giá trị liên kết qua phương thức lặp trong tiểu thuyết hòn đất của anh đức - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VŨ THỊ HƢƠNG GIÁ TRỊ LIÊN KẾT QUA PHƢƠNG THỨC LẶP
TRONG TIỂU THUYẾT HÒN ĐẤT CỦA
ANH ĐỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN TÌNH

Thái Nguyên - 2012

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ một công trình khoa học nào.

Tác giả luận văn
Vũ Thị Hƣơng

Vũ Thị Hƣơng
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
6. Đóng góp của luận văn 6
7. Bố cục của luận văn 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1. Khái quát về ngữ pháp văn bản 7
1.1.1. Văn bản 7
1.1.2. Diễn ngôn 7
1.2. Liên kết văn bản 7
1.2.1. Liên kết 7

3.3. Giá trị của liên kết ngữ nghĩa qua phƣơng thức lặp 74
3.3.1. Tạo nên bức tranh hoàn chỉnh về mặt nội dung 74
3.3.2. Tạo nên giá trị về mặt nhận thức và thẩm mỹ 79
3.4. Cách thức sử dụng và phong cách tác giả 87
3.4.1. Cách thức sử dụng 87
3.4.2. Phong cách tác giả 90
3.5. Tiểu kết 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99 v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Bảng thống kê phát ngôn có chứa lặp từ vựng 34
Bảng 2.2. Bảng thống kê lặp từ ngữ trong hai phát ngôn 35
Bảng 2.3. Bảng thống kê lặp từ ngữ trong nhiều phát ngôn 43
Bảng 2.4. Bảng thống kê các phát ngôn có chứa lặp cú pháp 48
Bảng 2.5. Bảng thống kê phạm vi liên kết 53
Bảng 2.6. Bảng thống kê quan hệ liên kết 58
Bảng 3.1. Bảng thống kê về nghĩa trong hệ thống các phép liên kết 89
Bảng 3.2. Bảng thống kê cách thức sử dụng 90

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
1.2. Anh Đức là một nhà văn tài năng, đƣợc sống giữa những ngƣời dân Nam Bộ
đáng mến, đáng yêu nhất trong những năm tháng sôi sục của cuộc kháng chiến
chống Mỹ. Anh Đức không chỉ có ý thức sâu sắc về cuộc cách mạng của dân tộc mà
còn là nhà văn "Nhận ra sức mạnh của văn học với tình yêu không nén nổi, nó đã
cất lên tiếng nói ứng nghiệm lạ thường". Các sáng tác của Anh Đức chủ yếu tập
trung ở các thể loại nhƣ: truyện, bút ký, tiểu thuyết Dƣới ngòi bút của Anh Đức là
những nhân vật dạt dào tình cảm cách mạng. Họ mang khí thế dân tộc và mang màu
sắc riêng của Nam Bộ.
"Hòn Đất" là tiểu thuyết tiêu biểu viết về đề tài chiến tranh. Trong tác phẩm,
nhà văn đã dựng đƣợc nhiều nhân vật sống động. Ngay khi ra đời, tiểu thuyết "Hòn
Đất" đã gây đƣợc tiếng vang lớn trong đời sống văn học, đƣợc dịch ra nhiều thứ
tiếng và đƣợc đông đảo quần chúng đón nhận.
Để có đƣợc những thành công nhƣ vậy, không thể không kể đến những đóng
góp về mặt ngôn ngữ, đặc biệt là việc sử dụng phƣơng thức lặp làm phƣơng tiện
liên kết văn bản hết sức sáng tạo và độc đáo.
1.3. Đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết "Hòn Đất" của
Anh Đức. Song phần lớn những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc
tìm hiểu nội dung và thể loại, còn địa hạt ngôn ngữ, đặc biệt là vấn đề liên kết trong
văn bản lại chƣa đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức.
Vì vậy, việc tìm hiểu về giá trị liên kết qua phƣơng thức lặp trong "Hòn Đất"
của Anh Đức vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn. Kết quả khảo sát,
thống kê phƣơng thức lặp trong tiểu thuyết "Hòn Đất" sẽ cho chúng ta cái nhìn cụ
thể về hệ thống các phƣơng thức liên kết trong văn bản. Đồng thời góp phần quan
trọng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu về tác phẩm của nhà văn Anh Đức. Bên
cạnh đó sẽ thấy đƣợc tài năng của một ngƣời con thuộc vùng đất Nam Bộ giàu
tinh thần cách mạng. Bởi những lẽ trên, chúng tôi chọn đề tài luận văn cao học

