Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU GIÁ TRỊ LIÊN KẾT CỦA TỪ NỐI
THEO PHẠM TRÙ TƢƠNG PHẢN - NHƢỢNG BỘ
(QUA TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO,
NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN NGỌC TƢ) LUẬN VĂ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Văn Tình
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất cứ một công trình khoa học nào ./.
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập khóa học đào tạo Thạc sĩ tại trường Đại học Sư
3
3. Lịch sử vấn đề
3
3.1. Ngoài nước
3
3.2. Trong nước
4
4. Mục đích, và nhiệm vụ nghiên cứu
5
4.1. Mục đích nghiên cứu
5
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
6
6. Đóng góp của luận văn
7
7. Cấu trúc luận văn
7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
8
1.1. Khái quát về ngữ pháp văn bản
8
1.1.1. Văn bản
8
1.1.2. Diễn ngôn
9
1.2. Liên kết văn bản
9
1.2.1. Liên kết
25
1.4. Các từ nối thuộc phạm trù Tƣơng phản - Nhƣợng bộ
28
1.5. Vài nét về tác giả Nam Cao, Nguyễn Minh Châu và Nguyễn
Ngọc Tƣ
28
1.5.1. Nam Cao
28
1.5.2. Nguyễn Minh Châu
29
1.5.3. Nguyễn Ngọc Tư
31
1.6. Tiểu kết
32
Chƣơng 2: KHẢO SÁT VỀ TÍNH LIÊN KẾT CỦA NHÓM TỪ NỐI
THEO PHẠM TRÙ TƢƠNG PHẢN - NHƢỢNG BỘ
33
2.1. Mở đầu
33
2.2. Tổng quát về số lƣợt các từ nối theo phạm trù Tƣơng phản -
Nhƣợng bộ đƣợc các tác giả sử dụng
34
2.3. Các từ nối và hình thức liên kết
35
2.3.1. Vị trí của từ nối trong các phát ngôn
35
2.3.2. Số lượng phát ngôn có từ nối chi phối
35
2.4. Liên kết ngữ nghĩa của từ nối theo phạm trù Tƣơng phản -
Nhƣợng bộ
66
3.2.1. Giá trị liên kết cấu trúc
66
3.2.1.1. Tạo giá trị lập luận cho văn bản
66
3.2.1.2. Mở rộng phạm vi liên kết
71
3.2.2. Giá trị liên kết ngữ nghĩa
77
3.2.2.1. Tạo một hướng triển khai diễn đạt ngữ nghĩa
77
3.2.2.2. Tạo sự suy luận và hàm ý
81
3.3. Cách thức sử dụng và phong cách của tác giả
85
3.3.1. Cách thức sử dụng
85
3.3.2. Phong cách tác giả
88
3.4. Tiểu kết
93
KẾT LUẬN
94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
97
NGUỒN XUẤT XỨ TƢ LIỆU
100
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thông thường chúng ta giao tiếp với nhau không phải bằng một câu hoặc
những câu rời rạc mà bằng những câu có liên quan với nhau. Từ những năm 50
của thế kỉ trước, chuyên ngành Ngôn ngữ học đã bằng lòng coi câu là đơn vị
cao nhất, hoàn chỉnh nhất, không có đơn vị nào có cấp bậc cao hơn câu kể cả
các nhóm câu kết hợp lại với nhau. Nhà ngôn ngữ học Pháp E.Benveniste đã
khẳng định: “Nhóm các câu không tạo nên một đơn vị bậc cao hơn so với câu.
Cấp độ ngôn ngữ nằm trên cấp độ vị từ (tức cấp độ câu- TNT) là không có”.
