Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THÚY PHƢƠNG SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP KỶ LUẬT TÍCH CỰC TRONG
GIÁO DỤC HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN THANH BA - TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thúy Phƣơng
XÁC NHẬN
CỦA KHOA TRƢỞNG KHOA
TS. Phùng Thị Hằng
XÁC NHẬN
CỦA NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
Nguyễn Thị Thúy Phƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục bảng biểu v
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài. 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Cấu trúc luận văn 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP KỶ
LUẬT TÍCH CỰC TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH Ở
TRƢỜNG THPT 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1. Trên thế giới 6
1.1.2. Trong nước 6
1.2. Khái niệm cơ bản 7
1.2.1. Kỷ luật 7
TÍCH CỰC TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH TRƢỜNG
THPT HUYỆN THANH BA – TỈNH PHÚ THỌ 67
3.1. Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp sử dụng phương pháp
kỷ luật tích cực trong giáo dục học sinh trường trung học phổ thông 67
3.1.1. Đảm bảo tính thực tiễn 67
3.1.2. Đảm bảo tính đồng bộ 67
3.1.3. Đảm bảo tính kế thừa 67 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
3.1.4. Đảm bảo tính khả thi 68
3.2. Biện pháp sử dụng PPKLTC trong giáo dục học sinh trường THPT 68
3.2.1. Tổ chức HS cùng tham gia xây dựng nội quy học tập môn học và
tổ chức thực hiện nội quy môn học 68
3.2.2. Bồi dưỡng GV về sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS 70
3.2.3. Sử dụng PPKLTC trong tổ chức HS cùng tham gia thiết kế, tổ
chức hoạt động tập thể của lớp chủ nhiệm 71
3.2.4. Tận dụng, xây dựng tình huống giáo dục sử dụng PPKLTC trong
giáo dục HS. 72
3.2.5. Mối quan hệ giữa các biện pháp 74
3.3. Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
KLTC trong giáo dục HS 74
3.3.1. Mục tiêu 74
3.3.2. Nội dung khảo nghiệm 74
Kết luận chƣơng 3 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
1. Kết luận 77
2. Khuyến nghị 78
Kỷ luật
PPGD
Phương pháp giáo dục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Số lượng khách thể điều tra 40
Bảng 2.2. Nhận thức về sự cần thiết của sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS 41
Bảng 2.3. Nhận thức của giáo viên về KLTC 42
Bảng 2.4. Nhận thức của giáo viên về PPKLTC 44
Bảng 2.5. Nhận thức của học sinh về KLTC trong giáo dục 46
Bảng 2.6. Nhận thức của GV về đặc điểm PPKLTC trong giáo dục HS 48
Bảng 2.7. Nhận thức của GV về biểu hiện của PPKLTC trong giáo dục HS . 51
Bảng 2.8. Thực trạng cách thức sử dụng PPKLTC của GV 53
Bảng 2.9. Ý kiến của HS về cách thức sử dụng PPKLTC của giáo viên 54
Bảng 2.10. Thực trạng sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS 57
Bảng 2.11. Ý kiến HS về việc sử dụng PPKLTC của GV chủ nhiệm lớp 58
Bảng 2.12. Ý kiến HS về việc sử dụng KNPPKLTC của GV bộ môn 59
Bảng 2.13: Nội dung giáo dục học sinh có sử dụng phương pháp KLTC 61
Bảng 2.14: Thực trạng sử dụng biện pháp kỷ luật tích cực 62
Bảng 2.15. Thực trạng khó khăn của GV khi sử dụng PPKLTC 63
Bảng 3.1. Mức độ cần thiết của việc sử dụng các biện pháp KLTC trong
giáo dục HS 75
giáo dục. Đa số phụ huynh và giáo viên đều mong muốn HScó ý thức kỷ luật,
giữ gìn nề nếp tốt, tự tin chủ động học giỏi…Tuy nhiên làm thế nào để đạt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
được điều đó luôn là câu hỏi nhiều GV trăn trở, đặc biệt đối với những em
thường được coi là bướng bỉnh, hay mắc lỗi. Trong nhiều trường hợp HS mắc
lỗi GV thường dùng các hình phạt hà khắc như đánh đập, trách mắng để mong
muốn các em thay đổi, sửa chữa. Nhưng kết quả lại không như mong muốn,
thay vì làm theo ý của GV thì các em trở nên khó bảo hơn, chống đối, khép
mình hơn hoặc trầm cảm, thiếu tự tin. Kết quả các em thường học tập kém,
phát triển không toàn diện về thể chất và tinh thần. Mối quan hệ giữa HS và
GV ngày càng trở nên căng thẳng. Nhiều khi các em bị dồn ép gây tâm lý
chống đối, bỏ học.
