I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hiện nay đất nước ta đang “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, thực hiện
cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, tích cực chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa” (NQ -TW Đảng Khóa
IX), cùng với sự kiện trên, hệ thống giáo dục nói chung , từng bậc học nói
riêng, ra sức phấn đấu thực hiện có hiệu quả việc đổi mới chương trình sách
giáo khoa , đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục
theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhằm mục đích nâng cao trình độ
hiểu biết của học sinh về mọi mặt, đáp ứng “mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển tồn diện” (Luật -GD). . Xác định được
nhiệm vụ trên, Bộ mơn giáo dục cơng dân, ở trường trung học cơ sở có
một vị trí, vai trò quan trọng trong việc góp phần trực tiếp đào tạo nhân
cách con người, có được phẩm chất đạo đức cần thiết, nhằm giáo dục thế
hệ trẻ phát triển tồn diện. Thế hệ trẻ khơng những có năng lực, có tinh thần
u nước, u chủ nghĩa xã hội mà còn có tinh thần tự chủ, tự tin, năng
động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức . Đây chính là mục tiêu lí tưởng của
Đảng cộng sản Việt Nam. Do đó trong giảng dạy làm thế nào tạo được sự
hứng thú học tập bộ mơn, huy động sự tham gia tích cực của HS, từ đó mới
nâng cao chất lượng bộ mơn GDCD bậc THCS.
Là giáo viên dạy GDCD, được dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ,
nhất là các lớp đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp bảo vệ mơi trường,
rèn luyện kĩ năng sống Bản thân có mong muốn đáp ứng mục tiêu của
Đảng và Nhà nước, góp phần đào tạo thế hệ trẻ có nhân cách hồn chỉnh
phù hợp với thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Từ đó tơi chọn
đề tài :
“Phát huy tính tích cực của học sinh thông qua phương pháp sắm vai
và tổ chức trò chơi ở môn GDCD lớp 8”. Đây là phương pháp có nhiều ưu
điểm, nếu ta thực hiện tốt phương pháp này thì hiệu quả đưa đến rất rõ rệt.
II/ Mục đích và phương pháp nghiên cứu:
1. Mục đích:
- Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
không khắc sâu kiến thức, khó nhớ. Học sinh không vận dụng những điều
đã học vào trong thực tế cuộc sống .
2. Thực trạng :
Trường THCS Lâm Kiết là trường vùng sâu, điều kiện dạy và học
còn nhiều thiếu thốn, học sinh chủ yếu là dân tộc Khơmer, một số gia đình
còn khó khăn nên các em ngoài việc học còn phải dành thời gian phụ gia
đình để kiếm tiền trang trải trong cuộc sống nên việc tiếp thu của các em
còn khá chậm, một số em không theo kịp bạn bè… Do đó đòi hỏi giáo viên
phải hướng dẫn học sinh cách học ở nhà sau khi kết thúc tiết dạy. Nếu giáo
viên không hướng dẫn cách học ở nhà không dặn dò kĩ sau mỗi tiết dạy, thì
chắc chắn trong tiết học sau học sinh rất thụ động, chỉ tiếp thu những gì mà
giáo viên truyền đạt, không tham gia tích cực trong các hoạt động, không
nêu lên được nhận xét, ý kiến của mình về những vấn đề, những tình huống
đã gặp trong thực tế, không đóng góp ý kiến xây dựng bài, dẫn đến tiết học
không hứng thú sinh động. Với việc học tập như vậy, kéo theo tình trạng,
học sinh không vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống như: Đã
học bài “Tôn trọng lẽ phải”; bài “ Giữ chữ tín”; bài “Tự lập”,… mà còn tình
trạng học sinh vô lễ với thầy cô, nói tục chửi thề, gây gỗ đánh nhau, lấy cắp
đồ dùng học tập, không biết giữ gìn vệ sinh cá nhân cũng như vệ sinh chung
…
Khi thực hiện phương pháp giảng dạy, theo hướng phát huy tính tích
cực, chủ động sáng tạo của học sinh, cứ sau mỗi tiết học giáo viên cần chú
ý khâu hướng dẫn về nhà, theo yêu cầu mỗi bài cần chuẩn bị vấn đề gì cho
tiết sau như:
- Học kĩ bài, hướng dẫn HS làm bài tập trong SGK.
