ổn định cho công ty.
- Phương pháp minh hoạ bằng sơ đồ: Phương pháp sơ đồ hóa được ứng
dụng để thể hiện mô tả về bộ máy quản lý của công ty và bộ máy quản lý hoạt
động cung ứng chè nguyên liệu cho công ty.
- Ngoài ra, đề tài phân tích và luận giải vấn đề bằng lối diễn dịch và quy
nạp, tìm ra các hạn chế, nguyên nhân hạn chế của việc quản lý hoạt động cung
ứng chè nguyên liệu cho công ty và đề xuất giải pháp nhằm khắc phục các hạn
chế đã nêu ra.
5. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có thể trở
thành nguồn liệu tham khảo giúp các công ty Chè thuộc loại hình công ty 100%
vốn nước ngoài nói chung và công ty chè Phú Bền Thanh Ba, Phú Thọ nói riêng
xây dựng quy hoạch và kế hoạch quản lý hoạt động cung ứng chè nguyên liệu để
ổn định sản xuất. Đề tài nghiên cứu tương đối toàn diện về hệ thống, không chỉ
Quản trị (Management) là hoạt động không thể thiếu trong mọi doanh
nghiệp, mọi tổ chức. Theo Stoner và Robbins “Quản trị là tiến trình bao gồm
việc hoạch định, tổ chức, quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong một
đơn vị một cách có hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó”. Trong
mỗi tổ chức quản trị đóng vai trò đặc biệt quan trọng, các tác giả của giáo trình “
Những vấn đề căn bản về quản trị”, Koontz và O’Donnell, đã viết: “có lẽ không
có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn công tác quản trị, bởi vì
mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là
6
thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau
theo nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”. Như vậy
quản trị được thực hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động, mọi bộ phận của tổ chức,
doanh nghiệp được tiến hành liên tục, nhịp nhàng và có hiệu quả (Đoàn Thị
Hồng Vân, 2011).
Quản trị cung ứng là chuỗi hoạt động phức tạp, trong đó các nhà quản trị
tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động của
tổ chức diễn ra liên tục, nhịp nhàng và hiệu quả. Nói cách khác, quản trị cung
ứng là tổng hợp các hoạt động hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm
soát toàn bộ hoạt động cung ứng của đơn vị nhằm đạt được mục tiêu đề ra một
cách có hiệu quả nhất.
Quản trị cung ứng là tiếp cận một cách khoa học – toàn diện và có hệ
thống quá trình cung ứng, nhằm thực hiện cung ứng một cách có hiệu quả.
1.2. Quản lý cung ứng nguyên vật liệu
1.2.1. Khái niệm quản lý cung ứng nguyên vật liệu
Quản lý cung ứng nguyên vật liệu (NVL) là hoạt động của các nhà quản
trị nhằm làm cho NVL được đưa vào quá trình sản xuất được đều đặn và thuận
lợi. Mục tiêu của việc quản lý này nhằm tạo ra nhiều giá trị và tạo ra lợi thế so
sánh của công ty với mức chi phí thấp nhất.
Giảm chi phí thông qua việc quản lý một cách chặt chẽ và khoa học các
NVL là con đường giúp công ty đạt hiệu quả cao trong sản xuất. Trong các công
mua NVL như: Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, vận chuyển, sản xuất NVL, thông
tin liên lạc, thuế, các nghĩa vụ xuất nhập khẩu và quản lý. Do các mối quan hệ về
mặt tổ chức tăng lên nhanh chóng nên chúng ta cần phải quản lý và kiểm soát
chúng. Những mối quan hệ này có sự tham gia của các yếu tố vật chất, vốn,
8
thông tin và con người mà công ty cần phải tổ chức phối hợp trong quá trình sản
xuất ra sản phẩm và tạo ra giá trị.
