MỤC LỤC
Lời mở đầu………………………………………………………………………2
Chương 1: Những tác động của công nghệ mới đến nâng cao NLSX
trong các DNCN…………………………………………………………………3
1.1. CN và đổi mới CN……………………………………………………… 3
1.1.1. CN trong các doanh nghiệp ……………………………………………….3
1.1.2. Quan niệm về đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp ………………4
1.2. NLSX và nâng cao NLSX trong các doanh nghiệp ……………………….6
1.2.1. NLSX trong các doanh nghiệp ……………………………………………6
1.2.2. Nâng cao NLSX trong các doanh nghiệp …………………………………6
1.3. Vai trò của đổi mới công nghệ tới NLSX…………………………………7
Chương 2: Thực trạng ở Việt nam……………………………………………….8
2.1. Những kết quả đạt được về đổi mới công nghệ trong các
DNCN những năm qua………………………………………………………… 8
2.1.1. Thực trạng đổi mới công nghệ và một số kết quả đạt được……………….8
2.1.2. Thực trạng và ảnh hưởng của ĐMCN tới nâng cao NLSX
trong một số ngành…………………………………………………………… 8
2.2. Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân chủ yếu trong hoạt động ĐMCN….11
2.2.1. Tồn tại về ĐMCN trong các doanh nghiệp Việt nam ………………… 14
2.2.2. Những tác động chưa tốt của ĐMCN tới NLSX……………………… 16
2.3. Những thách thức………………………………………………………….17
2.3.1. Về vai trò……………………………………………………………… 17
2.3.2. Biểu hiện…………………………………………………………………17
2.3.3. Người sử dụng công nghệ ……………………………………………….18
2.3.4. Chất lượng của công tác đổi mới……………………………………… 18
Chương 3: Một số giải pháp ĐMCN nâng cao NLSX trong các doanh nghiệp 19
LỜI MỞ ĐẦU
Trong một thế giới mà toàn cầu hoá đang là xu thế chủ đạo, chưa bao giờ người
ta thấy cạnh tranh để tồn tại và phát triển giữa các quốc gia nói chung và giưã các
doanh nghiệp với nhau nói riêng lại gay gắt như ngày nay. Đặc biệt trong thời đại
- Thông tin, phương pháp, quy trình bí quyết.
- Tổ chức điều hành, phối hợp, quản lý.
- Con người.
( ba bộ phận sau gọi là phần mềm công nghệ ).
Bât kỳ quá trình sản xuất nào đều phải đảm bảo 4 thành phần trên. Mỗi thành
phần đảm nhiệm những chức năng nhất định. Trong đó thành phần trang thiết bị
được coi là xương sống, cốt lõi của quá trình hoạt động nhưng nó lại do con người
lắp đặt và vận hành. Thành phần con người được coi là nhân tố chìa khoá của nhân
tố hoạt động sản xuất nhưng lại phải hoạt động theo hướng dẫn do thành phần
thông tin cung cấp. Thành phần thông tin là cơ sở hướng dẫn người lao động vận
hành các máy móc thiết bị và đưa ra các quyết định. Thành phần tổ chức có nhiệm
vụ liên kêt các thành phần trên, động viên người lao động nâng cao hiệu quả sản
xuất.
Tuy khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng lại có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ này được phát triển qua các giai đoạn khác nhau của
lịch sử. Vào thế kỷ 17 – 18, khoa học kỹ thuật tiến hoá theo những con đường
riêng, có những mặt kỹ thuật đi trước khoa học. Ví dụ, năm 1784 máy hơi nước
của Giêm Oat ra đời trước khi có nguyên lý “ nhiệt động học “ của Các nô. Hoặc
kỹ thuật nên men rượu đã được sử dụng từ lâu trước khi có khoa học vi trùng của
Paster. Vào thế kỷ 19 khoa học kỹ thuật bắt đầu có sự tiếp cận, mỗi khó khăn của
kỹ thuật gợi ý cho sự nghiên cứu khoa học và ngược lại những phát minh khoa học
tạo điều kiện cho nghiên cứu ứng dụng.