Và cứ theo quan niệm như trên, một thời gian dài các nhà nghiên cứu ngữ pháp
chỉ dừng lại ở giới hạn câu. Thế nhưng khi đi vào sử dụng, quan niệm cho rằng,
câu là đơn vị cao nhất đã bộc lộ nhiều hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu
của lí luận, thực tiễn và gây ra nhiều tranh cãi. Để khắc phục được nhược điểm
này, một bộ môn mới nghiên cứu các đơn vị trên câu đã ra đời đó là: Ngôn ngữ
học văn bản.
Văn bản hoàn toàn không phải là một phép cộng đơn thuần của các câu
có nghĩa mà giữa chúng phải có sợi dây liên hệ chặt chẽ tạo thành một chỉnh
thể thống nhất, trọn vẹn, rõ ràng, mạch lạc. Vì vậy, đối với mỗi một văn bản
phương tiện liên kết là nhân tố quan trọng, đồng thời là yêu cầu bắt buộc.
Để tạo thành văn bản liên kết, các câu trong đó phải gắn bó với nhau
theo một nguyên tắc nhất định và theo những phương thức nhất định. Có rất
nhiều phép liên kết được thể hiện trong văn bản (phép lặp, phép thế, phép đối,
phép nối, phép tỉnh lược, phép liên tưởng…). Trong đó, các từ (và cụm từ) nối
đã được nghiên cứu khá sâu trên phương diện ngữ pháp. Nhưng trên phương
diện ngữ dụng lại chưa được quan tâm nhiều. Chỉ mới mười lăm năm trở lại
đây, khi mà dụng học được khẳng định và tỏ ra là một địa hạt hiệu quả trong
việc giải thích những hiện tượng ngôn ngữ trong hoạt động tương tác ngôn từ
thì người ta mới chú ý nhiều tới nhân tố dụng ngôn của nhóm từ này. Có thể kể
đến những tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
Châu, Bùi Minh Toán, Nguyễn Văn Hiệp… đã có những đóng góp nhất định
trong việc nghiên cứu vấn đề này.
Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: Giá trị liên kết của từ nối theo
phạm trù Tương phản - Nhượng bộ (qua truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư) để đi sâu, tìm hiểu giá trị liên kết logic và liên
kết ngữ nghĩa của các từ nối thuộc phạm trù Tương phản - Nhượng bộ trên cơ
sở nguồn tư liệu là tác phẩm của các nhà văn: Nam Cao, Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Ngọc Tư.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi là một đề tài luận văn cao học, chúng tôi lựa chọn từ nối
thuộc phạm trù Tương phản - Nhượng bộ để nghiên cứu. "Tương phản" là chỉ
sự vật có tính chất khác biệt, trái ngược nhau. Còn "Nhượng bộ" là có sự nhún
nhường, điều chỉnh thực tế sao cho thích hợp với hoàn cảnh. "Tương phản -
Nhượng bộ" ở đây chỉ một phạm trù ngữ nghĩa chung của nhóm từ nối: Nhưng,
Song, Trái lại, Ngược lại, Tuy vậy, Tuy nhiên, Mặc dù, Mặt khác, Dẫu, Dẫu
sao… nhằm hướng tới một cách diễn đạt ngữ nghĩa theo ý đồ giao tiếp của
người nói. Vấn đề này nằm trong phạm vi giao tiếp liên phát ngôn. Những tác
phẩm mà chúng tôi chọn lựa để làm cứ liệu khảo sát là các truyện ngắn của ba
nhà văn tiêu biểu cho ba giai đoạn văn học khác nhau, đó là: Nam Cao, Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư.
tiếng Việt” [36] đã được công bố đánh dấu bước phát triển mới của việc nghiên
cứu văn bản nói chung và phép nối nói riêng. Công trình đã đề cập đến khái
niệm “liên kết văn bản” và bước đầu phân tích “các phương thức liên kết giữa
các phát ngôn”. Trong đó, dựa trên các loại phát ngôn, tác giả đã chia phép liên
kết thành hai loại cơ bản: phép nối lỏng và phép nối chặt.
