A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
I. LỜI MỞ ĐẦU
Loài người đã bước vào thế kỉ XXI - thế kỉ của tri thức. Tri thức là nguồn
lực quyết định sự phát triển và tăng trưởng kinh tế. Tri thức đóng một vai trò
rất quan trọng đối với sự tiến bộ cũng như tốc độ phát triển của nền văn minh
nhân loại.
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đang tác động mạnh mẽ vào sự phát
triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, “nếu muốn
việc dạy học theo kịp cuộc sống, chúng ta nhất thiết phải đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”.
Việc nâng cao chất lượng giáo dục ở nước ta trong bối cảnh hiện nay đòi
hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học nói
chung, dạy học lịch sử nói riêng là một cuộc cách mạng, là một vấn đề cấp
thiết cần phải tiến hành mạnh mẽ ở tất cả các trường phổ thông.
Ý thức được điều đó, trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương
pháp dạy học ở nước ta đã được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lí giáo
dục quan tâm.
Mặc dù vậy, một thực tế diễn ra mà chúng ta chưa thể khắc phục hết
được đó là các em học sinh không thích học sử. Các em cho rằng lịch sử là
môn phụ, không có tác dụng thiết thực trong cuộc sống; lịch sử là môn khô
khan, nhiều số liệu, nhiều sự kiện. Chính điều đó dẫn đến tình trạng học sinh
không nắm vững sự kiện cơ bản, nhớ sai, nhớ lầm kiến thức lịch sử là khá phổ
biến.
Ở đây, yếu tố chính quyết định đến hứng thú học tập lịch sử của các em là
phương pháp dạy học của giáo viên chưa đáp ứng đặc trưng bộ môn. Trong
thực tế, có rất nhiều giáo viên tâm huyết với nghề đã hết sức cố gắng trong việc
tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học, làm cho giờ học lịch sử trở nên sinh
1
động và có kết quả tốt. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều giáo viên dạy
theo kiểu truyền thống, giáo viên đọc sách giáo khoa cho học sinh chép, học
sinh học thuộc lòng, nói lại sách giáo khoa và bài giảng của thầy. Việc dạy học
-1945)” ở một số trường (Trường THPT Sầm Sơnvà trường THPH Nguyễn Thị
Lợi-Thanh Hoá) chúng tôi nhận thấy:
- Về giảng dạy của giáo viên: Phần lớn giáo viên đã nhận thức rõ vai trò và
vị trí của môn sử nói chung và bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”
nói riêng đối với việc giáo dục phẩm chất đạo đức, thế giới quan khoa học cho
các em. Vì vậy, họ rất quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm
phát triển tư duy độc lập ở học sinh. Trong quá trình lên lớp, nhiều giáo viên đã
dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, khai thác sâu kiến thức,
đặc biệt đã thường xuyên thiết kế và sử dụng bài tập nhận thức, đưa ra những
“câu hỏi có vấn đề”, sử dụng đồ dùng trực quan.
Bên cạnh đó một số giáo viên vẫn dạy theo kiểu truyền thống: thầy đọc
trò ghi, phần ghi bảng quá nhiều. Nhiều đoạn tư liệu bổ sung không được sử
dụng thường xuyên.
- Về học tập của học sinh :
Trong quá trình học tập, học sinh hăng say trả lời các câu hỏi mà giáo
viên đưa ra, tích cực ghi chép nội dung kiến thức của bài giảng. Tuy nhiên, các
em chỉ ghi những gì mà giáo viên ghi trên bảng chứ chưa biết cách vừa nghe
giảng vừa ghi bài.
2. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên
Mặc dù đã suy nghĩ, cải tiến, thậm chí nhiều giáo viên sử dụng cả
phương tiện dạy học hiện đại (băng video, đèn chiếu) song nhìn chung vẫn là
3
hoạt động của thầy trên lớp, giáo viên chủ yếu vẫn thuyết trình, phân tích, giải
thích, tình trạng học sinh nghe, ghi chép vẫn là phổ biến( chiếm tới 80% số tiết
học). Vì vậy, nhìn chung chất lượng dạy học lịch sử không cao.
Nội dung dạy học còn nặng nề, quá nhiều sự kiện, hiện tượng trong bài
dẫn đến tình trạng dạy học nhồi nhét. Học sinh học sử mà chỉ nhận thức ý
nghĩa giáo dục, lí luận của quá khứ mà không thấy ý nghĩa của thực tiễn. Từ
đó không có niềm say sưa, không có ý thức tự chiếm lĩnh kiến thức, dẫn đến
tình trạng học vẹt, học đối phó.
hẳn tính chất của cuộc chiến tranh thế giới?
