ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NINH KHẮC BẨY
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY KHÚC KHẮC
(SMILAX GLABRA ROXB.) Ở XÃ THƯỢNG CỬU,
HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
Thái Nguyên - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NINH KHẮC BẨY
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY KHÚC KHẮC
(SMILAX GLABRA ROXB.) Ở XÃ THƯỢNG CỬU,
HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành : Lâm Học
Mã số : 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Đặng Kim Vui
cứu ngoài thực địa.
Lãnh đạo Viện nghiên cứu Khoa học Tây Bắc, nay là Trung Tâm Phát
triển công nghệ Tây Bắc – Trung tâm Phát triển công nghệ cao – Viện Hàn
lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi
yên tâm học tập và công tác.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn, bạn
bè và đồng nghiệp đã góp ý, giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ anh chị em và người vợ yêu quý đã luôn
ở bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi học tập, làm việc để hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Ninh Khắc Bẩy
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục tiêu......................................................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu ................................... 3
Chương 1 .......................................................................................................... 4
TỔNG QUAN .................................................................................................. 4
1.1. Nhân giống và kỹ thuật gây trồng .............................................................. 4
1.1.1. Trên thế giới ............................................................................................ 4
1.1.2. Ở Việt Nam ............................................................................................. 8
1.2. Một số nghiên cứu về cây Khúc khắc ...................................................... 12
1.2.1. Giới thiệu về cây Khúc khắc ................................................................. 12
của cây Khúc khắc........................................................................................... 49
3.3.1. Ảnh hưởng phân bón NPK đến sự phát triển chiều cao........................ 49
3.4. Khả năng nảy mầm hạt Khúc khắc .......................................................... 51
3.4.1. Đặc điểm hình thái hạt và quả Khúc khắc ............................................ 51
3.4.2. Khả năng nhân giống bằng hạt Khúc khắc ........................................... 52
3.4.3. Khả năng sinh trưởng của cây Khúc khắc trong giai đoạn vườn ươm . 53
3.5. Đề xuất kỹ thuật nhân giống cây Khúc khắc ........................................... 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 58
1. Kết luận ....................................................................................................... 58
2. Kiến nghị ..................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 58
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ABT
: Aminobenzotriazole
CT
: Công thức
DSKHHGD : Dân số kế hoạch hóa gia đình
HĐND
: Hội đồng nhân dân
: Xác suất
S.
: Smilax
SX
: Sản xuất
TB
: Trung bình
TN
: Thí nghiệm
UBND
: Ủy ban nhân dân
VQG
: Vườn Quốc gia
WHO
: Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
Bảng 3.9: Số lượng cây sống trung bình trên công thức thí nghiệm giá thể........ 48
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón NPK đến sinh trưởng
chiều cao cây Khúc khắc ................................................................. 49
Bảng 3.11: Ảnh hưởng phân bón NPK đến khả năng ..................................... 50
ra chồi cây Khúc khắc ..................................................................................... 50
Bảng 3.12: Một số đặc điểm hình thái hạt và quả Khúc khắc ........................ 51