Từ thực tiễn những chú trọng gần đây của ngành Giáo dục và Đào tạo
về sự quan tâm đến PPGD cũng như đi tìm kiếm PPGD học sinh hiệu quả.
Thì việc giáo dục HS bằng phương pháp kỷ luật trách phạt không còn phù
hợp nữa khi mà nó không tạo ra kỹ năng xã hội, kỹ năng sống cho HS mà chỉ
làm các em thiếu tự tin vào giá trị bản thân mình.
Thực tế hiện nay trong nhà trường đã có một số HS nảy sinh những
hành vi tiêu cực mà nhà giáo dục cần có biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn
kịp thời nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Vậy phải làm thế
nào để giáo dục HS một cách toàn diện mà không làm tổn thương đến thể xác
và tinh thần đang trở thành mối quan tâm lớn của ngành giáo dục. PPKLTC
có thể là một giải pháp tốt phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em,
Luật bảo vệ trẻ em, Luật giáo dục, quy định về đạo đức nhà giáo, chuẩn GV
phổ thông. Nhằm tạo điều kiện tốt nhất để HS tự giác sửa chữa khuyết điểm
và tự giác rèn luyện.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS trường THPT
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng sử dụng PPKLTC cực trong giáo dục HS
trường THPT huyện Thanh Ba - tỉnh Phú Thọ.
5.3. Đề xuất biện pháp sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS trường THPT
huyện Thanh Ba - tỉnh Phú Thọ.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp sử dụng PPKLTC trong giáo
dục học sinh THPT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
Việc tổ chức khảo sát được tiến hành trên 92 GV và 225 HS trường
THPT Thanh Ba và THPT Yển Khê - tỉnh Phú Thọ.
7. Nhóm phƣơng pháp hỗ trợ
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận được sử dụng trong việc phân
tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu giáo dục học, tâm lý học, các công
trình nghiên cứu và các tài liệu liên quan đến sử dụng PPKLTC trong giáo
dục HS THPT làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài và làm cơ sở định hướng
nghiên cứu thực trạng của đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát hoạt động tập thể được tổ chức trong phạm vi nhà trường,
quan sát người học trong quá trình trao đổi trò chuyện với các em.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng anket
Chúng tôi xây dựng anket đóng và anket mở nhằm tìm hiểu thực trạng
sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS, biện pháp sử dụng KLTC trong giáo
dục HS.
yêu cầu về kỷ luật của xã hội và các tổ chức là khách quan; song mức độ giáo
dục và duy trì nó phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của từng giai cấp.
Phương pháp kỷ luật tích cực - tài liệu hướng dẫn cho tập huấn viên,
xuất bản năm 2009, bản quyền của tổ chức Plan tại Việt Nam. Các tác giả đề
cập nghiên cứu về trẻ em, tâm lư lứa tuổi, tác dụng tiêu cực của việc trừng
phạt trẻ em và trang bị cho họ những kiến thức, kỹ năng nhằm giáo dục, kỷ
luật trẻ em một cách tích cực và hiệu quả. Và đề ra các cách thức giúp phụ
huynh, GV làm thế nào để con em, HS của mình trở nên ngoan ngoãn, học
giỏi mà không phải dùng tới các hình phạt.
Tác giả Maria Montessori đã có những nghiên cứu về vấn đề này. Ở
đây tác giả tập trung nghiên cứu phương pháp tôn trọng sự khám phá độc lập,
thử nghiệm ở trẻ tạo điều kiện cho trẻ tự do trong học tập và bình đẳng. Bà
coi đây là nguyên tắc chỉ đạo trong PPGD vì nó vận dụng sự sáng tạo của trẻ
chính là sự bổ sung cho hoạt động tổ chức của người lớn.