3. Sử dụng đa dạng hệ thống phương pháp dạy học theo tinh thần đổi mới dạy
học lấy học sinh làm trung tâm.
Nhìn chung khi dạy bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”, giáo
viên cần phải biết kết hợp sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp trình bày
miệng, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, phương pháp sử dụng tài liệu,
phương pháp kiểm tra thực hành.
4. Đảm bảo tính vừa sức cho học sinh .
Tính vừa sức khi dạy bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)" gắn
chặt với tính cơ bản của nội dung bài học. Tính vừa sức giúp học sinh độc lập
và hứng thú tự mình lĩnh hội kiến thức. Vì vậy, cần chú ý không nêu lên các
vấn đề quá khó hoặc quá đơn giản đối với học sinh .
5. Đảm bảo yêu cầu về giáo dục tư tưởng, tình cảm và phát triển nhân
cách học sinh trong quá trình phát huy tính tích cực của học sinh .
5
Trong đời sống xã hội , lịch sử có tác dụng quan trọng không chỉ về trí tuệ
mà cả về tình cảm, tư tưởng. Những con người, những việc thực của quá khứ
có sức thuyết phục, có sức rung cảm mạnh mẽ với thế hệ trẻ.
Bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” ở trường THPT gồm nhiều
vấn đề như: Nguyên nhân của chiến tranh thế giới thứ hai, nhận xét về việc Mĩ
ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirosima ngày 6/8/1945 và Nagadaki ngày
8/9/1945, phân tích vai trò của Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai.
Những nội dung này rất có ưu thế trong việc giáo dục tình cảm cho các em.
6. Nắm vững cấu trúc mô hình tiết dạy theo hướng phát huy năng lực trí
tuệ của học sinh .
Một nội dung cơ bản của tiết dạy theo hướng phát huy năng lực trí tuệ của
học sinh là thiết kế bài học nhận thức để đưa học sinh vào tình huống có vấn
đề, bắt buộc học sinh phải vận dụng tất cả những kiến thức đã học để giải
quyết.
Khi thiết kế bài tập nhận thức và tổ chức để học sinh lĩnh hội cần tuân
cho học sinh: Lập bảng so sánh hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thức
hai. Với việc hoàn thành bài tập này, các em sẽ củng cố được những kiến thức
cơ bản đã học một cách cụ thể, không rập khuôn trong bài giảng của thầy cô
giáo và sách giáo khoa. Các em còn phải biết lựa chọn những sự kiện nổi bật
nhất, những kiến thức khái quát nhất để so sánh .
- Thiết kế bài tập theo hướng rèn luyện thao tác tư duy, tìm mối liên hệ
nhân quả.
Khi giảng mục “Chủ nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt” có thể ra bài tập: Tại
sao chủ nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt? Để giải quyết được bài tập này, học
7
sinh không những phải phân tích tổng hợp kiến thức mà còn phải thấy được
mối liên hệ giữa các sự kiện để tìm ra mối liên hệ nhân quả của chúng. Chủ
nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt do vai trò của Liên Xô. Chiến thắng Xtalingrat
của Hồng quân Liên Xô đã tạo ra bước ngoặt của chiến tranh. Hồng quân đã
chuyển sang tổng tiến công trên khắp các mặt trận.Việc Anh-Mĩ mở mặt trận
thứ hai làm cho phát xít Đức bị kẹp giữa hai gọng kìm cũng là một nguyên
nhân khiến chủ nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt. Qua đó, học sinh sẽ nhận thức
được “kẻ gieo gió phải gặt bão” - đó là quy luật.
- Xác định nội dung cần chú ý để xây dựng hệ thống bài tập nhận thức
lịch sử.
Khi dạy bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”, giáo viên có thể
xác định nội dung bài tập nhận thức theo hai bước sau:
• Bước 1: Giới thiệu về các mốc của chiến tranh .
Trước hết, để tìm hiểu về các mốc của chiến tranh thế giới thứ hai, giáo
viên gợi ý cho học sinh nhận thức được về các giai đoạn của chiến tranh. Sau
đó hướng dẫn các em lập niên biểu về các mốc của chiến tranh với ba cột:
Thời gian, sự kiện chủ yếu, ý nghĩa sự kiện. Trên cơ sở đó, giáo viên huy động
trí tuệ của học sinh bằng hệ thống các câu hỏi:
+ Tại sao Đức nhanh chóng tiến sâu được vào lãnh thổ Liên Xô và thu
được thắng lợi to lớn?
- Nguyên nhân của chiến
tranh thế giới thứ hai?
+ Quan hệ quốc tế trước chiến
tranh thế giới thứ hai như thế nào?