Như chúng ta biết, việc mua NVL, sản xuất và phân phối không phải là
các vấn đề riêng lẻ mà là 3 mặt của một vấn đề cơ bản; đó là kiểm soát dòng
NVL và sản phẩm mua từ nhà cung cấp, qua chế tạo và sau đó phân phối đến tay
người tiêu dùng. Phương pháp quản lý NVL truyền thống là phương pháp không
có sự quản lý thống nhất giữa các khâu mua NVL, lập kế hoạch, kiểm soát sản
xuất và phân phối sản phẩm. Trong phương pháp này, kế hoạch và kiểm soát
thuộc chức năng của khâu sản xuất, phân phối sản phẩm thuộc chức năng của
khâu marketing. Phương pháp quản lý mới chú trọng sự thống nhất của các hoạt
động nói trên. Các hoạt động mua NVL, kế hoạch và kiểm soát sản xuất, phân
phối sản phẩm đều thuộc chức năng của khâu quản lý NVL. Phương pháp tổ
chức này phát huy vai trò quản lý NVL trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Một vấn đề cần quan tâm trong quản lý NVL là lựa chọn giữa quản lý tập
trung hay không tập trung ở cấp công ty. Nếu chức năng này được tập trung tại
cấp công ty thì sẽ tạo hiệu quả trong quá trình thực hiện mục tiêu của công
ty.Tuy nhiên, đối với những nhà kinh doanh trên phạm vi quốc tế rộng lớn bao
gồm nhiều nhà máy sản xuất ở các nước khác nhau thì việc tập trung quản lý sẽ
dẫn đến các trường hợp quá tải và không hiệu quả kinh tế. Nên chức năng này
không tập trung tại cấp công ty mà nên phân cho các cấp nhà máy trong công ty
nhưng vẫn có sự kiểm soát của công ty để quản lý tập trung thống nhất. Ưu thế
của hình thức quản lý không tập trung trong chức năng này là vận dụng những
hiểu biết và kỹ thuật đặc thù của từng nhà máy đối với các nhà cung cấp trong
các khu vực lãnh thổ khác nhau để có những quyết định phù hợp.
Tuy vậy, khiếm khuyết của hình thức quản lý không tập trung là thiếu sự
MACHINES – máy móc
MANPOWER – nhân lực
5 M MATERIALS – nguyên vật liệu
MONEY – tiền
MANGEMENT – quản lý
Trong đó, hoạt động cung ứng đảm bảo 2 yếu tố: Máy móc, thiết bị và
nguyên vật liệu. Nếu hoạt động cung ứng tốt: Cung cấp đầy đủ, kịp thời máy
móc, trang thiết bị, nguyên vật liệu, với máy móc đạt chất lượng tốt, công nghệ
tiên tiến, nguyên vật liệu tốt, giá rẻ… Thì hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp mới có thể diễn ra liên tục, nhịp nhàng, với năng suất cao, tiết
kiệm chi phí và làm ra sản phẩm đạt chất lượng tốt, giá thành hạ, đáp ứng yêu
cầu của người tiêu dùng. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, chi phí nguyên vật
liệu chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong giá thành sản phẩm thì cung ứng càng có
ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của tổ chức.
1.3.1.3. Quản trị cung ứng đóng vai trò người quản lý hoạt động sản xuất từ bên ngoài
Để đáp ứng nhu cầu nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc cho sản xuất,
có 2 nguồn: Doanh nghiệp tự sản xuất hoặc thu mua, đặt hàng từ bên ngoài
Nếu cung ứng làm tốt chức năng của mình: Cung cấp nguyên vật liệu
đúng tên gọi và chất lượng, đủ số lượng, kịp thời gian và với chi phí thấp, thì sản
xuất sẽ tiến hành liên tục, nhịp nhàng, mang lại hiệu quả cao: Còn ngược lại thì
sản xuất sẽ bị gián đoạn và hiệu quả thấp. Cung ứng không chỉ điều phối hoạt
động sản xuất - kinh doanh của chính doanh nghiệp của mình mà còn có khả
năng can thiệp, chi phối hoạt động sản xuất – kinh doanh của các nhà cung cấp
(hỗ trợ tài chính, cung cấp trang thiết bị phù hợp, hướng dẫn kỹ thuật…). Do
vậy, cung ứng chính là người điều phối sản xuất từ bên ngoài.