Bảng 3.13: Tỷ lệ nảy mầm của hạt Khúc khắc ............................................... 53
Bảng 3.14: Tỷ lệ sống và sinh trưởng chiều cao cây Khúc khắc .................... 53
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Cây Khúc khắc ................................................................................ 12
Hình 3.1: Biểu đồ ra rễ sau 22 ngày giâm hom .............................................. 38
Hình 3.2: Biểu đồ ra rễ sau 64 ngày giâm hom .............................................. 39
Hình 3.3: Ảnh hưởng của chất kích thích đến hom giâm cây Khúc khắc ...... 42
Hình 3.4: Biểu đồ số cây trung bình xuất vườn trên một công thức............... 43
Hình 3.5: Biểu đồ ra rễ của các công thức giá thể theo thời gian ................... 45
Hình 3.6: Tỷ lệ ra chồi của các công thức giá thể.......................................... 47
Hình 3.7: Ảnh hưởng của giá thể đến hom giâm cây Khúc khắc ................... 48
Hình 3.8: Bón phân NPK sau 1 tháng ............................................................. 50
Hình 3.9: Bón phân NPK sau 2 tháng ............................................................. 52
Hình 3.10: Biểu đồ ảnh hưởng của thời gian bón phân NPK đến sinh
trưởng chiều cao cây Khúc khắc ........................................................ 50
Hình 3.11: Quả và hạt cây Khúc khắc ............................................................ 52
1
cho việc thông thương, trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và
các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là
3528 km², với diện tích rừng là 144.256 ha, trong đó 69.547 ha rừng tự nhiên,
74.704 ha rừng trồng, riêng VQG Xuân Sơn thuộc huyện Tân Sơn với diện
tích vùng đệm là 18.369 ha, diện tích vùng lõi 15.048 ha và khu vực bảo vệ
nghiêm ngặt là 11.148 ha. Điểm đặc trưng của Xuân Sơn là vườn quốc gia
duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi (2.432 ha), được đánh giá là
rừng có giá trị đa dạng sinh học cao. Vì vậy, rất thuận lợi cho việc nhân
giống, gây trồng và phát triển cây dược liệu, để phục vụ phát triển kinh tế xã
hội của địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn được nguồn gen cây dược
liệu và bảo tồn đa dạng sinh học.
Khúc khắc hay có tên gọi khác là cây Thổ phục linh, tên khoa học
Smilax glabra Roxb., Họ Khúc khắc (Smilacaceae Vent.). Là cây dược liệu có
mặt rất nhiều trong các bài thuốc, vị thuốc nam, được sử dụng để tẩy độc cơ
thể, bổ dạ dày, khỏe gân cốt, làm cho ra mồ hôi, chữa đau khớp xương, chữa
tiêu hoá không bình thường, đau bụng tiêu chảy, viêm thận, viêm bàng quang,
phong thấp, viêm khớp, đòn ngã tổn thương, tràng nhạc, mụn nhọt độc, lở
ngứa, viêm mủ da, giang mai, giải độc thuỷ ngân và bạc... tại Mỹ củ được làm
nguyên liệu chế biến nước ngọt giải khát [23]. Cây Khúc khắc có phân bố
rộng hầu như trên cả nước nhưng quá trình khai thác, thu hái tràn lan đã dẫn
đến số lượng bị suy giảm nghiêm trọng. Nên cần phải nhân giống, gây trồng
và phát triển, vừa để bảo tồn được nguồn gen, bảo tồn được đa dạng sinh học,
đồng thời cung cấp được sản phẩm đang khan hiếm cho thị trường.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên
cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống cây Khúc khắc (Smilax glabra
Roxb.) ở xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”
3
TỔNG QUAN
1.1. Nhân giống và kỹ thuật gây trồng
1.1.1. Trên thế giới
1.1.1.1. Một số nghiên cứu về nhân giống
Theo cuốn Hướng dẫn bảo tồn thực vật hoang dại hữu ích của WHO,
IUCN và WWF. Nhân giống thực vật hoang dại hữu ích là một hoạt động
quan trọng trong công tác bảo tồn, nhằm tạo giống thực vật hoang dại hữu ích
phục vụ hoạt động trồng trọt, bảo tồn chuyển vị, bảo tồn nguyên vị, phục
tráng giống thực vật hoang dại hữu ích.
Nhân giống bằng hom (Cutting propagation): là một phương pháp nhân
giống sinh dưỡng với hom là một đoạn thân, cành, rễ được đặt trong điều kiện
môi trường thích hợp sẽ phát triển rễ bất định và mọc thành cây độc lập [46].