* Hậu quả của khủng hoảng kinh
tế (1929-1933)?
* Quan hệ giữa hai khối đế quốc
này với nhau và với Liên Xô như
thế nào? Vì sao có quan hệ đó?
* Nhận xét gì về quan hệ quốc tế
này?
+ Đức, Italia, Nhật bản có thái độ
và hành động như thế nào?
9
+ Trước nguy cơ chiến tranh, Liên
Xô có chủ trương gì? Thái độ của
Mĩ, Anh, Pháp ra sao?
2.Chiến tranh
bùng nổ, Đức
chiếm châu Âu
(1/9/1939-
22/6/1941)
- Tại sao từ 9/1939 đến
6/1941 các nước Tây Âu
bị Đức đánh bại nhanh
chóng?
+ Sau 9/1939, Anh, Pháp, Mĩ có
thái độ như thế nào đối với hành
động gây chiến của phát xít Đức?
+ Thái độ của Mĩ, Anh, Pháp với
đến thất bại
hoàn toàn của
phát xít Đức,
Italia, Nhật Bản
(từ cuối năm
1942 đến tháng
10
8/1945).
1. Chiến thắng
Xtalingrat và
bước ngoặt của
tiến trình chiến
tranh thế giới
- Vì sao nói chiến thắng
Xtalingrat là bước ngoặt
của cuộc chiến tranh thế
giới thứ hai?
+ Trận Xtalingrat diễn ra như thế
nào?
+ Hệ quả của chiến thắng
Xtalingrat?
2. Chủ nghĩa
phát xít Đức bị
tiêu diệt
- Việc Mĩ - Anh mở mặt
trận thứ hai có ý nghĩa
như thế nào?
- Ý nghĩa của việc phát xít
Đức bị tiêu diệt?
+ Mặt trận thứ hai là mặt trận ở
- Kết cục của chiến tranh
thế giới thứ hai? Ý nghĩa
của kết cục đó?
+ Cuộc chiến tranh kết thúc với
thắng lợi thuộc về ai, thất bại
thuộc về ai?
+ Thắng lợi của phe Đồng minh
trong chiến tranh có ý nghĩa gì?
3. Xây dựng hệ thống đồ dùng trực quan quy ước đơn giản.
Trong dạy học lịch sử, đồ dùng trực quan góp phần quan trọng tạo biểu
tượng và hình thành khái niệm cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện, là chỗ dựa
để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, là phương tiện hữu hiệu để hình
thành khái niệm lịch sử, giúp học sinh nắm vững quy luật phát triển xã hội, nhớ
kĩ, hiểu sâu kiến thức lịch sử. Nhóm đồ dùng trực quan quy ước gồm: Bản đồ,
biểu đồ, sơ đồ, niên biểu, tranh ảnh.
- Bản đồ lịch sử :
Bản đồ lịch sử nhằm xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và
không gian nhất định. Nó cũng giúp học sinh suy nghĩ, giải thích các hiện tượng
lịch sử và mối liên hệ nhân quả về tính quy luật và trình tự phát triển của quá
trình lịch sử, giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học.
Khi giảng bài, giáo viên có thể không trình bày tất cả nội dung trong sách
giáo khoa mà hướng dẫn học sinh nhận biết các sự kiện qua việc quan sát bản
đồ. Giáo viên có thể đặt ra cho học sinh những câu hỏi mà chỉ có thể trả lời được
tốt khi biết “đọc” bản đồ.
Ví dụ, khi giảng mục: “Chiến tranh bùng nổ, Đức đánh chiếm châu
Âu(1/9/1939 - 22/6/1941)”, sử dụng bản đồ “Phát xít Đức xâm lược các nước
châu Âu (1939 – 1941)”, giáo viên xác định cho học sinh thấy được vị trí của
các nước và nêu lên một số câu hỏi:
+ Tại sao Đức chọn Ba Lan làm nơi tấn công đầu tiên?
+ Tại sao các nước Tây Âu bị đánh bại nhanh chóng?
338
76
110
60
90
4.000
13
Trên cơ sở bảng so sánh, giáo viên đặt câu hỏi: Nhìn vào bảng so sánh,
em có nhận xét gì về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai?
- Niên biểu:
Niên biểu là phương tiện để liệt kê, hệ thống hoá các sự kiện, hiện tượng
lịch sử quan trọng theo trình tự thời gian, giúp học sinh nắm được các mốc thời
gian, hiểu được mối liên hệ giữa các sự kiện, hiểu bản chất sự kiện một cách
toàn diện, từ đó, có thể thấy đặc trưng của sự kiện hoặc rút ra kết luận khái
quát có tính chất nguyên lí.