ngôn ngữ riêng trong các tác phẩm của Anh Đức. Nghiên cứu về Anh Đức cũng nhƣ
tiểu thuyết "Hòn Đất" từ trƣớc đến nay phải kể đến một số công trình tiêu biểu nhƣ:
Nguyễn Trung Thu, "Tính cách dân tộc trong sáng tác của Anh Đức" (Tạp chí Văn
học, số 4, 1969), Phan Cự Đệ, "Về phong cách lãng mạn của Anh Đức" (Tiểu thuyết
Việt Nam hiện đại, tập 1, NXB ĐH & THCN, Hà Nội, 1974), "Hình tượng người
phụ nữ Việt Nam trong tiểu thuyết Hòn Đất của Anh Đức" (Tuyển tập Phan Cự Đệ,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
tập 4, NXB Văn học, Hà Nội, 2000), Chu Nga, "Phong cách trữ tình trong sáng tác
của Anh Đức", (Tạp chí Văn học, số 2, 1975), Hoài Anh, "Anh Đức với con người
và cảnh sắc thiên nhiên trong tác phẩm" (Tạp chí Văn học, số 2, 2001), Trần Văn
Giàu, "Hòn Đất, một bước tiến mới của văn học cách mạng Miền Nam" (10 năm
Văn học chống Mỹ, sđd), Hà Minh Đức, "Hòn Đất của Anh Đức" (Trích Tác phẩm
văn học, sđd), Thành Duy, "Cách thể hiện nhân vật trong Hòn đất" (Tạp chí Văn
học, số 1, 1968).
Bên cạnh đó, nghiên cứu về phép lặp trong các tác phẩm văn học nghệ thuật còn
là đề tài đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Có thể điểm qua một số công trình
tiêu biểu nhƣ sau: "Phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp trong thơ Hữu Thỉnh (Luận
văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hoa, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên, 2009). Ở
luận văn này, tác giả đã làm sáng tỏ đƣợc lý thuyết và giá trị của hiện tƣợng lặp
thông qua việc tìm hiểu phép lặp trong các câu thơ. "Tính chất thông điệp, thông tin
và độ dư trong sáng tác văn học" của tác giả Hoàng Trinh, đây là chuyên đề nghiên
cứu về lƣợng tin và cái mới trong sáng tác. Ở bài viết này, tác giả đã giải thích về
các hiện tƣợng lặp từ, lặp ý trong một bài thơ, đoạn văn bằng những lí lẽ thuyết
phục. Phùng Thị Phƣơng Hạnh với "Phép lặp trong truyện ngắn của Nguyên Hồng
trước năm 1945" (Đề tài nghiên cứu khoa học, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái
Nguyên, 2005). Ở khóa luận này tác giả đã đi vào thống kê, phân loại cách sử dụng
phép lặp nhằm làm nổi bật giá trị của phép lặp trong câu văn, qua đó thấy đƣợc