11
1.3.2. Ý nghĩa của quản trị cung ứng
Cung ứng có ý nghĩa rất to lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cụ thể:
- Đảm bảo cho sản xuất tiến hành nhịp nhàng, liên tục.
- Tạo điều kiện nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất, kích thích các
hoạch sản xuất – kinh doanh được thực hiện. Vì vậy, kế hoạch cung ứng được
lập một cách khoa học, đúng đắn là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho sản xuất
được đều đặn, nhịp nhàng, đồng thời giảm được chi phí, đem lại hiệu quả kinh tế
cho doanh nghiệp.
Xác định nhu cầu NVL là bước đầu tiên của việc lập kế hoạch cung ứng,
nên nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ông cha ta đã dạy: “Vạn sự khởi đầu
nan”, việc đảm bảo NVL cho sản xuất có được kịp thời, đầy đủ, đúng yêu cầu về
số lượng, chất lượng, chủng loại… hay không, một phần lớn do việc tính toán
nhu cầu nguyên NVL quyết định.
Xác định nhu cầu NVL là một việc rất phức tạp. Để quá trình sản xuất có
thể diễn ra liên tục, nhịp nhàng, thì cần xác định chính xác nhu cầu và cung ứng
NVL đầy đủ cho nhiều mục đích khác nhau. Chỉ tính riêng cho việc hoàn thành
nhiệm vụ sản xuất chính, thì ngoài nhu cầu NVL cho sản xuất sản phẩm, còn
phải tính đến nhu cầu NVL cho xây dựng cơ bản, nhu cầu NVL cho hoạt động
nghiên cứu và phát triển, nhu cầu NVL cho dự trữ…
Đối với mỗi loại nhu cầu, có nghiệp vụ và phương pháp tính toán riêng.
Mặc dù có nhiều điểm khác biệt, những công thức tính riêng biệt, nhưng nhìn
chung, muốn xác định nhu cầu NVL đều phải dựa vào hai căn cứ: kế hoạch sản
xuất và mức sử dụng NVL.
b. Căn cứ để xác định nhu cầu nguyên liệu
* Kế hoạch sản xuất – kinh doanh
Kế hoạc sản xuất là căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch cung ứng NVL.
Mục tiêu của kế hoạch sản xuất là sắp xếp sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực
của công ty, phối hợp hoạt động của các cá nhân, bộ phận trong công ty để thực
13
hiện quá trình sản xuất đạt chất lượng tốt, đúng lịch trình đã định, với tổng chi
phí thấp nhất.
Lập kế hoạch sản xuất và quản trị sản xuất có tầm quan trọng đặc biệt,
quyết định sự sống còn của doanh nghiệp nên trong mọi thời đại người ta đều hết
sức quan tâm đến lĩnh vực này. Nếu như trước đây, các công ty đều lập kế hoạch
đầu của toàn bộ quá trình cung ứng vật tư. Nhưng nếu nhu cầu được xác định
chính xác, mà không có nguồn cung cấp thích hợp, thì quá trình cung ứng không
thể thực hiện tốt được, việc xác định nhu cầu trở thành vô nghĩa. Vì vậy phải hết
sức chú ý đến khâu chọn nguồn cung cấp.