Khi giảng xong tiết 1 của bài, để kiểm tra bài cũ, giáo viên gọi một học
sinh lên bảng điền vào bảng niên biểu sau:
Thời gian Nội dung sự kiện
Ngày 1/9/1939
Ngày 3/9/1939
Ngày 22/6/1940.
Ngày 22/6/1941
Ngày 6/12/1941
Ngày 7/12/1941
Ngày 1/1/1942
Sau khi học xong hai tiết của bài, để củng cố kiến thức cho các em, giáo
viên cũng có thể ra bài tập: Lập niên biểu thống kê về diễn biến của chiến tranh
thế giới thứ hai:
14
Thời gian Các mặt trận
năm 1914 đến 1918, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã diễn ra, gây nên
nhiều hậu quả to lớn. Hai mốt năm sau, nhân loại bước vào cuộc chiến tranh mới
15
với quy mô và sự tàn khốc lớn hơn nhiều so với cuộc chiến tranh trước đó. Vậy
nguyên nhân nào đã đẩy loài người đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai? Tại
sao trong thời gian đầu của chiến tranh, phát xít Đức lại thắng lợi nhanh chóng?
Vì sao khi Liên Xô tham chiến đã làm thay đổi hẳn tính chất của chiến tranh?
Đó là những vấn đề mà các em phải nắm vững qua bài học này”.
- Bước 2: Giáo viên tạo ra những hình ảnh vừa sinh động, vừa cụ thể về
những sự kiện diễn ra trong quá khứ.
Để hoàn thành bước 2 này, giáo viên cần phải kết hợp nhiều phương pháp
giảng dạy và các thao tác tư duy, giúp học sinh biết cách thu nhận, tìm ra kiến
thức mới.
Mục: Quan hệ quốc tế dẫn đến chiến tranh
Trước hết, giáo viên nêu yêu cầu nhận thức cho học sinh: Nguyên nhân của
chiến tranh thế giới thứ hai?
Để giúp học sinh giải quyết yêu cầu nhận thức trên, cần đưa ra các câu hỏi
dẫn dắt, gợi mở:
+ Quan hệ quốc tế trước chiến tranh thế giới thứ hai như thế nào?
+ Đức, Italia, Nhật có thái độ và hành động gì?
+ Trước nguy cơ chiến tranh, Liên Xô có chủ trương gì? Thái độ của Mĩ,
Anh, Pháp ra sao? (Giáo viên có thể kể câu chuyện: “Nghêu cò tranh ăn, ngư
ông hưởng lợi” để nói về âm mưu của Mĩ, Anh, Pháp).
Trong quá trình sử dụng các phương pháp trên, giáo viên lưu ý không áp đặt
ngay các mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc, đế quốc với Liên Xô mà gợi ý để
học sinh tự tìm ra các yếu tố tạo nên nguyên nhân của chiến tranh, trên cơ sở đó,
các em tự rút ra được kết luận.
Mục: Chiến tranh bùng nổ, Đức đánh chiếm châu Âuu(1/9/1939 -
22/6/1941).
16
- Bước 4: Kết luận vấn đề.
Đây là bước cuối cùng, là bước giáo viên bằng năng lực sư phạm của mình
để kết luận tri thức khoa học. Đồng thời hướng dẫn học sinh điều chỉnh lại tri
thức chủ quan trong quá trình thảo luận để lĩnh hội tri thức đúng đắn và khoa
học nhất.
Mục: Quan hệ quốc tế dẫn đến chiến tranh .
Để đối phó lại cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và đàn áp phong trào
cách mạng, giai cấp tư sản ở các nước đã chọn hai lối thoát: Thứ nhất, các nước
Đức, Italia, Nhật Bản không có hoặc có ít thuộc địa, thiếu vốn, nguyên liệu và
thị trường nên đi theo con đường chủ nghĩa phát xít để đối nội thì đàn áp phong
trào cách mạng, đối ngoại thì chuẩn bị tiến hành chiến tranh phân chia lại thế
giới. Thứ hai, các nước Mĩ, Anh, Pháp vì có thuộc địa, vốn và thị trường nên
chủ trương duy trì nguyên trạng hệ thống Vecxai - Oasinhtơn, đưa tra những
chính sách cải cách kinh tế để thoát khỏi khủng hoảng. Như vậy, chính sự ra đời
của hai khối đế quốc đối lập: các nước phát xít “ bất mãn” đòi chia lại thị trường
thế giới và các nước đế quốc dân chủ “thoả mãn” với hệ thống thuộc địa thế giới
là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Hai khối đế quốc này
chống lại Liên Xô - nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Đặc biệt, khối
đế quốc dân chủ muốn sử dụng chủ nghĩa phát xít làm lực lượng xung kích
chống Liên Xô. Điều đó lí giải tại sao họ theo đuổi chính sách dung dưỡng và
thoả hiệp với phát xít nhằm đẩy các nước này quay sang tấn công Liên Xô. Mĩ,
Anh, Pháp càng nhân nhượng thì bọn phát xít càng lấn tới và ngày 1/9/1939
chiến tranh đã bùng nổ.