Năm 2001, Nhà xuất bản Giáo dục ra mắt công trình “Hệ thống liên kết
lời nói tiếng Việt” của Nguyễn Thị Việt Thanh [33].Trong đó, tác giả đã chia
liên kết lời nói thành hai phương thức: ngữ kết học và ngữ dụng học. Phương
thức ngữ kết học lại được chia thành ba tiểu loại: liên kết duy trì chủ đề, liên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
kết phát triển chủ đề và liên kết logic. Trong đó, phép nối thuộc phương thức
liên kết logic.
Năm 2006, quyển “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt: Văn bản, mạch
lạc, liên kết, đoạn văn” của Diệp Quang Ban được tái bản lần thứ 3 [3]. Trong
công trình này, tác giả đã đề cập đến phép liên kết, trong đó có phép nối. Tác
giả Diệp Quang Ban đã chia phép nối thành hai loại cơ bản: phép nối lỏng và
phép nối chặt.
Năm 2007, Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dụng học Việt Ngữ”
[15, tr. 35] đã chia phép nối thành bốn loại theo quan hệ ngữ nghĩa của chúng:
đồng hướng, ngược hướng, nhân quả và thời gian - trình tự. Ngoài ra, tác giả
còn đề cập đến liên kết hồi chỉ và liên kết khứ chỉ.
Một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về vấn đề liên kết trong luận
văn của mình: Phan Thu Trang (2001), Dương Thị Bích Hạnh (2003), Phan Thị
Thu Hà (2004), Vũ Thị Thu Hương ( 2012)… Các luận văn này đề cập tới phép
nối hoặc phép liên kết từ vựng trên những nguồn tư liệu khác nhau.
4. Mục đích, và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Phương pháp phân tích logic ngữ nghĩa: Chúng tôi nghiên cứu các từ
nối thuộc phạm trù Tương phản - Nhượng bộ thông qua những biểu thức logic
của chúng. Từ những biểu thức logic này, chúng tôi sẽ phân tích phạm vi hoạt
động và chức năng của các từ nối này trong vai trò là tác tử logic.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Khi dùng ngôn ngữ để giao tiếp,
người ta thường nói ra những câu, những phát ngôn, chứ không phải nói ra
những từ rời rạc. Tại đó, các từ kết hợp với nhau theo những quy tắc và chuẩn
mực của ngôn ngữ. Cũng trong câu hoặc phát ngôn cụ thể, người ta mới biết
được rằng: tại trường hợp, hoàn cảnh cụ thể này, từ có nghĩa gì (tức là nó bộc
lộ nghĩa nào trong số các nghĩa của nó). Do vậy, chúng tôi sử dụng phương
pháp diễn ngôn để đặt cách phát ngôn vào những ngữ cảnh cụ thể của nó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
Đề tài của chúng tôi sử dụng các phương pháp này nhằm tạo lập nên
những lập luận vững chắc, chặt chẽ.
6. Đóng góp của luận văn
Về mặt lí luận, đề tài này sẽ mô tả và rút ra được những đặc điểm về liên
kết logic và liên kết ngữ nghĩa mà các từ nối thuộc phạm trù Tương phản -
Nhượng bộ thể hiện trong văn bản, đóng góp một phần nhỏ vào hoàn thiện việc
nghiên cứu hệ thống các phương thức liên kết trong văn bản.
Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu giá trị liên kết của các từ nối thuộc
phạm trù Tương phản - Nhượng bộ sẽ giúp cho công tác giảng dạy văn bản và
liên kết văn bản trong nhà trường hiệu quả hơn. Nhờ đó mà học sinh, sinh viên,
người giảng dạy, thậm chí cả các nhà nghiên cứu có thể sử dụng từ, ngữ câu
một cách chính xác về nghĩa trong quá trình tạo lập văn bản (cả nói và viết).
Luận văn cũng góp thêm một tiếng nói trong xu hướng nghiên cứu phong cách
văn bản.