đƣợc thể hiện trong tác phẩm“Hòn Đất”.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu
chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học
Phƣơng pháp này đƣợc dùng để khảo sát, thống kê tần số xuất hiện và phân loại các
hiện tƣợng lặp mà Anh Đức đã sử dụng trong tiểu thuyết của mình.
- Phương pháp phân tích liên kết văn bản
Phƣơng pháp này đƣợc dùng để phân tích các kết quả khảo sát đã thống kê
đƣợc. Từ đó đƣa ra những nhận xét về tính liên kết của các phát ngôn có chứa
phƣơng thức lặp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phƣơng pháp này là phương pháp chính, cơ bản, đƣợc chúng tôi vận dụng để
phân tích, mô tả làm sáng tỏ giá trị về mặt ngữ nghĩa của hiện tƣợng lặp trong tiểu
truyết "Hòn Đất".
6. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận
Luận văn cho thấy khả năng áp dụng các tri thức về Ngôn ngữ học văn bản nói
chung, về phƣơng thức lặp nói riêng để nghiên cứu tính liên kết ngôn ngữ trong một
tác phẩm cụ thể. Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là minh chứng cho việc tìm
hiểu về giá trị của văn bản dƣới góc nhìn của ngôn ngữ học, đồng thời góp phần vào
việc nghiên cứu phong cách tác giả qua tác phẩm của họ.
- Về mặt thực tiễn
Trƣớc hết, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc
hơn về giá trị liên kết cấu trúc và ngữ nghĩa của tiểu thuyết “Hòn Đất”. Bên cạnh
đó đề tài cũng có những đóng góp nhất định trong việc giảng dạy tác phẩm văn học

1.1.2. Diễn ngôn
Diễn ngôn (còn đƣợc gọi là diễn từ, ngôn bản, ngôn phẩm ) thƣờng đƣợc hiểu
là một chuỗi phát ngôn đƣợc thực hiện trong giao tiếp bằng lời.
Nói nhƣ vậy không hàm ý diễn ngôn chỉ dùng cho các phát ngôn mang tính hội
thoại, mà còn chỉ cả các trƣờng hợp đơn thoại, nhƣ các bài diễn văn, phát biểu, thuyết
trình. Tuy nhiên, do đặc thù thể hiện mà mọi diễn ngôn loại này nói chung thƣờng đƣợc
coi là đối tƣợng nghiên cứu của lý thuyết hội thoại.
Có thể thấy, ranh giới để nhận biết và phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn là
rất mơ hồ. Nhƣng trong quá trình nghiên cứu, việc phân biệt hai khái niệm này là rất
cần thiết.
1.2. Liên kết văn bản
1.2.1. Liên kết
Liên kết (cohesion) là thứ quan hệ và liên hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ
nằm trong hai câu hoặc nằm trong hai vế của một câu ghép theo kiểu giải thích
nghĩa cho nhau. Nói chi tiết hơn, liên kết là thứ quan hệ giữa hai yếu tố ngôn ngữ
mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia,
và trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết đƣợc với nhau. Hiện tƣợng này cũng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
gặp trong những khúc đoạn lời nói lớn hơn câu, tuy nhiên về cơ bản vẫn là hiện
tƣợng liên kết giữa những câu có quan hệ nghĩa với nhau thông qua các phƣơng tiện
liên kết, chỉ có điều là những câu này không nằm trong cùng một đoạn lời nói.
Liên kết đƣợc đặt trên cơ sở nghĩa, do quan hệ ý nghĩa, và quan hệ đó phải
đƣợc diễn đạt bằng các phƣơng tiện hình thức của ngôn ngữ. Những hiện tƣợng nối
kết không đƣợc đánh dấu bằng hệ thống các phƣơng tiện hình thức đƣợc xếp vào
mạch lạc (coherence).
Ví dụ:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta”.