- Sưu tầm những biểu hiện về những chuẩn mực đạo đức, pháp luật
có liên quan đến bài học tiếp theo.
- Xây dựng tiểu phẩm: Phân công sắm vai chia nhóm thảo luận…
Học sinh có chuẩn bị tốt những vấn đề nêu trên, thì tiết học mới có
thể huy động tốt, sự hoạt động tích cực của các em, các em sẽ chủ động
những năm gần đây, việc giảng dạy bộ môn GDCD tương đối nhẹ nhàng và
thoải mái, tiết dạy không còn nặng nề, gò bó…,
Như chúng ta biết môn GDCD có nhiều phương pháp, trong đó tổ
chức trò chơi và sắm vai cũng là một trong những phương pháp phát huy
tính tính cực của học sinh. Việc sắm vai và tổ chức trò chơi được xen kẻ
trong tiết dạy với thời gian ít phút. Với 2 phương pháp này có nhiều ưu
điểm giúp các em linh hoạt, mạnh dạn phát biểu trước đám đông, phát huy
được vốn kinh nghiệm sống của bản thân… để phân tích, lý giải, tình
huống, sự kiện thực tế, từ đó các em rút ra bài học và khắc sâu kiến thức
3.2. Biện pháp thực hiện:
3.2.1. Phương pháp đóng vai :
* Đặc điểm của phương pháp đóng vai: Đóng vai là phương pháp giáo viên
tổ chức cho học sinh thực hành làm thử một số cách ứng xử trong một tình
huống đạo đức hoặc pháp luật giả định.
* Tác dụng của phương pháp đóng vai: Khi sử dụng phương pháp đóng vai
trong bộ môn giáo dục công dân, một bộ môn có nhiều tình huống đạo đức,
pháp luật sẽ có những tác dụng sau:
- Phương pháp đóng vai gây được hứng thú và sự chú ý cho người
học.
- Rèn cho học sinh tính mạnh dạn, tự tin khi đứng trước đông người.
- Đóng vai giúp học sinh thực hành những kĩ năng trong môi trường
an toàn, được giám sát trước khi xảy ra các tình huống thực.
- Đóng vai khích lệ thay đổi thái độ, hành vi của người học theo
hướng định trước. Ta có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc
việc làm của các vai diễn.
- Phương pháp đóng vai buộc giáo viên và học sinh phải dành thời
gian để chuẩn bị bài trên lớp. điều đó sẽ nâng cao được hiệu quả giờ dạy,
học bộ môn.
* Các bước tiến hành: Phương pháp đóng vai có thể thực hiện dưới dạng
hoạt cảnh tình huống để giới thiệu bài hay để tìm hiểu mục đặt vấn đề, để
Một không khí im lặng bao trùm cả lớp, những em cười to nhật lúc này
cúi mặt ngượng ngùng. Một em đứng dậy Thưa cô chúng em thật có lỗi,
chúng em xin lỗi cô và bạn Hà
- Giáo viên đặt câu hỏi:
? Em hãy phân tích thái độ thiếu tôn trọng người khác của các bạn
trong lớp 8a?
? Khi nhận ra lỗi mình các bạn đã làm gì?
? Qua tình huống này chúng ta rút ra bài học gì cho bản thân?
? Vì sao chúng ta phải tôn trọng người khác? Ý nghĩa?
HS trả lời và nhận xét
GV nhận xét kết luận và ghi nội dung bài
Bài 12: Quyền và nghĩa vụ công dân trong gia đình
- GV đưa tình huống cho HS chuẩn bị ở nhà vào tiết trước.
