PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TÀO TP PLEIKU TÊN ĐỀ TÀI
MỘT VÀI DẠNG BÀI TẬP GIÚP HỌC SINH VIẾT TỐT
ĐOẠN VĂN TRONG MÔN NGỮ VĂN 9
MÃ SKKN:2VA Họ và tên người viết :VÕ THỊ HƯƠNG
Chuyên môn: Ngữ văn
Đơn vò :Trường THCS Trần Phú-Pleiku-Gia Lai
với đôi chân vững chắc.Vì thế hàng ngày, hàng giờ bên trang giáo án ,GV luôn
suy nghó chọn phương pháp nào dễ hiểu ,dễ cảm nhất đểâ truyền thụ kiến thức
cho HS.Mà hiện nay chương trình thay sách Ngữ văn mới THCS chú trọng đến
bốn kó năng “Nghe, đọc, nói ,viết” cho HS.
Nhưng thực tế trong giảng dạy môn Ngữ văn các lớp, tôi nhận thấy HS còn
rất hạn chế khi viết đoạn văn, đặc biệt là HS lớp 8,9. Phần lớn các em không
có hứng thú làm dạng bài tập này mà đây lại là dạng bài tập rèn kó năng viết
cho HS. Chính vì thế tôi mạnh dạn chọn bài viết:“Một vài dạng bài tập giúp
HS viết tốt đoạn văn sau khi học bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản” - Ngữ
văn lớp 8. Đây không phải là minh hoạ cụ thể của tiết dạy mà bài viết này
tôi chỉ đưa một số dạng bài tập giúp học sinh có kó năng viết tốt đoạn văn,
phát hiện ra những lỗi thường mắc trong khi viết đoạn văn mà thôi. Rất mong
cùng các đồng nghiệp trao đổi để giúp HS học tốt hơn. II.THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TRƯỚC KHI NGHIÊN CỨU :
1.Thực trạng:
Nhiều năm gần đây, nhà trường đã chú trọng đến việc nâng cao trình độ viết
văn cho HS .Có cố gắng nhiều nhưng hiệu quả vẫn chưa theo như ý.Là GV trực
tiếp giảng dạy tôi nhận thấy tình trạng HS viết đoạn văn một cách qua loa,
không có kết quả hầu hết ở các khối lớp .Thực tế cho thấy trong những tiết học
các em chỉ thích làm bài tập ở dạng trắc nghiệm , điền khuyết , còn viết đoạn
văn ngắn sau những tiết học Văn, Tiếng Việt , ví dụ như: “Viết đoạn văn ngắn
nêu cảm nghó của em về nhân vật Lão Hạc trong văn bản Lão Hạc của nhà
văn Nam Cao” hay dạng “Viết đoạn văn ngắn nêu hoàn cảnh ra đời của tác
phẩm Vũ trung tuỳ bút trong đó có sử dụng một câu ghép.”,và dạng: “Viết một
đoạn văn khoảng 10-12 câu, theo cách lập luận diễn dòch, phân tích lòng yêu
nghề, say mê công việc, có tinh thần trách nhiệm cao của anh thanh niên trong
tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thanh Long” … thì hầu như các em không
có hứng thú khi làm bài. Nhiều em chỉ đơn thuần là kể lại tên tác giả tác phẩm
9
3
40 2 5 6 15 20 50 12 30 0 0 %
9
4
39 3 7.7 6 15.4
20 51,3
10 25.6
0 0 %
Từ thực tế đó trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm tòi nghiên cứu và đưa ra
một số dạng bài tập về viết đoạn văn để giúp HS viết tốt dạng bài tập này trong
những tiết học Văn - Tiếng Việt.
III.NGUYÊN NHÂN:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến HS làm không tốt dạng bài tập viết đoạn
văn, nhưng nguyên nhân chủ yếu là:
- HS chưa nắm được rõ ràng về khái niệm đoạn văn,về câu chủ đề.
- Chưa nắm được các cách trình bày nội dung đoạn văn.
- HS chưa biết cách viết đoạn văn (Phải đảm bảo đủ ba phần :mở đoạn, thân
đoạn kết đoạn)
- Chưa đònh hình cụ thể diện mạo một đoạn văn.
- Chưa phân biệt đoạn văn với bài văn.
- Vốn từ nghèo vì hay lệ thuộc vào đoạn văn mẫu trong sách tham khảo.