những nét riêng phân biệt đƣợc với nhau để sử dụng trong những ngữ cảnh cụ thể
khác nhau. Phƣơng thức liên kết còn đƣợc gọi gọn hơn là phép liên kết.
1.2.3. Liên kết cấu trúc
Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ
của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên
kết là mạng lƣới của những quan hệ và liên hệ ấy.
Nhƣ vậy, có thể kết luận rằng tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có
tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản.
Tính liên kết có khả năng rất lớn. Nó có thể làm cho một chuỗi câu không liên
quan gì với nhau trở thành một bộ phận của văn bản bằng cách thêm một câu thứ
n+1 cho nó. Khi đó, lập tức cả chuỗi câu hỗn độn kia bỗng nhiên cựa quậy và trở
thành một bộ phận hợp pháp của văn bản ( Dẫn theo GS. Trần Ngọc Thêm).
1.2.4. Liên kết ngữ nghĩa
Trong quá trình nghiên cứu các nhà ngôn ngữ học văn bản đã có những hƣớng
tìm hiểu khác nhau về liên kết ngữ nghĩa.
Ở giai đoạn đầu liên kết ngữ nghĩa đƣợc xem xét tách biệt khỏi liên kết hình
thức. Điều đó dẫn tới sự tách rời hoàn toàn hình thức khỏi nội dung và khiến cho
ngoại diên của khái niệm "tính liên kết" càng trở nên rộng hơn trƣớc, càng có thêm
nhiều "phi văn bản" đƣợc xem là văn bản.
Ở giai đoạn thứ hai, các nhà nghiên cứu ngày càng chú ý đến vai trò của các
liên kết ngữ nghĩa khi đi sâu vào tìm hiểu những đặc trƣng của văn bản. Ở cấp độ
trên câu, cú pháp đƣợc xây dựng trƣớc hết trên cơ sở sự phù hợp những đặc trƣng
ngữ nghĩa của các đơn vị thuộc cấp độ dƣới (S.I.Gindin).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Nói về sự tƣơng tác giữa cú pháp của câu với cú pháp của văn bản,
V.V.Bogdanov nhấn mạnh: “điều quan trọng là sự tương tác ấy hoàn toàn dựa trên
cơ sở ngữ nghĩa”. Tác giả phân biệt tổ chức hình thức của văn bản (gọi là tính liên


11
Phép nối lỏng là phương thức liên kết thể hiện ở sự có mặt trong kết ngôn
những phương tiện từ vựng (từ, cụm từ) không làm biến đổi cấu trúc của nó và diễn
đạt một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi mà "ngôi" còn lại là chủ ngôn.
Ví dụ:
"Hai mụ Bọ Muỗm cứ vừa đánh vừa kêu, làm cho họ nhà Bọ Muỗm ở gần đấy
nghe tiếng. Thế là, cả một bọn Bọ Muỗm lốc nhốc chạy ra".
(Tô Hoài- Dế Mèn phiêu lƣu kí)
1.3.1.2. Phép thế
* Khái niệm
Đây là phương pháp thay thế từ ngữ ở các câu đi trước bằng các từ ngữ tương
đương của các câu đi sau. Nhờ đó các câu này liên kết với nhau.
Có thể phân biệt thành một số loại nhỏ sau:
* Phép thế đồng nghĩa
Phép thế đồng nghĩa là một phƣơng thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong
chủ ngôn và kết ngôn những ngữ đoạn (từ hoặc cụm từ) khác nhau có cùng một
nghĩa (chỉ cùng một đối tƣợng).
Phép thế đồng nghĩa có thể đƣợc phân loại cụ thể căn cứ vào đặc điểm của các
phương tiện dùng làm chủ tố và thế tố, có thể phân loại phép thế đồng nghĩa làm 4 kiểu:
thế đồng nghĩa từ điển
thế đồng nghĩa lâm thời
thế đồng nghĩa bằng dạng phủ định
thế đồng nghĩa bằng dạng miêu tả.
Căn cứ theo độ phức tạp của các phương tiện, có thể chia phép thế đồng nghĩa
thành hai nhóm: nhóm có cả hai yếu tố liên kết là từ và nhóm có ít nhất một yếu tố
liên kết là cụm từ. Còn nếu căn cứ vào tính ổn định của quan hệ đồng nhất do các
phƣơng tiện tạo ra thì phép thế đồng nghĩa cũng có thể chia thành hai nhóm: nhóm
thế đồng nghĩa ổn định và nhóm thế đồng nghĩa không ổn định.
- Thế đồng nghĩa ổn định:

