SKKN Phát huy tính tích cực của học sinh khi dạy phân môn địa lý lớp 5 - Pdf 24

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
KHI DẠY PHÂN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 5
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ :
1/ Mục tiêu của môn học và sự cần thiết phải học tập tích cực:
Mục tiêu của phần Địa lí (trong môn Lịch Sử và Địa lí lớp 5) nhằm cung cấp
cho học sinh một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự vật, hiện tượng và các
mối quan hệ địa lí ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới. Bước đầu hình
thành và rèn luyện cho học sinh các kỹ năng địa lí, năng lực tự học và góp phần
bồi dưỡng nhân cách cho học sinh.
Dạy học Địa lí chiếm vai trò quan trọng nhằm góp phần hình thành và phát
triển ở học sinh thói quen ham hiểu biết, yêu thiên nhiên đất nước con người, có
ý thức và hành động bảo vệ thiên nhiên. Vì vậy, việc dạy học Địa lí không những
cung cấp cho học sinh những kiến thức địa lí thuần túy mà còn phải hình thành,
phát triển cho các em các kĩ năng và năng lực tự học. Đó là những nhiệm vụ song
song và có tầm quan trọng như nhau.
Để đạt được mục tiêu nói trên, người giáo viên cần có những phương pháp
dạy học thích hợp để giúp cho học sinh không những nắm vững kiến thức địa lí,
rèn luyện kĩ năng, mà còn giáo dục thái độ, phát triển nhân cách, khơi gợi tính tự
giác tích cực học tập của học sinh. Đó là phương pháp dạy - học tích cực. Hay
nói cách khác đó là quá trình làm việc tích cực của thầy và trò để đem lại hiệu
quả cao nhất.
Qua quá trình giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy việc phát huy tính tích cực
của học sinh trong việc học tập phân môn Địa lí là việc làm cần thiết và hết sức
quan trọng, nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh theo phương pháp
mới, góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học. Học tập tích cực học
sinh là chủ thể của hoạt động, chỉ có hoạt động mới có thể tự phát hiện, tự chiếm
lĩnh, tự giải quyết vấn đề. Bằng hoạt động học tập tích cực, chủ động, mỗi học
1
sinh tự hình thành nhân cách của mình. Học là hoạt động thay đổi cách nghĩ đến
cách làm, cách sống. Nói về vai trò hoạt động học tập, người Ấn Độ có câu: “Tôi
nghe tôi quên, tôi nhìn tôi nhớ, tôi làm tôi hiểu”. Bằng những nghiên cứu về tâm

thường xuyên. Về phía học sinh, các em chưa có sự chuẩn bị tốt cho các giờ học
địa lí, chủ yếu dựa vào kênh chữ để phát biểu mà ít đề cập đến kênh hình, biểu
đồ, lược đồ và ít rèn luyện kỹ năng địa lí. Nhiều em còn lúng túng khi thực hành
chỉ bản đồ. Do đó mà học sinh chưa thực sự chủ động tích cực trong giờ học.
Những thuận lợi và khó khăn khi dạy môn Địa lí:
Thuận lợi:
Về sách giáo khoa: được trang bị đầy đủ cho học sinh. Các tranh ảnh, lược đồ,
bản đồ ở sách giáo khoa đẹp, rõ ràng, chính xác. Các câu hỏi hoặc các yêu cầu
hoạt động được in nghiêng ở giữa bài gợi ý cho giáo viên tổ chức các hoạt động,
khai thác thông tin được dễ dàng. Câu hỏi cuối bài giúp giáo viên kiểm tra việc
thực hiện mục tiêu bài và củng cố kiến thức. Phần tóm tắt trọng tâm bài được
đóng khung rất rõ. Sách giáo viên có phần bổ sung thông tin, giúp giáo viên mở
rộng kiến thức. Về chương trình: Cấu trúc nội dung theo từng chủ đề, từng bài cụ
thể. Mục tiêu, nội dung chương trình nhẹ nhàng phù hợp với lứa tuổi học sinh.