1.1.2. Quan niệm về đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp
Đổi mới công nghệ là quá trình phát minh phát triển và dựa vào thị trường
những sản phẩm mới, quá trình đổi mới công nghệ mới. Hoạt động đổi mới công
nghệ bao gồm hai nội dung cơ bản.
1.1.2.1. Đổi mới sản phẩm
Đổi mới sản phẩm là việc tạo ra một sản phẩm hoàn toàn mới, hoặc cải tiến
các sản phẩm truyền thống của công ty mình. Việc tạo ra một sản phẩm mới rất
khó khăn.Trước hết phải đảm bảo được những điều kiện tiền đề. Đó là, có đầy đủ
1
Qp
D
1
S
0
S
0
S
1
Q
0
Q
1
P
0
P
1
Qp
Pp
DD
Kết quả cải tiến quy trình sản xuất
1.2. NĂNG LỰC SẢN XUẤT VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC SẢN XUẤT
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.2.1. Năng lực sản xuất trong các doanh nghiệp
Năng lực sản xuất của một doanh nghiệp là khả năng hay trình độ doanh
nghiệp đó trong việc phối , kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất và lực
lượng lao động công cụ lao động và đối tượng lao động để tạo ra những sản
phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường từ nguồn lực có sẵn của doanh nghiệp.
Chúng ta cần phải chú ý năng lực sản xuất của một doanh nghiệp không
CHƯƠNG 2 :
THỰC TRẠNG Ở VIỆT NAM
2.1. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM QUA
2.1.1. Thực trạng về đổi mới công nghệ và một số kết quả đạt được
Bước vào đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam được tổ
chức sắp xếp lại và giảm đáng kể. Về công nghệ hết sức lạc hậu không đáp ứng
được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình đổi mới với sự cố gắng, lỗ lực
tập trung đầu tư ứng dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại vào sản
xuất mà trực tiếp là việc đổi mới máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ phù hợp, đã
tạo được bước tiến mới nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp công
nghiệp, tạo ra năng suất lao động cao chất lượng sản phẩm được cải tiến, là cơ sở
để mở rộng thị trường hàng công nghiệp Việt Nam cả trong nước và ngoài nước.
Nếu nhìn nhận về xu thế đổi mới công nghệ dưới góc độ hướng đi của các
doanh nghiệp thì hai xu thế chủ yếu đang được chú trọng hiện nay ở Việt nam là
ứng dụng công nghệ tự động hoá vào sản xuất và tăng cường kỹ thuật an toàn.
Tự động hoá đã thực sự xâm nhập vào nước ta theo hai hướng rõ rệt. Một là các
doanh nghiệp ở cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế – xã hội có nhu cầu nâng cấp
trình độ hiện có , cải tiến trang thiết bị theo hướng hiện đại hơn.
Hai là các doanh nghiệp trong nước, các khu công nghiệp, các liên doanh đã có
và đang xây dựng mới các nhà máy thiết bị với các trang thiết bị nhập khẩu tiên
tiến và có trình độ công nghệ cao. Tự động hoá đã đem lại nhiều hiệu quả to lớn
trong các hoạt động kinh tế xã hội của đất nước. Do tầm quan trọng của công nghệ
tự động hoá. Ngày 28/3/1997 Chính phủ đã ban hành nghị quyết 27 CP về ứng
dụng và phát triển công nghệ tự động hoá phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Nghị quyết 27 CP của Chính phủ đã đề ra mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu
dài hạn đến năm 2000.
+ Về mục tiêu ngắn hạn : Các doanh nghiệp công nghiệp phải lựa chọn tiếp thu
dựng, thép, hoá chất …. đã được bộ công nghiệp tập trung chú ý đầu tư đổi mới
công nghệ theo hướng tăng cường kỹ thuật an toàn, ngăn cản khả năng xảy ra tai
nạn cho người lao động.
Trong lĩnh vực :
S
T
T
Tên đơn vị
Mua sắm trang bị
bảo hộ lao động ,
chi phí y tế bảo vệ
sức khoẻ cho
người lao động .