(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm)
* Phép thế đại từ
Phép thế đại từ là một phƣơng thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong kết
ngôn mà đại từ (hoặc đại từ hóa) để thay thế cho một ngữ đoạn nào đó ở chủ ngôn.
Phân loại phép thế đại từ:
- Phép thế đại từ khiếm diện dự báo.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Ví dụ:
"Tri thức là gì? Tri thức là hiểu biết".
(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm)
Ở ví dụ này đại từ "gì" là đại từ nghi vấn có liên kết khiếm diện, dự báo trƣớc sự
xuất hiện của câu sau.
- Thế đại từ khiếm diện hồi quy.
Ví dụ:
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta".
(Hồ Chí Minh)
1.3.1.3. Phép đối
* Khái niệm
Phép đối là phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong kết ngôn một ngữ
đoạn (từ hoặc cụm từ) có ý nghĩa đối lập với một ngữ đoạn nào đó có ở chủ ngôn.
Phép đối có cả hai yếu tố liên kết: yếu tố đối lập với chủ tố chứa trong kết ngôn
ta sẽ gọi là đối tố.
Khái niệm “phép đối” không đồng nhất với các khái niệm “hiện tượng trái
nghĩa”, “từ trái nghĩa”. Phép đối là hiện tƣợng trái nghĩa đƣợc sử dụng vào chức
năng liên kết văn bản. Và nhƣ vậy từ trái nghĩa chỉ là một trong những phƣơng tiện
của phép đối.
* Các dạng của phép đối

trong việc tích cực hóa vốn từ trái nghĩa của ngƣời viết.
- Đối phủ định: đối phủ định là kiểu đối mà một trong hai yếu tố liên kết là dạng
phủ định của yếu tố liên kết kia.
Ví dụ:
"Họ tưởng Soan ngủ, càng trêu tợn. Nhưng Soan không ngủ, nước mắt chảy ướt
cả chiếu".
(Tô Hoài- Khác trƣớc)
Có thể chia đối phủ định thành hai kiểu:
+ Đối phủ định trực tiếp
Ví dụ:
"Cứ quan sát kĩ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản chỉ vì tôi tin vào ông cụ".
(Nam Cao)
+ Đối phủ định gián tiếp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Ví dụ:
"Bọn địch luôn bi quan. Còn chúng ta không chán nản bao giờ".
(Lƣu Quý Kỳ)
- Đối miêu tả: Đối miêu tả là kiểu đối mà ít nhất một trong hai yếu tố liên kết
là một cụm từ miêu tả những dấu hiệu của thuộc tính đối lập, yếu tố liên kết còn lại
có thể là một từ hoặc một cụm từ.
Ví dụ:
"Nó cười rúc rích, rồi trở mình một cái, ngáy khò khò luôn. Ông Sần không
ngủ, nằm cân nhắc một lúc nữa".
(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm)
- Đối lâm thời: đối lâm thời là kiểu đối trong đó các cụm từ làm chủ tố và
đối tố vẫn không phải là những từ trái nghĩa (trực tiếp hoặc gián tiếp), nhƣng nhờ
tồn tại trong những điều kiện nhất định mà chúng trở nên lâm thời đối lập nhau.