- Chưa chú ý quan sát sự vật xung quanh,trí tưởng tượng kém ,chưa có thói
quen tư duy.
B. NỘI DUNG THỰC HIỆN
sau khi cho bài tập đến khi sửa bài chỉ có HS giỏi hoặc HS có năng khiếu viết
văn mới làm xong (nhiều khi chưa xong) còn HS khá , trung bình thì chưa xong.
III.Những dạng bài tập giúp cho HS rèn kó năng viết đoạn văn:
Để làm tốt dạng bài tập này, trước hết GV phải cho HS hiểu rõ “Đoạn văn là
gì ? Có mấy cách trình bày nội dung đoạn văn ? Đó là những cách nào? Câu
chủ đề là gì ?
* Khái niệm đoạn văn:
Đoạn văn là đơn vò cơ sở của văn bản, trực tiếp đứng trên câu, diễn đạt một
nội dung nhất đònh (Nội dung locgic hay nội dung biểu cảm), được mở đầu bằng
chữ lùi đầu dòng ,viêùt hoa và kết thúc bằng dấu chấm ngắt đoạn.
Có các cách trình bày nội dung đoạn văn:
Những đoạn văn có kết cấu phổ biến như: Đoạn diễn dòch, đoạn quy nạp,
đoạn tổng phân hợp, đoạn móc xích, đoạn song hành. Nhưng bên cạnh đó còn
có đoạn văn mang kết cấu so sánh, nhân quả, vấn đáp, đòn bẩy, nêu giả thiết,
hỗn hợp
*Cụ thể như sau:
a.Đoạn diễn dòch (Có câu chủ đề)
Đoạn diễn dòch là đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý nghóa khái quát đứng
ở đầu đoạn , các câu còn lại triển khai ý tưởng của chủ đề, mang ý nghóa minh
hoạ, cụ thể. Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích ,
chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét , đánh giá và bộc
lộ cảm nhận của người viết .
Đoạn văn mẫu :
Nhật kí trong tù canh cánh một tấm lòng nhớ nước(1).Chân bước đi trên đất
Bắc mà lòng vẫn phương về Nam , nhớ đồng bào trong cảnh lầm than, có lẽ nhớ
cả tiếng khóc của bao nhiêu em bé Việt Nam qua tiếng khóc của một em bé
Trung Quốc, nhớ người đồng chí đưa tiễn bên sông (2). Nhớ lúc tỉnh và cả trong
lúc mơ (3).
Mô hình đoạn văn:
hợp lại, khẳng đònh thêm giá trò của vấn đề.
Đoạn văn mẫu:
Lòng biết ơn là cơ sở của đạo làm người (1). Hiện nay trên khắp đất nước ta
đang dấy lên phong trào đền ơn đáp nghóa đối với thương binh, liệt só , những bà
mẹViệt Nam anh hùng, những gia đình có công với cách mạng (2). Đảng và
Nhà nước cùng toàn dân thực sự quan tâm, chăm sóc các đối tượng chính
sách(3).Thương binh được học nghề, được cấp vốn làm ăn, các gia đình có
người liệt só , các bà mẹ Việt Nam anh hùng được tặng nhà tình nghóa, được các
cơ quan đoàn thể phụng dưỡng (4). Rồi những cuộc hành quân về chiến trường
xưa tìm hài cốt của đồng đội , những nghóa trang liệt só với đài tổ quốc ghi công
sừng sững uy nghiêm luôn nhắc nhở mọi người , mọi thế hệ hãy nhớ ơn các liệt
só đã hi sinh anh dũng vì độc lập tự do (5. Không thể nào kể hết những việc
làm thể hiện đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta(6). Đạo lí này là nền
tảng vững vàng để xây dựng một xã hội thực sự tốt đẹp (7).
Mô hình đoạn văn: Câu đầu (Tổng )
Năm câu tiếp (Phân)
Câu cuối (Hợp)
Đây là đoạn văn tổng phân hợp .
d.Đoạn so sánh:
d.1.Đoạn so sánh tương đồng:
Đoạn văn có sự so sánh tương tự nhau dựa trên một ý tưởng: so sánh với một
tác giả, một đoạn thơ, một đoạn văn có nội dung tương tự nội dung đang nói
đến.