Mua sắm trang bị
dụng cụ , kỹ thuật
an toàn phục vụ
sản xuất và cải tạo
môi trường .
Kinh phí đầu tư
cho công tác phòng
chống cháy , nổ .
Tổng số
2000 5 năm 2000 5 năm 2000 5 năm 2000 5 năm
1 Tổng cty điện lực 40000 200000 50000 250000 5000 2500 95000 475000
2 Tcty XDCN 6000 30000 2000 6000 32000
3 Tcty than 201709 109140 310849
4 Tcty hoá giấy 7933,18 857675 1759,17 10550
5 Tcty hoá chất 27435
6 Tcty thép 4216,3 21080 67700 350 1750 16107 90530
7 Tct máy &TBCN 920 5066 10000 70 360 2740 15426
thống PLC. Việc điều khiển tự động hoá quá trình nhiệt đã nâng cao chất lượng
nhiệt luyện các sản phẩm cơ khí, giảm hàng sai hỏng do nhiệt luyện từ 4% xuống
còn 1% . Việc thay thế các bộ phận điều khiển vô cấp bán dẫn đã làm giảm mức
tổn thất điện năng từ 20% - 25% xuống dưới 6%. Đặc biệt có 2 thiết bị : máy doa
2B460 với kích thước bàn quay 1200mm được CNC có khả năng gia công các bề
mặt khuôn mẫu lớn các cánh tua bin thuỷ lực … và máy tiện SUT66 CNC có khả
năng gia công các trục pro.
Trong ngành sản xuất giày dép, phần lớn tiến bộ công nghệ dựa vào việc sử dụng
thành quả khoa học của bốn ngành chủ yếu sau :
- Thứ nhất, là sự tiến bộ về chế tạo máy. Máy thay thế bàn tay, sức lực của con
người để thực hiện các thao tác tinh xảo, sản xuất ra được nhanh những đôi giày
sát với mẫu thiết kế thời trang làm cho năng suất lao động tăng lên đột biến. Các
nhà chế tạo máy sản xuất giày đã và sẽ còn chế tạo ra các máy thực hiện được
những công đoạn khó khăn tỉ mỉ, khéo léo, tưởng chừng chỉ có bàn tay con người
mới làm được. Hiện tại và trong tương lai việc sản xuất giày được cơ giới hoá ngày
càng cao và ngày càng chuyên sâu, được máy tính hoá. Tuy nhiên có sự trợ giúp
của máy tính đã đưa năng suất lên rất cao chỉ chủ yếu ở hai công đoạn cắt , chặt vật
liệu và vò sáp giầy. Công đoạn vò sáp giầy bằng rôbốt đã làm cho năng suất đạt
đến gần 200 đôi / người / ngày, tăng gấp 5 – 6 lần gò ráp theo dây truyền bằng tải
dài, cổ điển, cần đông nhân công.
- Thứ hai là áp dụng những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực toán học, vật lí,
hoá học ….vào các công nghệ pha cắt nguyên vật liệu nhằm giảm được từ 3 – 4 %
vật tư tiêu hao, đặc biệt là giảm được nhiều chi phí thiết kế, chế tạo khuôn mẫu chi
tiết giày, các loại giày … Đặc biệt là sử dụng rộng rãi áp lực tia nước, tia la de, lập
trình mẫu trong pha cắt vật liệu, áp dụng các thành tựu mới trong công nghệ ăn
mòn hoá học, chế tạo cơ khí, các cấu trúc của CAD / CAM …
- Thứ ba, áp dụng các thành tựu sản xuất vật liệu mới. Chính nhờ các thành tựu
này mà giầy dép, đồ dùng bằng da đã trở nên phong phú hấp dẫn gây ấn tượng
thích thú cho người dùng. Các vật liệu mới về mũ giầy và đế giầy còn lưu ý đến cả
hiệu quả cao trong sử dụng, an toàn và tiện lợi trong mọi hoạt động, tạo cảm giác
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
2.2.1. Tồn tại về đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt
nam
Một là, tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm so với yêu cầu phát triển của doanh
nghiệp, của ngành và yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh
tế quốc dân.