7. Cấu trúc luận văn
bản nói.
Diệp Quang Ban trong công trình “Văn bản và liên kết trong tiếng Viêt”
đã đề cập đến định nghĩa của Barthles như sau: “Chúng ta sẽ gọi cái khách thể
của xuyên ngôn ngữ học (tranlinguistic) là diễn ngôn (discourse) tương tự như
văn bản - text do ngôn ngữ học nghiên cứu, và chúng ta sẽ định nghĩa nó (hãy
còn sơ bộ) như là một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất
xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng những mục đích giao tiếp thứ
cấp và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời
này) gắn với những yếu tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ
đến bản thân ngôn ngữ” (Barthles) (dẫn theo [3], tr.15.16).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Theo Halliday [13], văn bản - một đơn vị của ngôn ngữ - được xác định
không phải dựa vào độ dài ngắn, dạng nói hay viết, bao gồm một động từ hay
nhiều…mà dựa vào tính chỉnh thể, thống nhất về nội dung ngữ nghĩa của nó.
Cũng theo Halliday [13], khái niệm văn bản không phải lúc nào cũng
được xác định một cách rõ ràng. Theo tác giả, mọi người hay hiểu lầm rằng
chúng ta có thể dễ dàng xác định những bộ phận (câu, cụm câu) nào sẽ cấu
thành nên một văn bản. Nhưng sự thật thì văn bản được xác định tùy theo văn
cảnh và nội dung của những câu, cụm câu đi trước và sau nó. Như vậy theo
Halliday, nếu cụm câu (bao gồm nhiều câu - phát ngôn) có mối quan hệ về ý
nghĩa sẽ tạo thành một văn bản. Theo cách hiểu này, Halliday chỉ quan tâm đến
nội dung ý nghĩa mà không quan trọng về mặt hình thức của văn bản. Trong
luận văn này, chúng tôi thống nhất theo quan niệm của Halliday về khái niệm
văn bản.
1.1.2. Diễn ngôn
Diễn ngôn (còn được gọi là diễn từ, ngôn bản, ngôn phẩm…) thường
được hiểu là một chuỗi phát ngôn được thực hiện trong giao tiếp bằng lời.
có ở cấp độ trên câu.
Hiện tượng liên kết được khảo sát sớm hơn cả là hiện tượng lặp hoặc
điệp. Khái niệm này thường được hiểu khá rộng, nó có thể bao gồm việc lặp
các từ cùng gốc, lặp cấu tạo từ, lặp có từ dẫn, thay thế bằng đại từ, bằng từ
đồng nghĩa. B.Palek (1968) gọi hiện tượng này là “sự tham chiếu”. Ngoài hiện
tượng điệp, người ta còn chú ý tới những hiện tượng khác mang chức năng liên
kết như việc sử dụng quán từ, từ nối, sử dụng sự tương ứng thời - thể của các
động từ, sử dụng câu hỏi, các hiện tượng tỉnh lược song hành cú pháp, sự
tương tác nêu - báo… Cả đến trật tự từ trong câu và ngữ điệu cũng được xem
là có chức năng liên kết văn bản. Tất cả những hiện tượng đó được gọi chung là
các phương tiện liên kết câu.
Liên kết là một hiện tượng dễ nhận biết nhưng hiện nay còn nhiều quan
điểm khác nhau không thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Một cách khách
quan nhất đến nay cần phải nhắc đến hai hệ thống quan điểm lớn sau đây:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
a. Liên kết hạn chế ở những biểu hiện hình thức
Quan điểm này thịnh hành trong giai đoạn các ngữ pháp văn bản, coi liên
kết văn bản phụ thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ. Liên kết được khai
thác cả ở mặt phương tiện hình thức lẫn ở mặt ý nghĩa nên liên kết được hiểu
như là một yếu tố quyết định làm cho một sản phẩm ngôn ngữ có được cái
phẩm chất là một “văn bản”
Giai đoạn này vì tính liên kết chủ yếu chỉ hạn chế ở những biểu hiện hình
thức cho nên nó có ngoại diên khá rộng và không có khả năng đóng vai trò
nhân tố quyết định trong việc phân biệt văn bản và phi văn bản. Bởi nó dễ dàng
có thể tạo ra những chuỗi câu không có mối dây liên kết, không diễn đạt một
nội dung ý nghĩa nào nhưng vẫn được coi là “văn bản”.