Khó khăn:
Về giáo viên: nhiều giáo viên chưa tìm hiểu, cập nhật thông tin kịp thời về
các yếu tố tự nhiên, về con người, về cuộc sống xung quanh để hỗ trợ cho môn
học. Do yếu tố khách quan nên giáo viên chưa có điều kiện tổ chức các buổi sinh
hoạt ngoại khóa cho học sinh để kết hợp với học tập. Về phía học sinh: các em
chưa chú trọng môn học này, chủ yếu còn học thuộc nhiều hơn học hiểu để mở
rộng vốn sống. Đa số học sinh lớp tôi chủ nhiệm đều là con nhà nông, hoàn cảnh
gia đình khó khăn, không có điều kiện tiếp xúc, học hỏi các hoạt động giáo dục
sinh hoạt ngoại khóa như tham quan, du lịch…
3
Xuất phát từ những tình hình thực tế của lớp và những thuận lợi, khó khăn nói
trên, bản thân tôi luôn suy nghĩ làm sao tìm ra phương pháp dạy học tốt nhất để
giúp các em học tốt môn học này bằng cách học tự giác, tích cực và có niềm
hứng thú say mê môn học. Làm được điều đó chính là giúp các em nắm được
những kiến thức cơ bản về môn Địa lí có kĩ năng địa lí và năng lực tự học. Các
em có những nhận thức đúng đắn về cuộc sống thế giới xung quanh mình, các em

về Địa lí, mới hiểu được sâu sắc hơn về mảnh đất các em đang sinh sống. Các em
sẽ biết yêu quý tự nhiên, biết cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách thông
minh và đúng đắn nhất để phục vụ cho lợi ích của con người.
Qua học tập Địa lí, các em sẽ nhớ đến nhiệm vụ bảo vệ tự nhiên và có ý thức
làm cho tự nhiên của đất nước chúng ta ngày thêm giàu và đẹp.
2/ Hướng dẫn sử dụng tích cực các thiết bị dạy học :
Các thiết bị dạy học Địa lí hiện nay khá phong phú, bao gồm tranh, ảnh, mô
hình, quả địa cầu, bản đồ, băng đĩa, phim giáo khoa,…Khi sử dụng thiết bị dạy
học giáo viên cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung bài học để lựa chọn thiết bị cho
phù hợp. Tránh quá tải về thiết bị trong một giờ học.
Sử dụng thiết bị như là một nguồn cung cấp kiến thức chứ không chỉ để minh
họa cho bài giảng. Khi sử dụng giáo viên cần giải thích cho học sinh hiểu: sử
dụng thiết bị nhằm mục đích gì ? Cần tìm những nội dung gì ? và cách thức sử
dụng.
2.1 Đối với bản đồ, lược đồ :
Để giúp học sinh có khả năng làm việc độc lập, tích cực với bản đồ, lược đồ,
trong quá trình dạy học, giáo viên phải chú trọng rèn luyện một số kĩ năng sử
dụng bản đồ.
Rèn luyện kĩ năng xác định phương hướng trên bản đồ.
5
Ở lớp 4, học sinh đã biết xác định các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Sang lớp
5, học sinh cần xác định thêm bốn hướng phụ nữa là Đông Bắc, Đông Nam, Tây
Bắc, Tây Nam. Giáo viên cho học sinh thực hành nhiều lần để nhớ được: trên bản
đồ phía trên là hướng Bắc, phía dưới là hướng Nam, bên phải là hướng Đông,
bên trái là hướng Tây. Ngoài ra, giáo viên còn giúp học sinh xác định vị trí của
khu vực bán cầu Bắc, bán cầu Nam và đường xích đạo. Chính nhờ việc xác định
được các hướng và vị trí này sẽ giúp các em nắm được vị trí của các nước, các
châu lục thể hiện trên bản đồ, lược đồ một cách dễ dàng.
