I-Đặt vấn đề:
B NI DUNG CA TI
Phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy
học là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lợng dạy học. Để
hiểu sâu và nắm chắc kiến thức kỹ thuật học sinh phải
tiếp thu kiến thức chủ động, tích cực. Việc cải tiến phơng
pháp dạy học, đổi mới cách kiểm tra đánh giá kiến thức với
các bộ môn nói chung và môn KTCN là rất cần thiết nhằm
tăng hứng thú học tập với học sinh và giúp các em chủ động
nắm chắc kiến thức.
Những năm qua ngành giáo dục đã không ngừng cố
gắng để đổi mới phơng pháp dạy học, tránh lối học vẹt.
Nhiều tài liệu và các đợt học bồi dỡng thờng xuyên đã giúp
các thày cô giáo cải tiến cách dạy, hớng dẫn cho học sinh
cách học để học sinh
tự nắm bắt kiến thức, hiểu sâu
hiểu kỹ kiến thức. Cách dạy và cách học mới giúp các em
không chỉ đạt đợc bằng cấp mà quan trong hơn trang bị
những kiến thức cần thiết làm hành trang cho công tác sau
này.
ở nớc ta, để nâng cao chất lợng giáo dục phổ thông,
từ năm học 2001-2002, Bộ giáo dục đã chính thức đổi mới
giáo dục bắt đầu từ tiểu học, trung học cơ sở đén trung
học phổ thông. Đổi mới giáo dục là đổi mới về nội dung
kiến thức (SGK mới), phơng pháp dạy và học, cách kiểm tra
đánh giá xếp loại học lực.
Kiến thức kỹ thuật vừa có tính cụ thể (cấu tạo, kết
đàm thoại để chứng minh, giải thích một vấn đề, nội
dung kiến thức ...
Với bài dạy kỹ thuật khi kiểm tra kiến thức cũ, kiến thức
có liên quan đến bài dạy mới, giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu
cầu học sinh nhớ lại kiến thức cũ đã học không cần suy luận.
Câu hỏi loại này dễ thực hiện, dễ ra câu hỏi, song cần rõ
ràng.
1
Ví dụ ở lớp 11 để dạy bài hình chiếu trục đo phải
dùng kiến thức về hình chiếu song song. Dạy bài phơng
pháp hình chiếu vuông góc phải dùng kiến thức phép chiếu
vuông góc... Câu hỏi rất đơn giản: Thế nào là phép chiếu
song song và ứng dụng? Hoặc thế nào là phép chiếu vuông
góc và ứng dụng?...
Cũng có thể dùng các câu hỏi để đặt vấn đề vào bài
giảng mới dới dạng "nêu vấn đề" qua nội dung kiến thức cũ.
Trong khi giảng bài để làm sáng tỏ một vấn đề, một
nội dung kiến thức ta phải sử dụng đàm thoại kết hợp với
trực quan hoặc các ví dụ minh hoạ. Cách đàm thoại này thờng dùng một hệ thống câu hỏi nối tiếp nhau, thày đàm
thoại với một hoặc nhiều học sinh nhằm tiến tới vấn đề cần
bàn cần nắm vững.
Ví dụ để dạy bài Mỏy in xoay chiu 3 pha-Máy biến áp 3
pha (chơng trình lp 12 PTTH) để dạy cấu tạo MBA 3 pha
giáo viên dùng trực quan (MBA) vừa cho học sinh quan sát, gợi
ý để các em trả lời câu hỏi.
GV: Biến áp3 pha gồm mấy phần chính?
HS: Biến áp3 pha gồm hai phần chính (GV chỉ ra các
phần).
- Dùng lõi thép để dẫn từ, các vật liệu khác không dẫn
từ.
- Dùng nhiều lá thép mỏng ghép lại để tránh dòng fuco
(dòng điện xoáy trong lõi thép đặc sinh nhiệt gây nóng
và tổn hao).
- Dùng lõi thép thờng dẫn từ kém, lõi thép ĐKT dẫn từ
tốt hơn...