(Hồ Chí Minh)
Phép tỉnh lƣợc yếu đƣợc chia thành các loại nhƣ sau:
Tỉnh lƣợc bổ ngữ trực tiếp ở câu kết.
Tỉnh lƣợc bổ ngữ (trong cả bổ ngữ trực tiếp) ở câu kết.
Tỉnh lƣợc động từ đi sau trong chuỗi điện thoại ở câu kết.
Tỉnh lƣợc chủ ngữ ở câu kết.
Tỉnh lƣợc định ngữ của danh từ.
- Phép tỉnh lược mạnh: là phƣơng thức liên kết của ngữ trực thuộc thể hiện ở
sự lƣợc bỏ trong kết ngôn những yếu tố làm thành phần nòng cốt, dựa vào sự có mặt
của chúng trong chủ ngôn.
Ví dụ:
"Quyên mò nơi thắt lưng Ngạn lấy cái bi đông. Cô lắc nhẹ".
(Anh Đức)
Căn cứ vào chức vụ cú pháp của yếu tố bị tỉnh lƣợc có thể phân biệt tỉnh lƣợc
mạnh thành các kiểu sau:
Tỉnh lƣợc trạng ngữ.
Tỉnh lƣợc chủ ngữ.
Tỉnh lƣợc đại từ ở vị ngữ.
Tỉnh lƣợc vị ngữ.
Tỉnh lƣợc đại từ ở vị ngữ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
1.3.1.5. Phép liên tƣởng
* Khái niệm
Phép liên tưởng là một phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong chủ
ngôn và kết ngôn những ngữ đoạn (từ hoặc nhóm từ) có liên quan về nghĩa với nhau
thông qua một số ít nét nghĩa chung và không chứa nét nghĩa đối lập.
* Phân loại

thời khi bị giới hạn trong hai đối tƣợng và ít nhất khi có từ nối liên tƣởng đi kèm.
+ Liên tƣởng định lƣợng: liên tƣởng định lƣợng là kiểu liên tƣởng của những
đối tƣợng đồng chất, vì khi chúng thuộc cùng một loại ta có thể xem xét tính đếm
về mặt số lƣợng.
Liên tƣởng định lƣợng có thể đƣợc chia thành hai loại:
- Liên tƣởng định lƣợng hợp - phân
- Liên tƣởng định lƣợng đối chiếu
Nhóm 2:
+ Liên tƣởng định vị: liên tƣởng định vị là kiểu liên tƣởng giữa một động vật, một
tĩnh vật hoặc một hành động với vị trí tồn tại điển hình của nó trong không gian.
Bên cạnh ngƣời, sự vật, đôi khi còn có thể gặp liên tƣởng định vị cho hiện
tƣợng. Liên tƣởng định vị cho hành động và không gian thì ít gặp hơn.
+ Liên tƣởng định chức: liên tƣởng định chức là kiểu liên tƣởng giữa một động vật,
một tĩnh vật hoặc một hành động với chức năng điển hình của nó.
Liên tƣởng định chức là kiểu liên tƣởng phong phú nhất của phép liên tƣởng.
Nó đƣợc dùng cho ngƣời, hiện tƣợng, hoạt động.
+ Liên tƣởng đặc trƣng: liên tƣởng đặc trƣng là sự liên tƣởng giữa một tĩnh
vật hoặc một hoạt động với dấu hiệu điển hình đặc trƣng cho nó.
+ Liên tƣởng nhân quả: liên tƣởng nhân quả là kiểu liên tƣởng giữa những từ ngữ
chỉ nguyên nhân (thƣờng là sự vật, hành động, sự việc) và những từ ngữ chỉ kết quả.
1.3.1.6. Phép tuyến tính
* Khái niệm
Phép tuyến tính là phương thức sử dụng trật tự tuyến tính của các phát ngôn
vào việc liên kết những phát ngôn có quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt nội dung.
Ví dụ:
"Thằng Út lồm cồm trở dậy, theo mẹ Sáu xuống bếp. Mẹ bưng nồi cơm và một
ơ cá kho dọn ra bộ ván kê cạnh bếp”.
(Anh Đức)

Trích đoạn Tạo nên tính chính xác, rõ ràng, chặt chẽ cho văn bản Tạo nên tính lập luận cho văn bản Giá trị của liên kết ngữ nghĩa qua phƣơng thức lặp Cách thức sử dụng và phong cách tác giả Phong cách tác giả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status