Theo đánh giá chung hệ số đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất
còn thấp mới chỉ đạt dưới 10% . Cơ cấu trình độ công nghệ còn đơn giản chậm đổi
mới trong nhiều ngành. Ví dụ như ngành cơ khí, hiện tại chỉ đạt 6 –7 % hệ số đổi
mới do đó sản xuất mới chỉ đáp ứng 10% nhu cầu của đất nước.
Ngành dệt may có nhiều cố gắng đầu tư đổi mới công nghệ, nhưng tỉ lệ thiết bị
hiện đại trung bình mới chỉ đạt 43,5 %. Ngành mía đường phát triển mạnh nhưng
thiết bị chủ yếu nhập từ Trung quốc là loại trung bình tiên tiến, chỉ có một số ít
thiết bị đạt trình độ tiên tiến.
Các doanh nghiệp công nghiệp ở Hà nội và TP. Hồ Chí Minh có yêu cầu tốc độ
đổi mới công nghệ cao hơn các khu vực khác cũng chỉ đạt 6 –7% so với yêu cầu 13
– 15 %. Đánh giá chung, trình độ công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp
nước ta còn ở mức thấp, đổi mới chậm trong nhiều ngành . Đến nay công nghệ tiên
tiến hiện đại mới chỉ đạt 20,4 – 22,6 %. Công nghệ trung bình trên 50 % như
ngành nhựa và cao su 54%, chế biến thực phẩm 65,5%.
Hai là, trình độ quản lý và năng lực chuyên môn thấp thiếu tinh thần, trách
nhiệm của một số ít cán bộ quản lý xuất nhập khẩu và chuyển giao công nghệ, gây
nên tình trạng nhiều thiết bị cũ, lạc hậu được nhập vào nước ta với giá thành cao,
không phát huy được hiệu quả, gây tổn thất lớn về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến môi
trường và xã hội. Do khả năng hạn chế nên các hợp đồng chuyển giao thường do
một bên soạn thảo và trách nhiệm không rõ ràng. Khi có những trục trặc thường
bên giao không chịu trách nhiệm thua thiệt, các doanh nghiệp nước ta hứng chịu.
Đã có không ít trường hợp công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ, hàng tân trang được nhập
vào nước ta ( một cuộc khảo sát 700 thiết bị , 3 dây truyền tại 42 nhà máy cho
thấy : 76% số máy mới nhập thuộc những năm 1950 – 1960 . 70% số máy đã hết
doanh nghiệp được tổ chức độc lập với nhau, và kế hoạch nghiên cứu lại chủ yếu
do cấp trên giao hoặc do đề xuất từ các bản nghiên cứu , nên quan hệ giữa cơ sở
sản xuất và cơ quan nghiên cứu còn rất nhiều trở ngại, . Thực tế có nhiều đề tài
nghiên cưú được nhà nước cấp kinh phí, thu hút lực lượng đông đảo các nhà khoa
học tham gia và được đánh giá tốt nhưng công tác xã hội hoá kèm ( do cơ chế hoặc
nội dung nghiên cứu không xuất phát từ yêu cầu của doanh nghiệp ). Nên không
được áp dụng vào sản xuất gây lãng phí lớn. Trong khi đó các doanh nghiệp rất cần
sự giúp đỡ từ các cơ quan nghiên cứu về tư vấn kế hoạch, giải pháp công nghệ
triển khai thì không có kinh phí hoặc cơ chế pháp lý về việc sử dụng vốn đầu tư
cho nghiên cứu triển khai không rõ ràng cũng không được thực hiện.
Tóm lại, những tồn tại trên là lực cản làm giảm tốc độ đổi mới công nghệ so với
yêu cầu của thực tế doanh nghiệp công nghiệp, cần có những giải pháp khắc phục
nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp kịp với
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2.2.2. Những tác động chưa tốt của đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp
Thời gian qua các doanh nghiệp Việt nam đã tiến hành đổi mới công nghệ
nhưng còn rất nhiều bất cập.