Đây là một hình thức nhân giống sinh dưỡng, dựa trên khả năng sinh sản sinh
dưỡng của cây, trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm. Tế bào mẹ sinh ra tế bào
con có bộ nhiễm sắc thể giống hệt mình. Do vậy sinh sản sinh dưỡng duy trì
được các đặc tính di truyền của cơ thể mẹ và ổn định qua nhiều thế hệ.
Phương pháp này được áp dụng để duy trì các dòng vô tính để tăng số lượng
các cá thể cây hiếm hay duy trì các genotyp quan trọng của cây mẹ [4],[46].
Nhân giống bằng hom đã được các nhà làm vườn và trồng cây cảnh ở
các nơi khác nhau trên thế giới sử dụng từ lâu đời và áp dụng trong sản xuất
lâm nghiệp cách đây hàng trăm năm, được nghiên cứu ở các nước trên thế
giới như Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Thụy Điển, Australia, Pháp, Ấn Độ,
Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Công Gô, đặc biệt từ khi con người tổng hợp
được các chất điều hoà sinh trưởng nhân tạo [36], [37], [41].
5
Ở Liên Xô (cũ) việc nhân giống bằng hom đã được tiến hành trên 50
năm trước, đã thí nghiệm nhân giống 260.000 hom của 240 loài cây thuộc 55
thái hết sức quan trọng góp phần quyết định đến sự phân bố, khả năng sinh
trưởng, phát triển và tạo ra năng suất sinh vật học của cây. Cùng với ánh sáng
thì các đặc điểm về tính chất đất đai, đặc biệt là hàm lượng các yếu tố dinh
dưỡng trong đất cũng đóng vai trò chi phối quan trọng đến khả năng cho năng
suất của cây. Chính vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng, đất
đai và phân bón tới sinh trưởng, phát triển của cây là những nội dung không
thể thiếu trong nỗ lực nghiên cứu bảo tồn và phát triển các loài thực vật hoang
dại hữu ích bản địa.
Ánh sáng là một trong những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng lớn nhất đến
cây trồng. Nó ảnh hưởng đến hầu hết các hoạt động sống của cây như quá
trình quang hợp, sự hút khoáng, vận chuyển các chất trong cây, sự thoát hơi
nước, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất cây trồng. Nhà
sinh lý học thực vật người nga Timiriazep đã nói: “Hạt diệp lục là tiêu cự
trong không gian một đầu kéo theo năng lượng ánh sáng mặt trời, đầu kia bắt
nguồn với mọi hoạt động sống của sinh vật”. Ông đã phát hiện ra vai trò tích
cực của hạt diệp lục ở cây xanh, đó là loại vật chất thường xuyên hấp thụ
năng lượng ánh sáng mặt trời, đồng hoá khí CO2 và nước tạo ra các vật chất
hữu cơ. Cây xanh hấp thụ các tia sáng một cách chọn lọc, chủ yếu các tia
trong nhóm ánh sáng trông thấy (λ = 0,39 – 0,76 µm). [32]
Kết quả nghiên cứu của Học viện Timiriazep cho thấy khi cây cải bắp
sinh trưởng đầy đủ dùng phương pháp nhân tạo rút ngắn thời gian chiếu sáng
còn 10 h/ngày trong 3 năm liên tục cây cải bắp không ra hoa. Đối với cây sắn
là cây cần ánh sáng ngày ngắn nên trong điều kiện ngày ngắn sẽ thuận lợi cho
sự sinh trưởng và phát triển của củ. Còn trong điều kiện ngày dài sẽ làm tăng
số lượng củ, thuận lợi cho sự phát triển cành lá nhưng không thuận lợi cho củ
lớn lên. Trong điều kiện thiếu ánh sáng không ảnh hưởng đến sự ra lá của
7
8
Như vậy, việc nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, sinh thái, công
dụng, tầm quan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển
các loài thực vật hoang dại hữu ích trên thế giới đã có nhiều kết quả. Các kết
quả đều khẳng định việc gây trồng, phát triển, sử dụng hợp lý và bền vững thì
những loài hoang dại hữu ích này sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập
cho người dân miền núi, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống,
đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồng thời đóng góp rất lớn trong
quá trình bảo vệ và phát triển rừng.