3
Phơng pháp đàm thoại có nhiều u điểm, song cũng
có nhiều hạn chế. Trong một bài dạy ta không nên lạm dụng
dễ gây nhàm chán mất thời gian.
Điều đáng lu ý ở đây là để đàm thoại cho tốt giáo
viên phải xác định rõ mục đích đàm thoại để xây dựng,
củng cố đơn vị kiến thức nào. Câu hỏi đặt ra phải đợc
chọn lọc sao cho dễ hiểu, dễ trả lời và phù hợp với trình độ
học sinh. Cao hơn câu hỏi phải mang tính "gợi mở", "dẫn
dắt" học sinh đi tìm kiến thức. Chính vì yêu cầu trên mà
giáo viên khi sử dụng đàm thoại phải tốn nhiều công sức để
chuẩn bị câu hỏi. Yếu tố quan trọng quyết định sự thành
công của phơng pháp này là nội dung và kỹ thuật đặt câu
hỏi.
Một số yêu cầu khi đặt ra câu hỏi:
- Xác định rõ mục đích, yêu cầu nội dung cần hỏi.
- Dự kiến câu trả lời của học sinh (tuỳ theo trình độ
học sinh) dự kiến câu hỏi, gợi ý bổ sung.
- Đặt câu hỏi phải rõ ràng, chính xác, dễ hiểu và phù
hợp với trình độ của học sinh.
nội dung kiến thức mới với nội dung kiến thức cũ, giữa kiến
thức lý thuyết với thực hành ... (nếu có). Từ đó giáo viên
đặt câu hỏi tạo ra tình huống có vấn đề cần giải quyết.
Có thể phân ra các loại tình huống sau trong bài dạy
KTCN:
a- Tình huống thể hiện mâu thuẫn kiến thức đã học
với yêu cầu nảy sinh trong việc tiếp thu kiến thức mới.
Trong nhiều bài dạy kỹ thuật ta thấy nảy sinh
mâu
thuẫn loại này. Xin lấy một số ví dụ.
Ví dụ 1: Trong chơng trình ĐCĐT lớp 11 để phân biệt
điểm khác nhau cơ bản về nguyên lý giữa động cơ xăng
5
và điêzen là: ở động cơ iêzen cuối hành trình nén khi
không khí bị nén với áp suát và nhiệt độ cao thì vòi phun
nhiên liệu vào buồng cháy gặp không khí có nhiệt độ và
áp suất cao thì tự bốc cháy. Còn ở động cơ xăng cuối hành
trình nén buzi phải bật tia lửa điện để đốt cháy hỗn hợp
(xăng + không khí).
Điều mâu thuẫn xảy ra ở đây là giữa kiến thức các
em đã học (xăng dễ cháy hơn dầu điêzen ) lại mâu thuẫn
với kiến thức mới (xăng dễ cháy nhng phải có tia lửa điện
để đốt cháy còn dầu khó cháy lại không cần tia lửa điện).
Mục đích đạt đợc giáo viên phải làm rõ đây là yếu tố
kỹ thuật;
Để biểu diễn vật thể có thể biểu diễn bằng hai hình
chiéu (đứng ,bằng) muốn lập lại vật thể trong không gian,
ta căn cứ vào hai hình chiếu nói trên l chớnh. Điều mâu
thuẫn nảy sinh ở chỗ :Ti sao lai phi cn n hỡnh chiu th ba?Giỏo
viờn gii thớch: một số vật thể có hình chiếu đứng và bằng
giống nhau (hình hộp chữ nhật, hình trụ, hình lăng trụ
đáy tam giác vuông cân ... có kích thớc tơng ứng bằng
nhau). Vậy từ hai hình chiếu đã cho có thể lập lại các vật
thể khác nhau trong không gian hay không ???
Điều này không đảm bảo đợc tính kỹ thuật. Từ đây
giáo viên dẫn dắt học sinh suy nghĩ và đa ra kết luận phải
dùng thêm một hình chiếu nữa là hình chiếu thứ ba.
Có thể lợi dụng tình huống có vấn đề trên để đặt
vấn đề chuyển tiếp sang nội dung sau: V hình chiếu thứ
3.