Ví dụ : Khi dạy bài : Việt Nam – Đất nước chúng ta, tôi yêu cầu học sinh quan
sát lược đồ Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á để xác định :

Ví dụ : màu xanh lá mạ chỉ đồng bằng, màu xanh nước biển đậm nhạt chỉ độ
sâu của biển, màu đỏ đậm nhạt chỉ độ cao của cao nguyên, đồi núi.
Mức độ 2: Học sinh dựa vào bản đồ để tìm ra đặc điểm của đối tượng địa lí.
(Ví dụ: Vị trí dãy núi ở đâu ? Núi cao hay thấp ? Núi có hướng gì…?).
Quan sát lược đồ hình 1, SGK trang 69, học sinh sẽ nêu được những dãy núi
có hướng tây bắc- đông nam, những dãy núi có hình cánh cung.
Mức độ 3: Học sinh vận dụng các kiến thức đã có, xác lập các mối quan hệ
địa lí để rút ra những điều mà trên bản đồ không trực tiếp thể hiện.
Ví dụ: Em hãy cho biết vì sao sông ngòi ở miền Trung thường ngắn và dốc ? (do
miền Trung hẹp ngang, địa hình có độ dốc lớn nên sông ngòi miền Trung ngắn và
dốc.)
Rèn luyện kĩ năng tìm và chỉ vị trí địa lí của các đối tượng trên bản đồ:
Để rèn các kĩ năng này giáo viên cần đưa ra các bài tập cụ thể yêu cầu học
sinh dựa vào bản đồ để xác định vị trí của một đối tượng nào đó.
7
Ví dụ: Dựa vào Lược đồ công nghiệp Việt Nam (H.3,SGK trang 94), em hãy cho
biết các ngành công nghiệp khai thác dầu, than, a-pa-tít có ở những đâu ?
Học sinh đã nắm vững các kí hiệu khoáng sản nên tìm ra nhanh chóng: Ngành
công nghiệp khai thác dầu mỏ có ở Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bạch Hổ, Rồng.
Ngành công nghiệp khai thác than có ở Quảng Ninh. Ngành công nghiệp khai
thác a-pa-tít có ở Cam Đường (Lào Cai),…
Hoặc : Em hãy tìm và chỉ các nhà máy thủy điện có ở nước ta trên bản đồ.
Học sinh sẽ dựa vào kí hiệu và tìm ra nhanh chóng các nhà máy thủy điện Hòa
Bình, Trị An, Y-a-ly,…
Cần lưu ý: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách chỉ vị trí một đối
tượng trên bản đồ cho đúng quy định. Chẳng hạn khi chỉ vị trí một dòng sông học
sinh phải chỉ xuôi theo dòng chảy từ thượng nguồn đến hạ nguồn chứ không chỉ
theo hướng ngược lại hoặc chỉ vào một điểm trên sông. Khi chỉ vị trí của một
thành phố, thị xã, thì phải chỉ vào kí hiệu thể hiện thành phố, thị xã chứ không
chỉ vào chữ ghi tên thành phố, thị xã. Khi chỉ về một vùng lãnh thổ (một tỉnh,

Việt Nam, Lào nằm phía Tây Việt Nam, Cam-Pu-Chia nằm ở phía Tây Nam
nước Việt Nam nên các em tìm ra nhanh chóng.
2.3 Đối với tranh ảnh:
Các tranh ảnh dùng trong dạy học Địa lí có rất nhiều loại: tranh ảnh trong sách
giáo khoa, tranh ảnh do giáo viên, học sinh sưu tầm. Khi hướng dẫn học sinh
quan sát tranh, giáo viên phải đưa ra những yêu cầu cụ thể để học sinh quan sát ,
so sánh và rút ra kết luận.
Ví dụ: Học sinh quan sát ảnh chụp ở hình 2 và hình 3, SGK trang 74 và nêu
được: Hình 2: Cảnh đồng ruộng hạn hán đất đai nứt nẻ, cây lúa héo khô. Vì vậy
9
hạn hán gây thiệt hại về lúa gạo, hoa màu, làm ảnh hưởng đến đời sống và sản
xuất của nhân dân ta. Hình 3: Cảnh lũ lụt, nước lũ dâng lên cao làm ngập nhà
cửa, gây khó khăn trong việc đi lại, sinh hoạt làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
đời sống của nhân dân ta.