Nhìn chung các tác giả nghiên cứu các PPGD dành cho lứa tuổi trẻ em
từ 1 đến 6 tuổi. Họ đều đưa ra các kiến thức, kỹ năng nhằm giáo dục trẻ một
cách hiệu quả mà không sử dụng kỷ luật trừng phạt. Coi trọng việc học qua
hành động và tôn trọng sự khám phá độc lập của trẻ.
1.1.2. Trong nước
Tác giả Nguyễn Kỳ, phương pháp giáo dục tích cực - NXB giáo dục,
1994. Được coi là cuốn sách thực nghiệm về PPGD mới. Ông tập trung
nghiên cứu về các PPGD tích cực và triển vọng của các PPGD tích cực trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
giáo dục HS.
Chỉ thị số 2737/CT – BGDĐT cũng đã bàn về vấn đề này và được nhấn
mạnh trong nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục phổ thông năm học 2012 –
2013, Bộ trưởng bộ GD – ĐT chỉ thị về nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
Kỷ luật là “những quy định, quy ước của một cộng đồng (một tập thể)
về những hành vi cần tuân theo nhằm đảm bảo sự phối hợp hành động thống
nhất chặt chẽ của mọi người. Tính chất của kỷ luật là bắt buộc nếu có ai đó
không tuân theo, vi phạm thì sẽ bị phạt” [6].
Kỷ luật là “Những quy định của một tập thể, cơ quan, xã hội mà mọi
người phải làm theo, nếu sai trái bị trừng phạt” [21].
Kỷ luật lao động: “Những quy định được đặt ra trong khi làm công việc
nào đó, buộc mọi người phải chấp hành nghiêm túc và đúng để tạo ra sự hài hòa
trong lao động sản xuất, liên kết mọi người vào một quá trình thống nhất” [10].
Phạm trù kỷ luật với nội hàm đề cập đến sự thúc đẩy, yếu tố hỗ trợ để
cá nhân tự rèn luyện và trưởng thành:
Nhà triết học Erich Fromm từng nói: “không có tính kỷ luật, cuộc sống
của chúng ta sẽ trở nên chao đảo và thiếu tập trung. Nếu hành động của chúng
ta tùy theo tâm trạng và ý chí của chúng ta thì tất cả những điều đó không hơn
gì một thú tiêu khiển. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở nên xuất sắc nếu ta
không thực hiện những điều chúng ta đặt ra, những mục tiêu mà chúng ta
hướng ta hướng tới với tinh thần kỷ luật tự giác cao”. [22].
Kỷ luật là “sự tự rèn luyện giúp chúng ta tự sửa chữa, tạo khuôn nếp,
tạo sự mạnh mẽ, hoặc giúp chúng ta trở nên hoàn hảo hơn” [23]. Sybil
Stamtom đã viết: “kỷ luật đúng nghĩa không thúc ép sau lưng bạn, nó ở bên
cạnh bạn, khích lệ bạn. Khi hiểu rằng, kỷ luật là tự chăm sóc mình chứ không
phải tự trừng trị mình, bạn sẽ không e dè khi nhắc đến nó mà ngược lại sẽ vun
đắp cho nó”. [18].
Nhìn chung các tác giả đều thống nhất kỷ luật là những quy định, quy
ước mang tính pháp chế của một tổ chức xã hội, nhóm xã hội nhằm tạo sự gắn
kết tập thể (nhóm xã hội) trong hoàn thành công việc, đảm bảo tính hiệu quả
trong thực hiện công việc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
trước mà cần có quan niệm rằng việc mắc lỗi của HS được coi như lỗi tự nhiên
của quá trình học tập và rèn luyện trong nhà trường. Do vậy, nhiệm vụ quan
trọng của nhà giáo dục là làm thế nào để HS nhận thức được bản thân, tự kiểm
soát hành vi, thái độ trên cơ sở các quy định, nội quy Như vậy người GV là
người phân tích đúng, sai đối chiếu các quy định của những hành vi không đúng
để HS nhận ra lỗi của mình để điều chỉnh sửa đổi, để bản thân đạt được những
tiến bộ nhất định.