Vật tư để đảm bảo cho sản xuất, có thể đến từ hai nguồn:
- Tự làm lấy (nguồn nội bộ công ty)
- Đi mua (nguồn cung cấp bên ngoài)
Để chọn được nguồn cung cấp thích hợp, câu hỏi đầu tiên được đặt ra: tự
làm hay đi mua? (Make or Buy?). Lời đáp khoa học cho câu hỏi này sẽ tìm được
trên cơ sở phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của doanh
nghiệp. Nếu việc sản xuất những mặt hàng doanh nghiệp có nhu cầu phù hợp với
thế mạnh, tiềm năng, chiến lược phát triển của doanh nghiệp, thì nên tự sản xuất.
Còn nếu ngược lại thì nên đi mua. Khi đã quyết định đi mua, thì cần chọn cho
được các nhà cung cấp tiềm năng. Cần có sự so sánh, phân tích khĩ lưỡng về ưu,
nhược điểm của các nhà cung cấp, về chất lượng, số lượng, giá cả, thời gian giao
hàng… của các hàng hóa họ có thể cung cấp.
b. Phát triển và duy trì nguồn cung cấp nguyên vật liệu bền vững
Xây dựng được nguồn cung cấp tốt, bền vững là điều tối cần thiết đảm bảo
cho sự tồn tại và phát triển của một công ty trong điều kiện hội nhập toàn cầu và
cạnh tranh gay gắt hiện nay. Nguồn cung cấp tốt là tài sản vô giá của công ty, nó
cũng có vị trí quan trọng không hề thua kém vai trò của các kỹ sư thiết kế và đội
ngũ công nhân lành nghề. Đặc biệt đối với các công ty công nghệ cao, kỹ thuật
hiện đại, nguyên liệu đầu vao khan hiếm, thì nguồn cung cấp lại càng có ý nghĩa
15
to lớn hơn. Chính vì lẽ đó, mà giờ đây các công ty, tập đoàn lớn đều hết sức quan
tâm xây dựng nguồn cung cấp bền vững.
1.5.2. Tổ chức trong quản trị cung ứng nguyên liệu
Tổ chức trong quản trị cung ứng nguyên liệu là hệ thống những hoạt động
hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức
nhằm đạt mục tiêu chung.
chi phí NVL, nâng cao chất lượng NVL, quản lý dòng lưu chuyển NVL trong
toàn bộ hệ thống từ khâu thu mua, sản xuất, vận chuyển nhằm đáp ứng tốt nhu
cầu thị trường
Quản trị cung ứng nguyên vật liệu nhằm hỗ trợ cho bộ phận sản xuất và
những khách hàng nội bộ khác mà không phải là người tiêu dùng cuối cùng nên
nó khác với quản trị quá trình phân phối sản phẩm.
Nội dung quy trình cung ứng NVL bao gồm: Xác định nhu cầu NVL, lựa
chọn nhà cung cấp, lập đơn hàng, ký hợp đồng cung ứng, tổ chức đơn đặt hàng
và nhập kho – bảo quản – cung cấp cho các bộ phận có nhu cầu
1.5.4. Kiểm tra hoạt động cung ứng nguyên liệu
Sau khi đã đề ra những mục tiêu, xác định những kế hoạch, vạch rõ việc
xếp đặt cơ cấu, tuyển dụng, huấn luyện và động viên nhân sự, công việc còn lại
vẫn còn có thể thất bại nếu không kiểm tra. Công tác kiểm tra bao gồm việc xác
định thành quả, so sánh thành quả thực tế với thành quả đã được xác định và tiến
hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch, nhằm bảo đảm tổ chức đang trên
đường đi đúng hướng để hoàn thành mục tiêu.
17
Quản lý hoạt động cung ứng nguyên liệu không những kiểm tra về mặt số
lượng, cách thức và mặt hàng cung ứng mà còn kiểm tra nghiêm ngặt về quy
trình tạo ra nguyên liệu tại các hộ dân tạo vùng nguyên liệu cho công ty. Bởi lẽ
nếu không kiểm soát tốt chất lượng nguyên liệu từ khâu tạo ra nguyên liệu sẽ ảnh
hưởng lớn tới nguyên liệu thành phẩm sau này và không thể khắc phục nổi, ví dụ
như dư lượng thuốc bảo vệ thực vật còn tồn đọng trong, nguyên liệu bị nhiễm tạp
chất
Bên cạnh đó, việc dự trữ nguyên vật liệu giúp công ty chủ động trong sản xuất.