3/ Phát huy tính tích cực qua việc tìm hiểu, khai thác nội dung bài:
Sau khi trang bị cho học sinh các kĩ năng về sử dụng các thiết bị dạy học, tôi
tiến hành bước tiếp theo: hướng dẫn các em cách khai thác nội dung bài.
3.1 Khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ:
Về phía giáo viên :
Giáo viên cần xác định kiến thức trong bài mà học sinh cần nắm qua lược đồ,
bản đồ sao cho phù hợp để học sinh có thể sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học tự
phát hiện ra kiến thức mới.
Soạn một hệ thống câu hỏi dựa trên lược đồ trong sách giáo khoa và trình độ
học sinh để dẫn dắt học sinh tự khám phá kiến thức. Các câu hỏi thể hiện dưới
nhiều hình thức : tự luận, câu đúng sai, câu nhiều lựa chọn, câu điền khuyết
Giáo viên nghiên cứu kĩ các loại bản đồ, lược đồ cần để phục vụ từng bài dạy
làm cơ sở hướng dẫn cho học sinh. Từ bản đồ giáo viên dẫn dắt học sinh tự thu
nhận được các kiến thức địa lí. Đó cũng là một biện pháp tích cực đổi mới
phương pháp dạy học của phân môn.
Về phía học sinh :

Đồng Nai
Xê Xan
Sông Đà
Sông ở miền Bắc
……………………
………………
……………………
………………
Sông ở miền Trung
……………………
……………………
……………………
……………
Sông ở miền Nam
…………………
…………………
…………………
………………
3.2 Khai thác kiến thức từ bảng số liệu:
Về phía giáo viên :
- Xác định kiến thức trong bài mà học sinh cần nắm qua bảng số liệu.
- Soạn một hệ thống các câu hỏi dựa vào bảng số liệu và trình độ của học sinh
để gợi ý cho học sinh tự khám phá ra kiến thức mới. Các câu hỏi được thể hiện
dưới nhiều hình thức như ; tự luận, câu đúng sai, câu nhiều lựa chọn, câu điền
khuyết,
Về phía học sinh :
- Giáo viên bồi dưỡng cho học sinh năng lực so sánh, đối chiếu, phân tích các
số liệu.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc với bảng số liệu để theo các bước
sau

hình vẽ. Biểu đồ có nhiều loại, nhưng SGK lớp 5 đề cập đến biểu đồ hình cột.
Về phía giáo viên:
Khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ biểu đồ giáo viên cần :
- Xác định kiến thức trong bài mà học sinh cần nắm được qua biểu đồ. Soạn
một hệ thống câu hỏi phù hợp để tạo điều kiện cho học sinh khai thác kiến thức
mới từ biểu đồ. Các loại câu hỏi được thể hiện dưới hình thức tự luận, test (câu
đúng sai, câu nhiều lựa chọn, câu điền khuyết, )
Về phía học sinh : Học sinh có kĩ năng đọc từng loại biểu đồ.
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc với biểu đồ hình cột theo các bước sau
Bước 1 : Nắm được mục đích làm việc với biểu đồ
Bước 2 : Đọc tên biểu đồ để biết được nội dung của biểu đồ.
Bước 3 : Hiểu các giá trị được biểu hiện ở 2 trục : trục dọc và trục ngang.
Bước 4 : Đọc các số tương ứng trên 2 trục
Bước 5 : So sánh độ cao của các cột và rút ra kết luận.
Ví dụ : Khi dạy bài 14 : Giao thông vận tải (trang 96/ SGK)
13
Giáo viên xác định những kiến thức trong bài mà học sinh cần khai thác qua biểu
đồ :
+ Nhận biết được những loại hình giao thông vận tải ở nước ta
+ So sánh khối lượng hàng hóa vận chuyển của từng loại hình giao thông vận
tải.