Theo M.A.K. Halliday [13], việc liên kết câu này với câu kia được thực
V.V. Bogdanov (1977) cũng nhấn mạnh rằng “điều quan trọng là sự
tương tác ấy hoàn toàn dựa trên cơ sở nghĩa”. Tác giả phân biệt tổ chức hình
thức của văn bản với tổ chức ngữ nghĩa của văn bản - tổ chức này được thể
hiện qua một loạt những sự tương hợp về nghĩa.
Yêu cầu về liên kết ngữ nghĩa còn được thể hiện bằng những thuật ngữ
khác như “tính toàn vẹn” của A.A.Leont’ev (1976) - đó là một “phạm trù ngôn
ngữ học tâm lí biểu thị sự thống nhất về nghĩa của văn bản” hoặc “tính định
hình hoàn chỉnh” của V.A. Zvegincev (1980).
Với sự bổ sung của liên kết ngữ nghĩa, các nhà ngôn ngữ học văn bản
tiến hành xử lí theo hai hướng:
+ Liên kết ngữ nghĩa được xem xét tách biệt khỏi liên kết hình thức
Điều đó dẫn đến sự tách rời hoàn toàn hình thức khỏi nội dung và khiến
cho ngoại diên của khái niệm tính liên kết càng trở nên rộng hơn trước và càng
có nhiều phần phi văn bản được xem là văn bản. Chẳng hạn nhà nghiên cứu
Tiệp Khắc K. Kozhevnikova (1979) thừa nhận sự tồn tại của “những văn bản
có đủ dấu hiệu liên kết hình thức nhưng không có sự liên kết tư tưởng tương
ứng” và những văn bản “liên kết (về tư tưởng) trần trụi” không có những dấu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
hiệu liên kết hình thức; bà còn coi các từ điển, các danh bạ điện thoại …cũng
đều là văn bản.
+ Liên kết ngữ nghĩa có sự gắn bó với liên kết hình thức
Theo hướng này tính liên kết được định nghĩa là “sự gắn bó về nghĩa và
về hình thức của các yếu tố không nhỏ hơn câu trong văn bản” (Nikolaeva,
1978). Có nghĩa là người ta đòi hỏi văn bản nhất thiết phải có đầy đủ cả liên kết
hình thức lẫn liên kết ngữ nghĩa. Cách hiểu này tuy được chấp nhận khá rộng
rãi nhưng lại rơi vào một thái cực mới. Từ chỗ quá rộng nó lại trở thành quá
hẹp, không bao quát được hết các loại văn bản.
Liên kết đặt trên cơ sở nghĩa, do quan hệ ý nghĩa, và quan hệ đó phải
được diễn đạt bằng các phương tiện hình thức của ngôn ngữ. Những hiện tượng
nối kết không được đánh dấu bằng hệ thống các phương tiện hình thức được
xếp vào mạch lạc.
Nguyễn Thị Việt Thanh còn mở rộng khảo sát hiện tượng liên kết ra
ngoài phạm vi văn bản viết. Không chỉ có văn bản viết mà cả lời nói tự nhiên
cũng có liên kết. Lời nói không phải được tạo nên bởi phép cộng đơn thuần
giữa các phát ngôn. Giữa các phát ngôn phải tồn tại những sợi dây liên kết
chúng lại với nhau thành một đơn vị để thực hiện chức năng giao tiếp. Những
sợi dây đó là biểu hiện của các phương thức liên kết lời nói .