- GV phân công học sinh sắm vai (HS suy nghĩ, chuẩn bị lời thoại trong
tình huống mà giáo viên đưa ra)
- HS thể hiện tình huống
TH: Ông nội Minh ở quê ra chơi, cả nhà vui vẽ đón tiếp ông. Bố mẹ mua
quần áo, thức ăn ngon và đưa ông đi thăm cảnh đẹp ở nhiều nơi. Riêng Minh
rất khó chịu vì luôn phải nhắc nhỡ ông: Bỏ dép ngoài cửa, không nói to,
không tắt điện, mở xem tivi chương trình mà mình không thích…
- Giáo viên đặt câu hỏi:
? Em có nhận xét gì về cách ứng xử của bố mẹ Minh đối với ông nôi?
? Thái độ của Minh đối với ông nội như thế nào? Đúng hay sai? Vì sao?
? Nếu em là Minh em sẽ làm gì?
? Quyền và nghĩa vụ của con cháu đối với ông bà là gì?
HS trả lời và nhận xét
GV nhận xét kết luận và ghi nội dung bài
Bài 13: Phòng, chống tệ nạn xã hội
- GV đưa tình huống cho HS chuẩn bị ở nhà vào tiết trước. GV phân
công học sinh sắm vai
- Rèn cho học sinh tính mạnh dạn, tự tin của các em khi trình bày vần
đề nào đó.
- Giáo viên biết cách điều chỉnh hành vi, suy nghĩ sai lệch, hướng các
em thắp sáng ước mơ.
- Giúp HS khắc sâu kiến thức và nhớ lại kiến thức đã học, đồng thời
các em tích cực hơn trong học tập.
- Tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh và giữa
học sinh với mọi người.
* Để phương pháp tổ chức trò chơi thực sự có hiệu quả ta cần
quy định luật chơi:
3.2.2.1 Đối với trò chơi tiếp sức:
+ Lớp học có thể chia làm 2 hoặc 4 nhóm (tùy theo đặc điểm của lớp),
mỗi nhóm cử 1 thành viên lên ghi biểu hiện sau đó chạy về chỗ để bạn khác
tiếp tục khi hết thời gian mà giáoviên quy định, nhóm nào tìm được nhiều
biểu hiện thì nhóm đó thắng.
+ GV quy định thời gian thảo luận tìm biểu hiện và thời gian chơi.
+ GV đặt câu hỏi.
+ Khi thời gian bắt đầu thì trò chơi được tiến hành.
Lưu ý: Phương pháp này chúng ta có thể tổ chức xen kẻ nội dung giữa
bài hoặc ở cuối bài ở mục củng cố.
* MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA. Khi dạy các bài:
Bài 3 : Tôn trọng người khác
- GV quy định luật chơi
- Giáo viên : Chia lớp làm 2 đội A và B (chia bảng làm 2 cột : cột
A ,cột B ).
- Quy định thời gian
- GV đặt câu hỏi: Tìm những biểu hiện tôn trọng người khác và thiếu
tôn trọng người khác ở gia đình, nhà trường và xã hội ?
- HS tiến hành thi nhau tìm biểu hiện
- Hết thời gian giáo viên tổng kết và tuyên dương đội giành chiến
+ HS được phỏng vấn đứng dậy trả lời những câu hỏi mà nhà báo
phỏng vấn.
+ GV nhận xét chung và dặn dò cho tiết sau.
Lưu ý: Phương pháp này chúng ta có thể tổ chức vào ở cuối bài ở mục
củng cố.
* MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA. Khi dạy các bài:
Bài:13: Phòng chống tệ nạn xã hội
MC: Hôm nay lớp chúng ta có nhà baó……… đến phỏng vấn chúng
ta về vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội. Đề nghị chúng ta hoan nghên
Nhà báo: Xin chào các bạn!
? Bạn hiểu như thế nào về tệ nạn xã hội?
? Tác hại của tệ nạn xã hội đối với bản thân người mắc tệ nạn là gì?
? Vậy còn đối với gia đình và cộng đồng có tác hại như thế nào?
? Bạn có biết hiện nay địa phương ta có bao nhiêu người nhiễm HIV/
AIDS?
?
?
Lần lược HS lên trả lời. GV nhận xét chung và dặn dò cho tiết sau:
- Về học kĩ bài phòng chống tệ nạn xã hội.