- Sau đó tôi soạn hệ thống câu hỏi gợi ý học sinh làm việc với biểu đồ:
Câu 1 : Trục dọc, trục ngang biểu hiện gì ? Các số liệu được biểu thị bằng đơn vị
nào ?
Câu 2 : Em hãy điền số thích hợp vào bảng sau:
Loại hình vận tải Khối lượng hàng hóa vận chuyển(triệu tấn )
Đường sắt
Đường bộ
Đường sông
Đường biển

Câu 1 : Nhận xét đặc điểm rừng rậm nhiệt đới và rừng ngập mặn.
Câu 2 : Đánh dấu X vào ô trống trước những ý em cho là đúng :
Rừng rậm nhiệt đới là:
 Rừng chỉ có một loại cây.
 Rừng thưa, rụng lá về mùa khô.
 Rừng rậm, có nhiều loại cây, có nhiều tầng, xanh quanh năm.
Rừng ngập mặn là :
 Rừng thay lá.
 Rừng ở nơi đất thấp ven biển, có các loài cây ưa mặn: đước, vẹt, sú,
 Rừng gồm các loài cây có lá nhỏ, nhọn như thông, tùng.
Câu 3 : Chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ chấm :
- Vùng phân bố của rừng rậm nhiệt đới là (đồi núi, ven biển)
15
- Vùng phân bố của rừng ngập mặn là (đồi núi, ven biển nơi có
thủy triều lên xuống hàng ngày)
4.2 Phương pháp hình thành khái niệm Địa lí:
- Hình thành khái niệm Địa lí chung tiến hành theo các bước sau :
Bước 1 : Hình thành những biểu tượng đúng bằng cách cho học sinh quan sát
các đối tượng định hình thành khái niệm đồng thời tìm hiểu những hiểu biết sẵn
có của học sinh về các đối tượng quan sát.
Bước 2 : Đặt câu hỏi hoặc nêu tình huống có vấn đề để học sinh tìm ra những
dấu hiệu chung, bản chất của đối tượng.
Bước 3 : Cho học sinh đối chiếu, so sánh các đối tượng cùng loại để lĩnh hội
đầy đủ và vững chắc các dấu hiệu chung bản chất của khái niệm.
Bước 4 : Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả.
- Hình thành khái niệm Địa lí riêng : là hình thành khái niệm chỉ những sự vật
và hiện tượng Địa lí riêng biệt cụ thể. Mỗi khái niệm Địa lí riêng chỉ liên quan
đến một đối tượng và phản ánh đặc điểm riêng của nó. VD : sông Hồng, nhà máy
thủy điện Y-a-ly…
- Hình thành khái niệm địa lí tập hợp có thể được tiến hành theo các bước

với ảnh (hình 2,3) để nhận xét về lượng
nước sông trong mùa lũ và mùa cạn.
Sông ngòi nước ta có lượng nước thay
đổi theo mùa.
Làm việc cả lớp
+ GV khai thác vốn hiểu biết của HS
hoặc cho xem băng để các em nhận xét
được nước sông vào mùa lũ rất đục
+ Từ đó GV nói nước sông đục vì chứa
nhiều phù sa
Sông ngòi nước ta có chứa nhiều phù
sa.
17
Từ kết quả tìm tòi trên, học sinh có thể nêu khái niệm về sông ngòi Việt Nam
như sau : sông ngòi Việt Nam dày đặc, phân bố rộng khắp trên cả nước nhưng ít
sông lớn,sông có lượng nước thay đổi theo mùa và có nhiều phù sa.
Sau khi trang bị cho học sinh kĩ năng sử dụng bản đồ, quả địa cầu cũng như
cách thực hành trên bản đồ, bảng số liệu, biểu đồ và xác định các phương pháp
dạy học, tôi tiến hành các bước tiếp theo : Cách tổ chức lớp học.