Dạy và rèn luyện cho các em tính tự giác tuân theo các quy định và quy
tắc đạo đức ở thời điểm trước mắt cũng như lâu dài là những phương pháp
mang tính dài hạn giúp phát huy tính KL tự giác của HS. Quá tình này thể
hiện rõ những mong đợi, quy tắc và giới hạn mà HS phải tuân thủ, xây dựng
mối quan hệ tôn trọng giữa GV và HS. Giúp các em có được những kỹ năng
sống, tăng sự tự tin, khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học tập và
trong cuộc sống; các em biết cách cư xử lịch sự, nhã nhặn, không bạo lực,
biết cảm thông và tôn trọng quyền lợi của người khác.
1.2.3. Phương pháp kỷ luật tích cực
Theo Nguyễn Dục Quang, PPKLTC là phi bạo lực cả về thể xác lẫn
tinh thần, là một quá trình thường xuyên, liên tục và nhất quán thông qua đó
khuyến khích khả năng tư duy lựa chọn của trẻ. Từ đó hình thành cho trẻ
những hành động đúng đắn, phù hợp. Đối nghịch với KLTC là KL tiêu cực,
sử dụng hình phạt bằng trừng phạt thân thể như đánh, bạt tai… trừng phạt tinh
thần như chửi mắng, sỉ nhục, lăng mạ… những cách này ảnh hưởng tiêu cực
tới trẻ, ảnh hưởng lâu dài với trẻ. [25].
Tác giả Nguyễn Thị Tính cho rằng: PPKLTC là GV dựa trên cơ sở nắm
vững đặc điểm của từng HS, lựa chọn biện pháp giáo dục nhằm tập trung
khuyến khích mặt tích cực và ngăn chặn sự không tích cực. Việc này đòi hỏi
đến thể xác và tinh thần của HS, có sự thỏa thuận giữa GV và HS và phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý của HS, tạo điều kiện tốt nhất để các em tự sửa chữa
khuyết điểm, tự giác rèn luyện. Cùng với phương pháp dạy học lấy học sinh
làm trung tâm và phong trào xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực,
PPKLTC đối lập hoàn toàn với biện pháp kỷ luật lấy trừng phạt để răn đe,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
giáo dục HS [19].
Là khái niệm phản ánh quan điểm giáo dục tích cực, mô hình giáo dục
HS trong hoạt động và bằng hoạt động của HS. Thông qua đó GV giúp HS
thay đổi, điều chỉnh hành vi, hình thành và phát triển hành vi mới hoặc phòng
ngừa những hành vi tiêu cực có thể xảy ra. [24].
Nhìn chung các tác giả khi tiếp cận khái niệm PPKLTC với tư cách là
quan điểm trong giáo dục HS, được thể hiện thông qua các biện pháp giáo dục
cụ thể, sự phối hợp các phương pháp giáo dục dựa trên quan điểm KLTC để
giáo dục HS. Các tác giả đều nhất cho rằng: KLTC là phi bạo lực cả về thể
xác lẫn tinh thần, giúp HS tự giác nhận ra lỗi lầm, nhằm phát huy những mặt
tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của HS.
Dựa trên các quan điểm của các tác giả về PPKLTC, chúng tôi hiểu:
phương pháp kỷ luật tích cực trong giáo dục học sinh là hệ phương pháp
hướng vào người học đảm bảo sự tôn trọng nhân cách học sinh, nhằm hỗ trợ,
khuyến khích và thúc đẩy người học phát triển. Trong quá trình đó, khắc phục
được những biểu hiện nhận thức, thái độ và hành vi chưa phù hợp dần từng
bước điều chỉnh và tự điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh
phù hợp chuẩn mực xã hội.
1.3. Sử dụng phƣơng pháp kỷ luật tích cực trong giáo dục học sinh THPT
1.3.1. Đặc điểm học sinh trung học phổ thông
Học sinh THPT hay còn gọi là thanh niên mới lớn, (từ 14 đến 18) tuổi,
hiện tính hệ thống, tính toàn vẹn, tính nhất quán và khái quát ở mức độ cao.