Đoạn văn mẫu:
Ngày trước tổ tiên ta có câu:“Có công mài sắt có ngày nên kim”(1).Cụ
Nguyễn Bá Học, một Nho só đầu thế kỉ XX cũng viết : “Đường đi không khó vì
ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”(2). Sau này, vào đầu
những năm 40 giữa bóng tối ngục tù của Tưởng Giới Thạch, nhà thơ Hồ Chí
Minh cũng đề cập tới tính kiên nhẫn ,chấp nhận gian lao qua bài thơ “Nghe
Núi Thái Sơn là cao duy nhất, đồ sộ nhất, vững trãi nhất ở Trung Quốc,cũng
như tình cảm cha mạnh mẽ, vững chắc (1).Chính người đã dạy dỗ hướng cho
chúng ta về lẽ phải và truyền thêm cho ta sức mạnh để bay vào cuộc đời (2).Và
thông qua hình tượng nước trong nguồn, dòng nước tinh khiết nhất, mát lành
nhất, dạt dào mãi chẳng bao giờ cạn, ta cảm nhận rõ được tình yêu của mẹ mới
thật ngọt ngào, vô tận và trong sáng biết bao (3).Từ những hình ảnh cụ thể nhất
mà ta có thể thấy được ý nghóa trừu tượng về công cha nghóa mẹ(4). Công ơn
đó, ân nghóa đó to lớn sâu nặng ; chính vì vậy mà chỉ có những hình tượng to
lớn bất diệt của thiên nhiên kì vó mới sánh bằng (5). Vì thế mà người xưa mới
khuyên nhủ chúng ta phải làm tròn chữ hiếu, để bù đắp phần nào nỗi cực nhọc,
cay đắng mà cha mẹ đã trải qua vì ta (6).
Mô hình đoạn văn:
Ý tưởng của đoạn văn là giải thích ý nghóa câu ca dao,từ câu 1->5 đã giải
thích nghóa đen, nghóa bóng của hình ảnh trong câu ca dao, nêu nguyên nhân.
Câu 6 là kết luận về lời khuyên, nêu kết quả.
đ.2.Chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân sau
Đoạn văn có kết cấu hai phần .Phần đầu nêu kết quả, phần sau nêu nguyên
nhân.
Đoạn văn mẫu: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về lòng hiếu nghóa của Kiều
trong lúc lưu lạc.
Chính trong hoàn cảnh lưu lạc nơi đất khách quê người của Kiều ta mới thấy
hết được tấm lòng chí hiếu của người con gái ấy (1).Nàng biết sẽ còn bao cơn
“cát dập sóng vùi” nhưng nàng chỉ lo canh cánh cho cha mẹ thiếu người đỡ đần
phụng sự vì hai em còn “sân hoè đôi chút thơ ngây”(2).Bốn câu mà dùng đến
bốn điển tích “người tựa cửa”, “quạt nồng ấp lạnh”, “sân lai”, “gốc tử”(3).
Nguyễn Du đã làm cho nỗi nhớ của Kiều đậm phần trang trọng , thiết tha và có
chiều sâu nhưng cũng không kém phần trung thực (4).
Mô hình đoạn văn :
Câu 1 nêu kết quả, ba câu còn lại nêu nguyên nhân.
e.Đoạn vấn đáp:
Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa (2).
Tác giả Trung Quốc chỉ nói “Lê chi sổ điểm hoa” (trên cành lê chỉ mấy bông
hoa ) (3). Số hoa lê ít ỏi như bò chìm đi trong sắc cỏ ngút ngàn (4). Những bông
lê yếu ớt bên lề đường như không thể đối chọi với cả một không gian trời đất
bao la rộng lớn (5). Nhưng những bông hoa trong thơ Nguyễn Du là hoàn toàn
khác : “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa “(6). Nếu như bức tranh xuân ấy
lấy phông nền là màu xanh của cỏ thì những bông hoa lê là một nét chấm phá
vô cùng sinh động và tài tình (7). Sắc trắng của bông hoa lê - cái sắc trắng
chưa từng xuất hiện trong câu thơ cổ Trung Hoa - nổi bật trên nền xanh tạo ra
sự thanh khiết trong sáng vô cùng (8). Tuy chỉ là một vài chấm nhỏ trên bức
tranh nhưng lại là điểm nhấn toả sáng và nổi bật trên bức tranh toàn cảnh (9).