Nhìn chung, dù đơn vị cơ sở của phép liên kết có khác nhau nhưng có
một điều được đa số các tác giả thống nhất, đó là: phép liên kết chính là sợi dây
ràng buộc (tùy theo mức độ) về ý nghĩa giữa các đơn vị được liên kết.
1.2.4. Phương tiện liên kết và phương thức liên kết
Phương tiện liên kết là các yếu tố hình thức cụ thể của ngôn ngữ tham
gia vào việc tạo sự nối kết hai câu với nhau.
Ví dụ: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
báu của ta”
(Hồ Chí Minh)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
Trong ví dụ trên, phương tiện liên kết là đại từ “đó”, yếu tố ngôn ngữ
này được dùng thay thế cho yếu tố ngôn ngữ có nghĩa cụ thể thường được nêu
trong câu đứng trước câu chứa chúng.
Như vậy, phương tiện liên kết là những yếu tố ngôn ngữ cụ thể được
dùng trong việc nối kết câu với câu. Liên kết trong văn bản là hiện tượng chung
cho nhiều ngôn ngữ, nhưng các phương tiện ngôn ngữ cụ thể dùng vào liên kết
có thể khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau. Sự liên kết có thể diễn ra
nghĩa bậc một, mang tính khái quát, được nhiều nhà khoa học (ngôn ngữ học,
triết học, toán học, logic học) quan tâm như: quan hệ thứ tự, quan hệ bao hàm,
quan hệ tương tự, quan hệ đồng nhất, quan hệ mâu thuẫn…
Lại có những quan hệ ngữ nghĩa bậc hai, làm nhiệm vụ cụ thể hóa các
quan hệ bậc một. Chẳng hạn như quan hệ thứ tự được cụ thể hóa thành các quan
hệ định vị thời gian, trình tự diễn đạt, nhân quả… Quan hệ bao hàm được cụ thể
hóa thành các quan hệ: giống loài, chung riêng, sở hữu, đặc trưng… Quan hệ
tương tự được cụ thể hóa thành các quan hệ: đồng loại, đẳng lập, tuyển chọn…
Quan hệ mâu thuẫn cụ thể hóa thành các quan hệ tương phản, đối lập.
Những quan hệ bậc hai này còn được tiếp tục cụ thể hóa nhiều nữa trong
quá trình này mỗi lúc một phụ thuộc nhiều hơn và gắn bó chặt hơn với những
nhân tố ngoài ngôn ngữ.
Trước khi nói đến sự phù hợp ngữ nghĩa của các đơn vị, cần phải tìm
hiểu qua về đặc trưng của chính các đơn vị.
Liên kết logic đều có những đặc trưng bản thể (cũng có thể gọi là “đặc
trưng khẳng định”) của mình.
Bên cạnh các đặc trưng bản thể, mỗi đơn vị có thể được đặc trưng bởi
các quan hệ ngữ nghĩa nhất định trong mối quan hệ với các đơn vị khác -
những đặc trưng loại này có thể được gọi là các đặc trưng tiền giả định. Các
đơn vị như từ tự nghĩa, câu tự nghĩa… bao giờ cũng mang đặc trưng tiền giả
định là nói về một vật thể hữu hình có khả năng chuyển động.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
17
Khi hai đơn vị cùng cấp độ kết hợp lại với nhau, nếu các đặc trưng bản
thể và tiền giả định của chúng không đối lập nhau mà có điểm chung thì đòi
hỏi sự phù hợp ngữ nghĩa trong phạm vi càng rộng. Ở văn bản, mỗi phát ngôn
thứ n trong đó phải phù hợp với toàn bộ những phát ngôn đứng trước đó. Cho
đến phát ngôn cuối cùng thì phải có sự phù hợp trong toàn văn bản.