Sự hình thành tự ý thức ở lứa tuổi thanh niên là một quá trình lâu dài trải qua
những mức độ khác nhau, quá trình tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi có tính
đặc thù riêng. Có khả năng đánh giá những cử chỉ, hành vi riêng lẻ, từng
thuộc tính riêng biệt, biết đánh giá nhân cách của mình nói chung trong toàn
bộ những thuộc tính nhân cách. Việc tự phân tích có mục đích là một dấu hiệu
cần thiết của một nhân cách đang trưởng thành và là tiền đề của sự tự giáo
dục có mục đích. Các nhà giáo dục cần phải tôn trọng ý kiến của HS, biết lắng
nghe ý kiến của các em, đồng thời có biện pháp khéo léo để các em hình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
thành được một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình. Cùng với sự
phát triển của tự ý thức thì tự giáo dục, tự tu dưỡng cũng khá phát triển, diễn
ra thường xuyên đã trở thành một quá trình rèn luyện toàn diện về các mặt.
Đời sống tình cảm của thanh niên vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp,
sâu sắc, mạnh mẽ và bền vững hơn ở thiếu niên rất nhiều. Thanh niên rất giàu
cảm xúc, giàu tâm trạng và tâm trạng đã mang tính ổn định. Có thể nói, tình
cảm của thanh niên đã chứa đựng và thể hiện đa dạng các cung bậc khác nhau
trong đời sống tình cảm, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Nhu cầu
tình bạn trở nên mạnh mẽ và bức thiết, rõ rệt và được gắn bó chặt chẽ giữa tình
bạn với lý tưởng. Tình yêu của thanh niên HS là một thứ tình cảm đặc biệt giữa
nam và nữ, giàu chất thơ, chất trữ tình, thuần khiết và lý tưởng, lành mạnh,
trong sáng, là sự phát triển hợp quy luật của đời sống tâm lý con người.
Sự lựa chọn nghề nghiệp bị chi phối bởi động cơ bên trong (như hứng
thú, nguyện vọng và khả năng học tập của họ) và động cơ bên ngoài (như dư
luận xã hội, lời khuyên của những người thân bởi năng lực và uy tín của các
thầy cô giáo). Ngoài ra khi chọn nghề thanh niên bị chi phối bởi những đặc
điểm giới tính và sức khỏe cùng với sự tác động của những điều kiện xã hội ở
Erikcxơn, đây là giai đoạn người thanh niên trẻ đang hình thành, tìm kiếm
cái bản sắc riêng có mục đích xã hội của mình. Giao tiếp trong nhóm bạn,
tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất. GV cần chú
ý đến ảnh hưởng của nhóm, tổ chức cho các nhóm tham gia vào các hoạt
động tập thể của Đoàn
Lứa tuổi HS THPT là lứa tuổi có những chuyển biến quan trọng cả về
sự phát triển thể chất lẫn sự phát triển tâm lý. Hiểu sâu sắc và nắm chắc
những đặc điểm tâm lý lứa tuổi, nắm chắc nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng,
xu hướng phát triển của các em là yêu cầu không thể thiếu được đối với nhà
giáo dục. Có hòa nhập được với HS của mình thì GV mới có thể thực hiện
được những biện pháp giáo dục mà mình đề xuất.
1.3.2. Sử dụng phương pháp kỷ luật tích cực trong giáo dục học sinh THPT
1.3.2.1. Bản chất, đặc trưng của kỷ luật tích cực trong giáo dục học sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
16
(i). Bản chất của kỷ luật tích cực:
Bản chất của KLTC là thiết lập những quy định, quy ước, ràng buộc
trong quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và giao lưu cho các em
HS, là quá trình chuyển hóa tích cực, tự giác những chuẩn mực xã hội thành
nhận thức, thái độ và hành vi thông qua phát triển nhân cách. Quá trình vận
dụng các quan điểm giáo dục HS mang tính tích cực trong quá trình tổ chức
cuộc sống và giao lưu để HS được trải nghiệm, học tập và trưởng thành, khắc
phục những sai lầm trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển nhân cách.
Thực chất PPKLTC là lấy yếu tố xây dựng quy định, nội quy, quy ước
có tính đến các đặc điểm cá nhân, đảm bảo sự tôn trọng nhân cách HS để triển
khai hệ thống các biện pháp và các PPGD học sinh một cách cụ thể. Quan
điểm của KLTC là không có HS không mắc lỗi mà HS học được gì từ những
lỗi lầm đó.