1.1.2. Ở Việt Nam
1.1.2.1. Nghiên cứu về nhân giống
Ở Việt Nam, nhân giống bằng hom cây lâm nghiệp và cây ăn quả một
cách có hệ thống mới được tiến hành vài thập kỷ nay tại hầu hết các trường
đại học, viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, cơ sở sản xuất, vườn Quốc
gia. Từ những năm 1986 đến nay, Phòng nghiên cứu giống cây rừng (nay là
Trung tâm nghiên cứu nhân giống thuộc Phân viện lâm nghiệp Miền Nam),
Trung tâm Phát triển Lâm nghiệp Phù Ninh, Trường Đại học Lâm nghiệp,
Trung tâm Nghiên cứu giống cây trồng (thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp) đã
tiến hành nghiên cứu giâm hom các loài phục vụ công tác trồng rừng như
Bạch đàn, Thông, Sở, Mỡ, Phi lao, Giáng hương, Keo giậu và một số cây
thuộc họ Quả hai cánh như Dầu rái, Sao đen. [17], [18], [19], [20], [26]; một
số loài qúy hiếm như Pơ mu, Bách xanh, Tùng, Thông đỏ, Tùng tháp
[15],[16],[21],[25],[40]; cây cảnh như Đỗ quyên, Hải đường, Chè rừng, Dạ
hợp [4], [40]; cây hoang dại hữu ích bản địa như Tai chua, Dọc, Trám đen,
Rau sắng, Dâu gia đất [4].
Nhờ có các nỗ lực nghiên cứu trên, hiện nay Việt Nam đã có thể nhân
giống bằng hom một số loài ở quy mô sản xuất lớn cây lâm nghiệp như: Bạch
đàn trắng, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Thông đuôi ngựa, Mỡ, Sở, Phi lao.
hơn, dài từ 10 – 20 cm không có khả năng ra rễ [28].
10
Phạm Duy Hùng và cs, đã thăm dò phương pháp giâm cành và rễ cây Ba
gạc hoa đỏ (Rauvolfia serpentina), có sử dụng chất kích thích ra rễ. Kết quả
cho thấy các cành giâm đều chết và không ra rễ, trong khi đó các hom rễ có
khả năng ra rễ tốt khi không sử dụng chất kích thích ra rễ [13].
* Giai đoạn từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay
Việc nghiên cứu nhân giống bằng hom thực vật hoang dại hữu ích được
thực hiện có hệ thống hơn trong các hệ thống vườn ươm hoàn thiện của ngành
lâm nghiệp, hay tự xây dựng theo các mô hình khác nhau. Kỹ thuật cắt hom,
xử lý và duy trì hom cũng được phát triển ở mức cao hơn. Nhiều loài đã được
nghiên cứu nhân giống bằng hom thành công. Mặc dù vậy, hầu hết các nghiên
cứu mới chỉ ở quy mô thí nghiệm hay thử nghiệm trong địa phương hẹp.
Năm 2006, Đặng Thái Dương nghiên cứu giâm hom cành Sở, đã xác
định 2 nhân tố ảnh hưởng là thuốc và điều kiện giâm hom, sau khi so sánh kết
quả thấy giâm hom với thuốc NAA nồng độ 0,04% và 0,05%, trong nhà giâm
hom đạt tỷ lệ rễ cao nhất là 85,19% [8].
Theo kết quả nghiên cứu của Dương Mộng Hùng (1992), các hom Phi
lao được xử lý IBA ở nồng độ 200 ppm có tỷ lệ ra rễ là 76,6% còn công thức
đối chứng chỉ đạt 18,3% [29].