- Về làm các bài tập còn lại trong SGK.
- GV đưa tình huống: T là sinh viên năm thứ 2 của một trường đại học.
Mẹ bị liệt, bố lo kiếm sống để nuôi gia đình và hai đứa con ăn học.
Nghĩ rằng T là sinh viên nên T tự giác học tập. Thế nhưng, T lại bị
bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo vào con đường nghiện ngập rồi nhiễm HIV.
Căn bệnh thế kỉ đã cướp đi tuổi thanh xuân của T.
- GV phân công HS tự xây dựng kịch bản và đặt câu hỏi dựa trên tình
huống để tiết sau sắm vai
- HS tìm hiểu trước HIV/ AIDS là gì? Những nguyên nhân nào dẫn
đến HIV/ AIDS?
Bài 15: Phòng ngừa tai nạn vũ khí cháy nổ và các chất độc hại
- Về học kĩ bài quyền khiếu nại tố cáo của công dân.
- Về làm các bài tập còn lại trong SGK.
- GV đưa tình huống: Em M học giỏi, ngoan, được thầy cô và bạn bè
quý mến. H là bạn cùng tổ đã ghen ghét và viết những tờ giấy nói xấu
M, dán lên chổ ngồi M, lên tường, lên bàn GV….
- GV phân công HS xây dựng tự kịch bản và đặt câu hỏi dựa trên tình
huống để tiết sau sắm vai
- HS tìm hiểu trước thế nào là quyền tự do ngôn luận? Công dân sử
dụng quyền tự do ngôn luận như thế nào?
VI. KẾT QUẢ:
Việc nâng cao chất lượng bộ môn là một trong những vấn đề quan
trọng trong nhà trường hiện nay. Xác định được nhiệm vụ trên bản thân cố
gắng, nổ lực, phấn đấu trong giảng dạy, học hỏi tìm tòi, sáng tạo, qua việc
ứng dụng đổi mới phương pháp, tạo được không khí học tập sinh động,
thoải mái, nhẹ nhàng, HS thích học môn GDCD, nhất là tham các trò chơi,
biết tự đặt ra tình huống sắm vai, tự học ở nhà, tự giải quyết tình huống … .
Học sinh có ý thức tôn trọng kỉ luật, giữ gìn vệ sinh cá nhân. Biết làm nhiều
việc tốt như nhặt được của rơi trả lại cho người mất, biết đoàn kết tương trợ
giúp đỡ lẫn nhau. Nhìn chung so với trước HS đã biết vận dụng những điều
đã học vào thực tế cuộc sống rõ nét hơn…
Kết quả cuối học kì I ở học sinh lớp 8/1 như sau:
Tổng số Giỏi ( Tỉ lệ) Kh ( Tỉ lệ) TB( Tỉ lệ) Yếu( Tỉ
lệ)
35 8 ( 22,9 %) 16 (45,7 %) 11 ( 31,4%) 0 ( 00 %)
VII/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Việc vận dụng các phương pháp giáo dục đòi hỏi phải có kiên trì
nghiên cứu, làm thế nào để sử dụng có chất lượng, hiệu quả từng phương
pháp một, và qua một lần sử dụng một phương pháp nào đó, rút kết kinh
nghiệm, để đạt chất lượng hiệu quả lần sau cao hơn lần trước. Với sự linh
hoạt xử lí trong quá trình giảng dạy, áp dụng sáng tạo các phương pháp đặc
+ HS có thể sưu tầm câu chuyện có liên quan đến bài
+ Học sinh có thể tổ chức các nhóm, đôi học tập để trao đổi nhận xét,
đánh giá để phát huy tính tích cực của các em
Lâm kiết, ngày 02 tháng 3
năm 2014
Người thực hiện
Hứa Thị Diễm Thúy
Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA
HỌC NHÀ TRƯỜNG
………………………………………………………
………………………………………………………
………………………………………………………
………………………………………………………
………………………………………………………
………………………………………………………
………………………………………………………
………………………………………………………