Dự trữ bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm, dụng cụ phụ tùng, thành phẩm
dự trữ… Nguyên vật liệu dự trữ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của
doanh nghiệp. Do vậy, việc quản lý, kiểm soát tốt nguyên vật liệu dự trữ rất quan
trọng và góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất liên tục, có hiệu quả.
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động cung ứng nguyên liệu
Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt doanh nghiệp đó sẽ có điều kiện thuận
lợi để đầu tư cho hoạt động cung ứng nguyên liệu tốt hơn. Ngược lại nếu hoạt
động cung ứng chè nguyên liệu được đầu tư thỏa đáng là cơ sở giúp doanh
nghiệp chè thu lợi nhuận cao, uy tín với khách hàng và có điều kiện mở rộng sản
xuất, kinh doanh.
Điều kiện cơ sở vật chất và công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến công tác
cung ứng nguyên liệu trong doanh nghiệp. Bởi vì khi điều kiện cơ sở vật chất và
công nghệ được đảm bảo thì công ty mới có đủ điều kiện thuận lợi để kiểm tra,
giám sát sự chuẩn hóa sản phẩm từ khâu nguyên liệu đầu vào, từ công tác quy
hoạch vùng cung ứng nguyên liệu đến hệ thống máy móc, trang thiết bị để cơ
giới hóa cũng như sử dụng các giống mới nhằm nâng cao năng suất và chất
lượng vùng cung ứng nguyên liệu cho công ty.
19
1.6.1.3. Cơ cấu của tổ chức và lực lượng lao động hiện tại của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức càng đơn giản thì việc ra quyết định càng nhanh chóng, sự
trao đổi thông tin thuận lợi và mức độ gắn kết các bộ phận càng cao. Ngược lại,
tổ chức bộ máy càng cồng kềnh, phức tạp thì quản lý càng khó, dẫn đến trong
công tác quản trị hoạt động cung ứng nguyên vật liệu sẽ khó thực hiện một cách
đồng bộ và linh hoạt. Ngoài ra sự thay đổi cơ cấu tổ chức cũng ảnh hưởng đến
hoạt động quản trị các yếu tố đầu vào nói chung trong doanh nghiệp và nguyên
vật liệu nói riêng. Do vậy, đối với doanh nghiệp lớn công tác quản trị hoạt động
cung ứng nguyên vật liệu là rất cần thiết và phải được thực hiện một cách đồng
bộ linh hoạt.
Ngoài ra các yếu tố về trình độ chuyên môn của người lao động, nguồn tài
chính chi cho hoạt động đầu tư cung ứng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nói
chung và nguyên liệu cho công ty chè nói riêng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới
sự tồn tại và phát triển bền vững của các công ty.
1.6.2. Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài của doanh nghiệp
Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp bao gồm: Chủ
trương, chính sách của Nhà nước; Môi trường pháp lý của doanh nghiệp; Khoa
hại đến sức khỏe người tiêu dùng và uy tín của sản phẩm, uy tín của công ty.
* Sự tiến bộ của khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ ngày càng phát triển hiện đại, điều này đã kéo theo
sự thay đổi của hàng loạt các hoạt động trong tổ chức như thay đổi về dây
chuyền công nghệ, máy móc thiết bị, các giống chè được cải tạo cả về năng suất
và chất lượng. Hoạt động chăm sóc và thu hoạch chè búp tươi đã dần được cơ
giới hóa giúp tăng năng suất lao động, giảm tổn thất khi thu hoạch và tạo ra độ
đồng đều của sản phẩm tốt hơn khi sử dụng các biện pháp thủ công.
21