Nguyễn Chí Hiểu, Đặng Kim Vui, Đặng Văn Minh (2009). Các công
thức thí nghiệm giâm hom cây Bò khai có sử dụng các chất kích thích ra rễ
cho kết quả cao hơn so với công thức đối chứng không dung thuốc. Trong đó
ABT (aminobenzotriazole) ở nồng độ 50ppm cho tỷ lệ cây hom xuất vườn
cao nhất, đạt 78,89%. Tiếp đến là NAA 200ppm đạt tỷ lệ xuất vườn 75,56%
và IBA 50ppm đạt 74,44%; Về giá thể: công thức 3 với giá thể là đất tầng B
70% + rơm mục 30% có tỷ lệ cây sống cao nhất 82,22% [43].
pháp sơ chế bảo quản măng.
Đỗ Văn Bản (2005) [2] cũng đã thống kê được hiện nay nước ta có 4 loài
tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng gồm Điềm trúc, Lục trúc, Tạp
giao và Mạnh tông. Đề tài đã thống kê được diện tích trồng Điềm trúc tính
đến năm 2003 là 2.700 ha. Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những thông tin về
12
đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và kinh nghiệm gây
trồng của nhân dân.
1.2. Một số nghiên cứu về cây Khúc khắc
1.2.1. Giới thiệu về cây Khúc khắc
1.2.1.1. Mô tả
Khúc khắc (Smilax glabra Roxb.) là một loại cây dây leo, sống lâu năm, dài
4 – 5 m, có nhiều cành nhỏ, thân nhẵn, không có gai, thường có tua cuốn dài. Lá
hình trái xoan thuôn, phía dưới tròn, phiến lá hình mác thuôn, 3 – 5 gân chính,
mép lá viền dày, dài 5 – 13 cm, rộng 3 – 7 cm. Hoa đơn tính khác gốc, hợp thành
tán ở nách lá chừng 20 – 30 hoa, cuống chung chỉ ngắn chừng 2 mm, cuống riêng
dài hơn chừng 10 mm hay hơn. Quả mọng, hình cầu, đường kính 6 – 7 mm, hơi 3
cạnh, có 2 – 3 hạt, chín màu tím đen có phấn ở ngoài [23]. Mùa hoa vào mùa thu
đông, mùa quả chín vào mùa xuân hè. Tái sinh bằng hạt và thân rễ. Cây sống dưới
tán rừng, ở cây bụi ven đường, ở sườn núi, ở trảng cỏ, ở độ cao 300 – 1500 m.
(Sách đỏ Việt Nam 2007 – trang 368)
Hình 1.1: Cây Khúc khắc
13
thân rễ: astilbin, engeletin, 0(3)-caffeoylshikimic acid, shikimic acid, ferulic
acid, β-sitosterin. Từ lá sau khi thủy phân có quercetin và kaempferol [31].
Phân tích lá và ngọn non của cây Khúc khắc có chứa: Nước 83,3%,
protein 2,4%, glucid 8,9%, chất xơ 2,2%, tro 1,2%, caroten 1,6 mg%, vitamin
C 18 mg%, trong thân rễ có nhiều tinh bột và có Stigmasterol, smilax saponin,
tigogenin.
1.2.2. Nghiên cứu về cây Khúc khắc
Các hoạt chất smitilbin, engeletin, astilbin, eurryphin hoặc resveratrol
triết từ thân rễ Khúc khắc có tác dụng bảo vệ gan [44]. Thân rễ Khúc khắc có
tác dụng điều trị sán lá nhỏ (clonorchis worm) [51]. Khúc khắc có tác dụng
làm tăng bài tiết acid uric ở chuột cống bình thường và chuột cống gây tăng
acid uric bằng fructose [51]. Khúc khắc có tác dụng hạ đường huyết trên
chuột nhắt bình thường và chuột nhắt ĐTĐ [50].