Những bông hoa “trắng điểm“ thể hiện sự tài tình gợi tả gợi cảm trong lời thơ
(10). Cành hoa lê như một cô thiếu nữ đang e ấp dòu dàng (11). Câu thơ cũng
thê ûhiện bản lónh hội hoạ của Nguyễn Du (12). Hai sắc màu xanh và trắng hoà
quyện với nhau trong bức tranh xuân vừa đẹp vừa dào dạt sức sống đầy sắc
xuân , xuân hương và xuân tình (13)
Mô hình đoạn văn :
Câu 3,4,5 phân tích câu thơ cổ Trung Quốc làm điểm tựa để năm câu
6,7,8,9,10 làm rõ chủ đề đoạn.
k.Nêu giả thuyết :
Đoạn văn nêu giả thuyết là đoạn văn có kết cấu :mở đoạn nêu giả thiết để từ
đó đến chủ đề đoạn.
Đoạn văn mẫu: Giáo sư Phan Trọng Lân không sai khi nói : “Cái bóng trong
Chuyện người con gái Nam Xương đã quyết đònh số phận con người”, đây phải
chăng là nét vô lí , li kì vẫn có trong truyện cổ tích truyền kì (1). Không chỉ
dừng lại ở đó,“cái bóng” còn là tượng trưng cho oan trái khổ đau, cho hạnh
phúc biết bao người phụ nữ dưới xã hội đương thời (2). Nỗi oan của họ rồi
cũng chỉ là những cái bóng mờ ảo, không bao giờ được sáng tỏ(3). Hủ tục
nội dung nà bao chùm lên nội dung nào. Loại đoạn văn này không có phần mở
và kết thúc. Các câu trong đoạn văn đều thuộc phần triển khai, mỗi câu nêu
một khía cạnh của chủ đề đoạn văn đang ở dạng hàm ẩn.
Đoạn văn mẫu: Trong tập Ngục trung nhật kí, có những bài phát hoạ sơ sài mà
chân thực và đậm đà, càng tìm hiểu càng thú vò như một bức tranh cổ điển .Có
những bài cảnh lồng lộng sinh động như những tấm thảm thêu nền gấm chỉ
vàng .Cũng có bài làm cho người đọc nghó tới những bức tranh sơn mài thâm
trầm , rộn ròp.
Câu chủ đề là:
a.Về nội dung : giữ nhiệm vụ chủ hướng, là ý cơ bản của cả đoạn.
b.Về hình thức: thường đủ chủ ngữ và vò ngữ.
c.Về vò trí : thường đứng đầu đoạn văn.
d.Về dung lượng : yêu cầu ngắn gọn, có độ dài không lớn so với các câu
trong đoạn văn.
1.BÀI TẬP NHẬN DIỆN VỀ CÂU CHỦ ĐỀ:
(?)Ba đoạn văn sau có câu chủ đề đứng ở những vò trí khác nhau .Em cho biết
đâu là câu chủ đề của đoạn?
a.Tất cả những đau thương ấy là vì đâu? Thuý Kiều và Nguyễn Du là vì số
mệnh. Nhưng số mệnh ở đây lại hiện ra dưới hình thức những con người. Bọn
người ấy khá đông . Đày đoạ Kiều không phải chỉ có một người như trường hợp
Thạch Sanh .Đày đoạ Kiều là cả một xã hội.
b.Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một cuộc đời đấu tranh vô cùng gay go
và gian khổ. Đấu tranh để không bò ngã gục trước số phận khắc nghiệt và tàn
bạo. Đấu tranh để chống lại lưới bẫy của kẻ thù, những thành kiến lỗi thời của
xã hội. Đấu tranh với bên ngoài, đấu tranh với cả bản thân trước những ảnh
hưởng tiêu cực của Nho giáo để gia nhập vào hàng ngũ của nhân dân cách
mạng và trở thành nghệ só của nhân dân.Nguyễn Đình Chiểu đã đấu tranh
không chỉ để giữ mình mà để khẳng đònh vò trí chiến đấu của bản thân mình
trong cuộc đời với tư cách người cần dân , người trí thức, người nghệ só.