GV: Các em đã biết cách vẽ hình chiếu đứng, hình
chiếu bằng các em hãy vẽ hai hình chiếu của những vật thể
sau:
(GV vẽ lên bảng gọi 3 học sinh thực hiện)
7
(Dài b đáy cạnh a)
(Dài b, ĐK a)
(Dài
b
A
0
Đứt dây nguội
Hai chốt ổ đều có điện
Nếu mạch điện làm việc bình thờng một bên chốt của
ổ cắm nối với dây lửa khi thử bút điện sẽ đỏ còn bên chốt
kia nối với dây nguội, khi thử bút không đỏ. Do mắt nguội
nên điện thế (của dây nóng qua thiết bị điện) sẽ làm cả
hai bên ổ cắm đều đỏ do dòng điện bị ngăn cách không
về dây nguội đợc. Cần lu ý học sinh tuỳ theo vị trí đứt
dây nguội mà ta có những trờng hợp khác nhau. Loại tình
huống này dùng để giảng dạy phần điện dân dụng khi học
nghề.
c- Tình huống có vấn đề còn thể hiện ở mâu thuẫn
giữa phơng pháp sử dụng kiến thức đã hình thành với sự
cần thiết phải thay đổi phơng pháp này vào hoàn cảnh
mới.
Ví dụ: Khi giảng bài "cơ cấu phân phối khí - KTCN 11)
giáo viên phải làm rõ để truyền chuyển động từ trục khuỷu
đến trục cam phải dùng bánh răng ăn khớp nếu hai trục xa
nhau phải dùng xích cam không thể dùng phơng pháp khác
dợc để đảm bảo yêu cầu pha phối khí.
GV: Trong kỹ thuật dây đai (dây curoa) dùng để làm
gì?
HS: Để truyền chuyển động giữa hai trục xa nhau.
9
trắc nghiệm đã đợc áp dụng từ lâu trên thế giới không
10
những ở nhà trờng mà còn ở nhiều lĩnh vực khác. ở nhiều
nớc đã áp dụng phơng pháp trắc nghiệm khách quan vào
tuyển sinh cao đẳng, đại học, tuyển năng khiếu, học sinh
giỏi...
Phơng pháp kiểm tra trắc nghiệm đã đợc đa vào chơng trình, nội dung SGK mới ,đang khuyến khích áp dụng
v ó áp dụng.
Thấy rõ đợc lợi ích của phơng pháp kiểm tra trắc
nghiệm, trong bn năm qua tôi đã áp dụng phơng pháp kiểm
tra trắc nghiệm để kiểm tra học sinh lớp 11,12 và trao
đổi nhiều với đồng nghiệp về vấn đề này.
Qua kiểm tra tôi thấy phơng pháp trắc nghiệm khách
quan có nhiều u điểm, đặc biệt nó phất huy đợc tính
tích cực học tập, đánh giá nhanh, chính xác, tiết kiệm
nhiều thời gian kiểm tra và chấm bài. Khi kiểm tra, học sinh
hứng thú làm bài và tỏ ra rất phấn khởi. Kết quả kiểm tra
cho thấy các em hiểu bài, đạt kết quả khá cao.
1, Khái niệm:
Trắc nghiệm là kiểm tra, đánh giá sự hiểu biết,
nắm kiến thức của học sinh. Phơng pháp trắc nghiệm
khách quan là phơng pháp kiểm tra cho trớc đáp số, chỗ
trống của một câu...Yêu cầu học sinh chọn câu trả lời đúng
hoặc điền vào chỗ trống...khi làm bài.
2, Phân loại:
Phơng pháp kiểm tra trắc nghiệm có
của câu kiểm tra.
Ví dụ:
-ở động cơ xăng hoà khí đợc hoà trộn ở...................xilanh.
- ởđộng cơ điêzen hoà khí đợc tạo thành.ở................xi
lanh.