Chen Z và Cs (1990), nghiên cứu tác dụng của bài thuốc điều trị viêm
gan trong đó có chứa Khúc khắc. Kết quả cho thấy bài thuốc có tác dụng tốt
trong điều trị viêm gan mạn [45].
Tomoji Fukunaga và Cs (1997), đã phát hiện tác dụng hạ đường huyết
trên chuột nhắt bình thường và chuột nhắt ĐTĐ [50].
Chen T và Cs (1999), đã chứng minh các flavonoid chiết từ thân rễ Khúc
khắc có tác dụng bảo vệ gan [44].
Trong Sách Đỏ Việt Nam năm 1996 của Bộ Khoa học công nghệ và Môi
trường loài Khúc khắc có tên khoa học là Similax glabra Roxb., cây có biên
độ sinh thái rộng, tập trung chủ yếu ở độ cao từ 300 – 1500 m. Đây là loài
15
thuốc bổ, có giá trị cao. Tình trạng bảo tồn thuộc nhóm sẽ nguy cấp (V). Do
cây bị đào lấy thân rễ làm thuốc, nên đã huỷ diệt số lượng cá thể. Nếu tốc độ
16
nước giải khát đóng chai với tên là sansơ parây (salsepareille). Theo thói quen
của nhân dân một số nước châu Mỹ dùng cây Khúc khắc với mục đích giải
khát, tấy độc cơ thể, giúp tiêu hoá [23].
Năm 1961, Khoa da liễu Bệnh viện Quân y 108 có dùng chữa bệnh vẩy
nến (psoriasis) bằng đơn thuốc sau đây. Hạ khô tháo nam (cây cải trời)
(Blumea subcapitata) 80 – 120g, Khúc khắc 40 – 80g. Cả hai vị sắc với nước
(500 ml) trong 3 giờ ở nồi hấp 1500C, được 300 ml chia 3 hoặc 4 lần uống
trong ngày. Đã dùng điều trị 21 người khỏi hẳn nhưng có phối hợp ghép
Philatốp, 3 trường hợp đỡ 70 – 80%, 1 trường hợp điều trị dở dang. Thời gian
điều trị trung bình là 79 ngày (ngắn nhất 23 ngày, dài nhất 118 ngày). Trong
khi uống thuốc có phối hợp bôi những thuốc như thuốc mỡ salixylic 5%,
crizôphanic 5%, dầu Cađơ (huile de Cade) 10%, mỡ Saburô (Sabouraud) [23].
Đoàn Thanh Hiền, Đỗ Trung Đàm (1996), nghiên cứu vai trò của Thổ
phục linh trong các bài thuốc chữa thấp khớp có tác dụng chống viêm cấp và
mạn tính [14].
Đỗ Trung Đàm (1996), nghiên cứu tác dụng chống viêm mạn tính của
bài thuốc thấp khớp SASP 5221 trong đó có chứa cây Khúc khắc. Kết quả cho
thấy bài thuốc có tác dụng chống viêm mạn tính trên chuột cống [5].
Nguyễn Ngọc Xuân, Đào văn Phan, Nguyễn Duy Thuần (2000), nghiên
cứu tác dụng hạ đường huyết của thổ phục linh, đã kết luận dịch chiết ethanol
từ thân rễ thổ phục linh có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt [42].
Đào văn Phan, Nguyễn Ngọc Xuân, Nguyễn Duy Thuần (2000), nghiên
cứu tác dụng hạ đường huyết của thổ phục linh trên xúc vật thực nghiệm, đã
kết luận dịch chiết ethanol từ thân rễ thổ phục linh có tác dụng hạ đường
huyết trên chuột gây tăng đường huyết bằng Streptozotocin (STZ) và ức chế
tác dụng tăng đường huyết của adrenalin [31].
Mai Tất Tố, Dương Thị Ly Hương, Lưu Mạnh Hùng (2002), nghiên cứu
tác dụng hạ đường huyết của bài thuốc đông dược trong đó có cây Khúc khắc.