5/ Hình thức tổ chức dạy học theo hướng tích cực:
Như chúng ta đã biết, với phương pháp dạy học truyền thống thì hình thức tổ
chức dạy học cả lớp là phổ biến. Còn với phương pháp dạy học tích cực đòi hỏi
học sinh phải làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn thảo luận nhiều hơn thì
giáo viên cần tổ chức linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong một tiết học như:
dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm, và dạy học toàn lớp,…
5.1 Hình thức tổ chức dạy học cá nhân:
Giáo viên nên tổ chức cho học sinh làm việc theo phiếu học tập, tạo điều kiện
để mỗi học sinh tự suy nghĩ, tìm tòi, thể hiện tài năng, sở trường của mình. Học
tập cá nhân còn được tiến hành qua các hoạt động độc lập khác như viết, vẽ, sưu
tầm tranh ảnh…

Dạy học theo nhóm nhằm khai thác trí tuệ của tập thể và cũng là một hình
thức rèn luyện học sinh thông qua tập thể.
Học sinh được tổ chức trao đổi những điều hiểu biết của mình và đối chiếu
với sự hiểu biết của bạn nên việc học tập sẽ đem lại hiệu quả cao hơn.
Tác dụng của hình thức dạy học theo nhóm :
- Học sinh biết cách trình bày ý kiến của mình đối với người khác.
19
- Các em biết nghe và lựa chọn để tiếp nhận hiểu biết của bạn để bổ sung vào
vốn hiểu biết của mình. Thông qua thảo luận, nâng cao được năng lực của cá
nhân. Học sinh có điều kiện tập dợt cách thức chỉ huy người khác.Việc học theo
nhóm còn có tác dụng xử lí trí tuệ tập thể theo phương châm : “Một cây làm
chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
Tác dụng của hình thức học nhóm rất cao nhưng tổ chức như thế nào để đem
lại hiệu quả đó là vấn đề cần quan tâm. Vì vậy khi tổ chức hình thức dạy học này
cũng khá công phu, đòi hỏi giáo viên có sự chuẩn bị bài thật chu đáo, tiến hành
một cách có khoa học.
Sự chuẩn bị bài ở nhà :
Đối với giáo viên :
Nghiên cứu bài dạy và soạn bài :
Muốn có bài dạy tốt giáo viên cần có sự nghiên cứu bài dạy một cách chu đáo
để thấy được mục đích bài dạy là gì ? Từ đó chọn hình thức tổ chức dạy học cho
phù hợp. Khi soạn bài, giáo viên cần xác định được vấn đề , cách giải quyết vấn
đề và dự kiến các tình huống có thể xảy ra để giải đáp cho học sinh.
Khi soạn bài giáo viên cần thể hiện rõ trên giáo án mục đích, yêu cầu bài dạy,
các phương tiện và các bước trên lớp. Nội dung bài soạn được chia theo nội
dung, phương pháp rõ ràng.
Chuẩn bị đồ dùng dạy học :
Để có tiết dạy tốt, ngoài việc soạn bài giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo về
các đồ dùng dạy học phục vụ cho bài dạy như bản đồ, lược đồ, quả địa cầu, phiếu
bài tập, phiếu giao việc. Đối với bản đồ, hoặc lược đồ thì phải bảo đảm yêu cầu

các em mới học tốt được. Nếu các em chỉ ỷ lại, trông chờ vào bài giảng của giáo
viên trên lớp thì sự tiếp thu của các em sẽ có phần hạn chế. Vì vậy giáo viên cần
động viên các em chuẩn bị tốt khâu chuẩn bị bài ở nhà.