Học sinh cần điền ở dòng trên: bên ngoài
ở dòng dới: bên trong
c)Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi: Là loại hình
đặc biệt của trắc nghiệm nhiều lựa chọn gồm hai dãy
thông tin một dãy là các câu dẫn, một dãy là các phơng án
lựa chọn đợc dùng để trả lời. Học sinh phải ghép hai dãy trên
cho phù hợp với nội dung bài
12
Ví dụ: Hãy chọn mỗi nội dung ở cột 1 nối với một nội dung
ở cột 2 để thành câu đúng
Cột 1
Cột 2
1- Nét liền đậm dùng để
a vẽ đờng bao khuất, cạnh
khuất
2 - Nét liền mảnh dùng để
b vẽ đờng bao khuất, cạnh
khuất
3 - Nét đứt dùng để
c vẽ đờng bao khuất, cạnh
khuất
4 - Nét chấm gạch mảnh dùng
d vẽ đờng ghi kích thớc,đđể
Việc tổ chức giờ lên lớp, thảo luận trên lớp, ngoại khoá cũng
góp phần rất lớn để phát huy nội lực của các em, nâng cao
chất lợng học tập.
C- Kết quả đạt đợc
Bộ môn kỹ thuật đã đợc đa vào giảng dạy ở trờng phổ
thông từ nhiều năm qua, do vị trí bộ môn nên nhiều học sinh
không chuyên tâm học tập. Bài học kỹ thuật công nghiệp lại
nhiều kiến thức khó, trìu tợng nên các em ngại học. Nếu giáo
viên tăng cờng cho bài soạn, đặc biệt đổi mới phơng pháp,
trong đó tích cực phát huy tính tích cực của học sinh trong
mọi lĩnh vực học tập, các em sẽ yêu thích bộ môn, hng thỳ trong
gi hc, yêu kỹ thuật, làm tiền đề cho học kỹ thuật sau này khi
các em vào trờng kỹ thuật.
Trong bài dạy trên lớp, tôi luôn áp dụng những phơng pháp
phát huy đợc tính tích cực cao nhất của các em. Nhiều câu
hỏi, vấn đề đa ra các em đều thảo luân sôi nổi. Trong bài
dạy tôi thờng không đa ngay kiến thức bắt các em công nhận
mà dẫn dắt đa các em đến vi kiến thức. Những em có
nhiều thắc mắc và giải đáp đợc thắc mắc đều đợc thởng
điểm. Với bộ môn các em học tập say mê, có kết quả cao mà
không tốn nhiều thời gian. Giờ học kỹ thuật sôi nổi, nhẹ
nhàng, không gò bó mà thoải mái.
Thấy đợc nhiều u điểm của phơng pháp trắc
nghiệm tôi đã mạnh dạn áp dụng. Trong 4 năm qua tôi đã sử
14
Tuy nhiên đây là kết quả của học sinh chọn, nhng vẫn
chứng minh đổi mới phơng pháp, phát huy tính tích cực
của học sinh là cần thiết và cấp bách.
III- Kết luận:
Với gần 10 năm giảng dạy môn KTCN ở trờng phổ thông
tôi luôn có mong muốn dù môn KTCN cha phải là môn chính
trong nhà trờng, nhng môn KTCN phải đợc giảng dạy tốt góp
phần giáo dục toàn diện cho học sinh.
Qua kinh nghiệm các năm tôi thấy rằng nếu giáo viên
luôn cải tiến phơng pháp dạy bộ môn, phát huy tính tích
cực của học sinh thì học sinh học bộ môn cũng rất thích
thú và dạt kết quả cao.
Bài viết trên của tôi mong muốn góp một số ý kiến áp
dụng các phơng pháp dạy học, việc đổi mới cách kiểm tra
đánh giá kiến thức vào bộ môn KTCN nói riêng và các môn
học nói chung. Rất mong đợc đồng nghiệp góp ý và xây
16
dựng để bộ môn KTCN đợc giảng dạy tốt hơn trong nhà trờng phổ thông.
Hà nội, ngày 25 tháng
5 năm 2010.
Ngời viết
Nguyễn
thị thuỷ
................................................................................................
......................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
................................................................................................
18
................................................................................................
............................................................
19