Mục: Chiến tranh bùng nổ, Đức đánh chiếm châu Âuu (từ 1/9/1939 đến
22/6/1941).
18
Giới cầm quyền các nước phương Tây do mù quáng theo đuổi chính sách
chống Liên Xô và chống cộng sản trong nước, không lo phòng thủ đất nước nên
không chống đỡ nổi những đợt tấn công như vũ bão của quân đội phát xít Đức
và đã hèn nhát bỏ chạy hoặc đầu hàng nhục nhã (điển hình là Pháp, một trong
- Mục đích thực nghiệm: Thực nghiệm nhằm kiểm chứng các biện pháp sư
phạm nâng cao hiệu quả việc phát huy tính tích cực của học sinh khi dạy bài:
“ Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” ở trường THPT.
- Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 11C1, trường THPT Nguyễn Thị
Lợi –Thanh Hoá năm học 2010-2011. Số lượng học sinh ở lớp thực nghiệm và
lớp đối chứng bằng nhau, trình độ nhận thức như nhau và cùng một giáo viên
thực hiện.
- Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm: Trong quá trình thực
nghiệm, đề tài đã triệt để khai thác nội dung sách giáo khoa và tổng hợp tất cả
các biện pháp dạy học thích hợp như đã nêu ở trên để tiến hành.
Đề tài đã tiến hành một bản trưng cầu ý kiến với nội dung tập trung vào bài:
“ Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” để xem hoạt động tiếp thu kiến thức
như thế nào, học sinh có nắm vững được kiến thức cơ bản của bài học không.
Tác giả đề tài cũng đã tiến hành giảng dạy theo phương pháp tích cực ở lớp
11C2
(lớp thực nghiệm) và lấy lớp 11C1
(trường THPT Nguyễn Thị Lợi) làm
lớp đối chứng.
* Kết quả thực nghiệm sư phạm:
Sau khi tiến hành thực nghiệm, thu được kết quả như sau:
20
Lớp
Số học sinh
kiểm tra
Số lượng học sinh đạt điểm tại giá trị X và Y
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Thực nghiệm (X) 50 0 0 1 1 2 3 19 10 4 4
Đối chứng (Y) 50 2 0 3 3 5 6 12 8 4 1
- Bước 3: So sánh
So sánh t và tα ta thấy t > tα . Vậy đề tài có tính khả thi.
n
S
2
x + S
2
y
21
2. Kiến nghị, đề xuất
* Trong sự phát triển của khoa học ngày nay, giáo dục đang phải chịu hai
sức ép lớn của việc truyền thụ và tiếp thu kiến thức. Đó cũng là vấn đề số lượng
và chất lượng. Không thể cung cấp và học thuộc khối lượng kiến thức ngày một
chồng chất, càng không thể chấp nhận những kiến thức quá cũ, lạc hậu, chưa
phản ánh được những thành tựu khoa học hiện đại. Vì vậy, đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là một vấn đề bức thiết.
Tuy nhiên, một điều cần chú ý là sự đổi mới này phải được tiến hành một cách
thiết thực, toàn diện.
* Trong giờ lên lớp, cần nhanh chóng xoá bỏ lối dạy độc thoại của giáo
viên, tăng cường làm và sử dụng các đồ dùng dạy học, tiến hành các loại bài tập
thực hành trong quá trình cung cấp kiến thức mới.
* Đổi mới phương pháp cần đồng thời với việc cải tiến về mặt nội dung,
hình thức lên lớp, phương tiện dạy học. Nội dung dạy học còn nặng nề, quá
nhiều sự kiện, hiện tượng trong một bài học lịch sử sẽ dẫn đến tình trạng dạy
học nhồi nhét. Cơ sở vật chất đảm bảo cho học sinh phát huy năng lực học tập
lịch sử thiếu thốn thì giáo viên cũng không thể dạy theo hướng tích cực hoá
người học.
Tài liệu tham khảo
- Sách giáo khoa lớp 11 chuẩn và nâng cao.
- Phương pháp luận Sử học. Phan Ngọc Liên ( CB) XB Giáo dục1995.