Thứ nhất, một số doanh nghiệp nhập phải các công nghệ quá lạc hậu so với thế
giới thậm chí là so với ngay cả trong nước. Dẫn đến nước ta có nguy cơ trở thành
bãi thải công nghệ của các nước phát triển đồng thời không những không nâng cao
được năng lực sản xuất cho các doanh nghiệp mà còn hạn chế nó. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng trên như sự thiếu hiểu biêt, thiếu thông tin thậm chí có hiện
tượng tiêu cực của người giao dịch trong chuyển giao, đổi mới công nghệ …
Thứ hai, một số các doanh nghiệp lại nhập các công nghệ tiên tiến nhưng lại
không thích hợp với các doanh nghiệp Việt nam vì trình độ của người lao động
trong các doanh nghiệp không thể đáp ứng được yêu cầu vận hành các công nghệ
đó.
2.3. NHỮNG THÁCH THỨC
hiện đại hoá đất nước.
Để giải quyết vấn đề này về phía nhà nước cần phải xây dựng một chiến lược
phát triển khoa học – công nghệ nói chung và quy hoạch tổng thể về phát triển
công nghệ dựa trên những dự báo khoa học về mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội
đến năm 2005, 2010, 2020. Về phía các ngành và các doanh nghiệp công nghiệp
phải bám sát vào chiến lược quy hoạch tổng thể của nhà nước, chủ động xây dựng
kế hoạch cũng như lộ trình đổi mới và phát triển công nghệ của mình. Trong đó
ngoà những chỉ tiêu định tính, dứt khoát phải nêu được những chỉ tiêu định hướng
về các giai đoạn đổi mới và phát triển công nghệ ( như kế hoạch 1 năm, 2 năm, 5
năm ngành và doanh nghiệp phải làm gì ? đạt được kế hoạch mục tiêu gì ? và các
bước đổi mới công nghệ tăng từng phần hay toàn bộ ). Phần quan trọng hơn là kế
hoạch để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu đã đề ra. Phần này yêu cầu phải được thiết
kế một cách chi tiết, cụ thể, dựa trên các thông số dự báo khoa học về kinh tế – kỹ
thuật. Việc xây dựng kế hoạch thực hiện chỉ tiêu vừa phù hợp với khả năng phát
triển của doanh nghiệp vưà đảm bảo thực hiện đúng quy hoạch của ngành là một
công việc khó, đòi hỏi phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, bàn bạc dân chủ công khai,
đặc biệ là cần có sự tham khảo của các nhà khoa học chuyên ngành, các chuyên gia
tư vấn công nghệ. Làm được như vậy thì tính khả thi của kế hoạch mới cao, mới
động viên được sức mạnh tập thể phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch.
3.2. Thực hiện việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động chuyển giao đổi
mới và phát triển công nghệ.
Hoạt động đổi mới công nghệ ở nước ta hiện nay, chủ yếu thông qua các hình
thức kinh tế đối ngoại như các dự án đầu tư , liên doanh liên kết, nhập ngoại trực
tiếp các thiết bị kỹ thuật theo tổ chức hay cá nhân. Nhà nước phải tăng cường vai
trò kiểm soát chặt chẽ đối với các hình thức này , nhằm chấm dứt tình trạng nhập
thiết bị công nghệ lạc hậu kém hiệu quả trong thời gian qua. Cần lưu ý rằng, kiểm
soát chặt chẽ không có nghĩa là gây trở ngại cho doanh nghiệp mà vấn đề cơ bản là
tăng cường công tác thẩm đinh các dự án, trong đó thẩm định về mặt công nghệ
phải được coi là yêu cầu rất quan trọng không thể bỏ qua. Thẩm định kiểm tra phải
làm rõ mức độ tiên tiến hiện đại của công nghệ, tính thích hợp và hiệu quả kinh tế
- Phải tính toàn sát các chỉ tiêu kế hoạch, kinh tế đảm bảo tính toàn diện, đầy đủ
chính xác và thực hiện khách quan, căn cứ để tính toán phải xuất phát từ hệ thống
tiêu chuẩn, định mức đúng đắn, phương pháp tính toán khoa học.
3.4. Phải tạo sự phối hợp liên kết thường xuyên dưới nhiều hình thức, giữa cơ
quan nghiên cứu khoa học công nghệ với doanh nghiệp công nghiệp.