21
Cách tổ chức ở lớp :
Đối với học sinh :
Trên cơ sở học sinh giữ vai trò tích cực, chủ động tham gia thảo luận và học
hỏi ý kiến lẫn nhau để tìm ra kiến thức. Cho nên việc phân chia nhóm cũng tính
dến các đối tượng trong lớp. Tùy theo nội dung bài học và số lượng đồ dùng dạy
học chuẩn bị được, giáo viên quyết định số học sinh ở mỗi nhóm . Có thể chia
nhóm theo từng trình độ (giỏi, khá, trung bình), hoặc nhóm hỗn hợp có đủ trình
độ, nhóm theo sở trường, nhóm ngẫu nhiên Khi phân nhóm giáo viên nhớ phân
luôn nhóm trưởng và thư kí. Không nên cố định các nhóm cũng như vai trò của
từng thành viên.
Tôi luôn luân phiên học sinh làm nhóm trưởng, thư kí để tạo cho các em có
lòng tin ở bản thân mình, đồng thời giúp các em biết xử lí tình huống nhanh
nhẹn. Mặt khác giúp các em có tính nhút nhát, học sinh yếu , học sinh dân tộc
thiểu số có điều kiện phát biểu ý kiến của mình và dần dần các em mạnh dạn
hơn.Những trường hợp này giáo viên cần động viên giúp đỡ và khen ngợi kịp
thời.
Đối với giáo viên :
Khi cho học sinh thảo luận nhóm, cần tạo cho các nhóm sinh hoạt thảo luận
sinh động, có nội dung sâu sắc, tránh việc chỉ trình bày theo hình thức. Muốn vậy
người giáo viên cần theo dõi sát sao các nhóm thảo luận để kịp thời nhắc nhở
những em thiếu tập trung vào việc thảo luận nhóm. Qua đó ta biết được các nhóm
đã hiểu như thế nào, giải quyết vấn đề ra sao để hướng dẫn giúp đỡ một cách cụ
thể. Nếu nhóm nào lơ là cần nhắc nhở các em tập trung tránh tình trạng chỉ có
một nhóm trưởng và thư kí hoạt động.
Ở lớp, khi giao việc cho các nhóm giáo viên cần chú ý đến : nội dung phiếu
giao việc, phiếu bài tập phải rõ, gọn đảm bảo tính vừa sức và phù hợp với thời

- Em hãy nêu tên các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam, cứ mỗi dân
tộc người ứng với 1 điểm , 10 dân tộc ứng với 10 điểm, trò chơi bắt đầu.
- Mặt khác, phần kết thúc bài dạy cũng góp phần quan trọng không kém. Đây
là lúc củng cố kiến thức cho các em , giúp các em có một ấn tượng sấu sắc về nội
dung bài học , từ đó các em khắc sâu nội dung kiến thức nhanh hơn và nhớ lâu
hơn. Vì vậy cuối bài dạy, vào phần củng cố bài tôi luôn tạo ra cho các em tình
huống để củng cố như : hình thức trắc nghiệm, trò chơi hái hoa, trò chơi “Ai
nhanh nhất”
Ví dụ: Khi dạy bài “Khí hậu” tôi củng cố bằng hình thức trắc nghiệm sau :
Đánh dấu X vào ô trống cho dòng nào đúng và đầy đủ nhất :
a/ Nước ta có khí hậu
 Ôn dới
 Hàn đới
 Nhiệt đới gió mùa
b/ Đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa là :
 Nhiệt độ cao quanh năm.
 Nhiệt độ cao, gió và mưa thay đổi theo mùa
 Một năm chia làm 4 mùa.
Giáo viên viết sẵn vào 2 bảng phụ, học sinh cử đại diện 2 đội lên thi đua đánh
dấu X vào ô trống. Cả lớp nhận xét tuyên dương.
Ví dụ : Khi dạy bài “Dân số nước ta” tôi củng cố bằng cách xác lập mối quan
hệ sau:
Hãy điền nhanh mũi tên và các từ còn thiếu vào sơ đồ sau
Thiếu ăn
Thiếu mặc.
Thiếu ở
Thiếu .học hành
(các mũi tên và chữ in nghiêng là học sinh điền)
Khi học sinh trả lời đúng giáo viên cần động viên khen ngợi kịp thời để tạo sự
hưng phấn cho các em.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status