Các doanh nghiệp công nghiệp và các cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ
cần tăng cường các hình thức hợp tác đầu tư liên doanh liên kết. Trong đó, các
doanh nghiệp công nghiệp là cơ sở khởi xướng các vấn đề cần nghiên cứu đặt
hàng, đồng thời là nơi thử nghiệm các kết quả nghiên cứu, chủ động phối hợp với
các doanh nghiệp công nghiệp, giúp đỡ các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức như
: chuyên gia, tư vấn, mục tiêu là tìm giải pháp đổi mới công nghệ một cách cụ thể
và hiệu quả nhất. Hoạt động này chỉ có kết quả khi nhà nước ban hành quy chế phù
hợp, vừa động viên khuyến khích, vừa hướng dẫn hoạt động liên kết nghiên cứu
với ứng dụng khoa học – công nghệ theo đúng quỹ đạo. Đồng thời đòi hỏi sự tích
cực, chủ động, tự giác của cả hai phía.
3.5. Đổi mới công nghệ phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế xã hội,
chiến lược phát triển công nghệ của đất nước cũng như chiến lợc phát triển
của doanh nghiệp .
Chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược công nghệ quốc gia đóng vai trò
quan trọng trong định hướng phát triển công nghệ cũng như đầu tư đổi mới công
nghệ của từng doanh nghiệp nhằm một mặt có được những ưu đãi và hỗ trợ nhất
định ( về vốn , thông tin …) của chính phủ, mặt khác đảm bảo cho doanh nghiệp
được hướng đi đúng, tiết kiệm nguồn lực tránh được rủi ro không đáng có.
3.6. Đổi mới công nghệ phải nhằm mục tiêu từng bước bắt kịp trình độ công
nghệ so với các nước trong khu vực và trên thế giới tiến tới chủ động sáng tạo
công nghệ theo mô hình nghiên cứu ( R ) – Triển khai ( D ).
Ơ Việt Nam hiện nay, hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ,
mức tiêu hao nhiên liệu cao gấp 1,5 đến 2 lần, năng suất lao động công nghiệp chỉ
đạt 30 % so với thế giới. Một là nông nghiệp chỉ nuôi được 3 người trong khi đó ở
Mỹ là 30 người. Các loại vật liệu mới chỉ chiếm 5% tổng số các loại vật liệu, hệ số
5. Phạm Ngọc Lãng - Đổi mới cơ chế quản lý CGCN mới ( ứng dụng ở công ty
CGCN cao à tin học viễn thông ) .
6. Thanh Bình – Cần đẩy mạnh CGKH và CN cho nông nghiệp nông thôn.
7. Nguyễn Thanh Thịnh – Quy hoạch phát triển hệ thống nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ ở Việt Nam.
8. Phạm Xuân Nam – Quá trình phát triển CN ở Việt Nam triển vọng công
nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước .
9. Nguyễn Văn Dân – Một số vấn đề về chính sách phát triển Khoa học – công
nghệ .
10. Goroono – Chính sách công nghiệp cho công cuộc đổi mới , một số kinh
nghiệm của Nhật Bản.
11. Nguyễn Văn Linh - Đổi mới để tiến lên.
12. Hoàng Xuân Long – Kinh nghiệm của Trung Quốc và vấn đề thương mại
hoá các hoạt động khoa học và công nghệ.
13. Hoàng Xuân Long – Những lợi ích và các lực lượng trong quá trình đổi mới
cơ chế hoạt động khoa học ở Việt Nam.
14. TS . Hoàng Xuân Long - Đặc điểm của thương mại hoá các hoạt động
thương mại và công nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
15. Công nghệ và quản lý công nghệ ( bộ môn quản lý công nghệ trường
ĐHKTQD ) .
16. Tạp chí công nghiệp - Đổi mới công nghệ trong các
ngành công nghiệp thực trạng và những vấn đề cần giải quyết.
17. Tạp chí công nghiệp số 3, 5, 7, 10, 15, 19, 23 năm 2001 , số 1, 2 năm 2002.