đồi mồi ở những nơi khác, đồi mồi Hà Tiên giá trò nhất ở cái mai. Ở đây, có
những con nặng tới tới bảy ,tám chục kilôgam vảy.Vảy đồi mồi được dùng vào
nhiều việc, nhất là những đồ mó nghệ: từ cán dao, giọng kính, hộp thuốc lá cho
đến bình cắm hoa, trâm lược, quạt, giá soi gương… Tất cả đều là những mặt
hàng xuất khẩu có giá trò. Đồi mồi đã làm cho Hà Tiên trở thành một trong
những mảnh đất quý của Tổ quốc ta. (Đoạn tổng phân hợp)
3.LUYỆN DỰNG ĐOẠN VĂN KHÔNG CÓ CÂU CHỦ ĐỀ:
a.)Đoạn song hành:
(?)Đoạn văn nào trong hai đoạn văn sau là đoạn song hành?Dựa vào đâu em
biết.
a.1)Ở đất Cà Mau nhiều nhất là đước.Đước mọc san sát đến tận mũi đất cuối
cùng , thẳng tuột như hằng hà sa số cây dù xanh cắm trên bãi. Nhà cửa dựng
dọc theo những bờ kênh, dưới những hàng đước xanh rì. Sông rạch quanh co
trong đước. Đước kín bờ sông, kín đồng, kín bãi. Nhà nọ sang nhà kia phải đi
trên cầu bằng thân cây đước.
a.2)Chú thỏ có cái mũi đo đỏ lúc nào cũng ươn ướt luôn hít hít thở thở. Bộ ria
mọc hai bên mép cũng trắng như cước. Đôi mắt đỏ hồng tròn xoe như hai hòn
bi, trông rất hiền . Hai tai thỏ to như hai cái lá doi lúc nào cũng vểnh lên.
->Đoạn ( a.1 ) có câu chủ đề đứng ở đầu đoạn. Đây là đoạn diễn dòch giải
thích .
Đoạn ( a.2 ) không có câu chủ đề , các ý đẳng lập với nhau ,không ý nào
bao trùm ý nào .Đây là đoạn song hành.
( ? )Hãy giải thích vì sao lại gọi đoạn văn dưới đây là đoạn song hành .
a.3)Ca dao là bầu sửa tinh thần nuôi dưỡng trẻ thơ.Ca dao là hình thức trò
chuyện tâm tình của những chàng trai, cô gái (hát ví ,hát xoạn, hát ghẹo).Ca
dao là tiếng nói biết ơn, tự hào về công đức tổ tiên và anh linh của những người
đã khuất (bài ca lễ hội). Ca dao là phương tiện bộc lộ nỗi tức giận hoặc lòng
hân hoan của những người sản xuất (hò ,lí).
->Đoạn văn có kết cấu song hành vì các câu ngang bậc nhau về ý.
ở câu trước trong câu sau.Trong đoạn văn này các từ ngữ được lặp lại tạo nên
sự móc nối ý giữa các câu là : tăng gia sản xuất - kỉ thuật - văn hoá.
b.2)Bây giờ muốn mang lại lợi ích cho đồng bào các dân tộc thì phải nâng cao
đời sống của đồng bào. Muốn nâng cao đời sống của đồng bào, không phải cứ
nói mà ra cơm gạo. Cơm gạo không phải từ trên trời rơi xuống. Muốn có cơm
gạo thì mỗi người phải làm cái gì ? Muốn ấm no thì phải làm cái gì ? Phải làm
thế nào ? Phải tăng gia sản xuất. (Hồ Chí Minh)
->Đoạn văn trên là đoạn văn có kết cấu móc xích được xây dựng theo mối quan
hệ điều kiện - kết quả nối tiếp nhau giữa các câu .
b.3)Đọc thơ Nguyễn Trãi, nhiều người đọc khó mà hiểu có đúng là thơ Nguyễn
Trãi . Đúng là thơ Nguyễn Trãi rồi thì cũng không dễ mà hiểu đúng. Lại có khi
chữ hiểu đúng , câu hiểu đúng mà toàn bài không hiểu. Không hiểu vì không
biết chắc bài thơ đã được viết ra lúc nào trong cuộc đời nhiều nổi chìm của
Nguyễn Trãi. Cùng một bài thơ nếu viết năm 1420 thì một ý nghóa, nếu viết
năm 1430 thì ý nghóa lại khác hẳn. (Theo Hoài Thanh)
-> Đoạn văn trên là đoạn văn có kết cấu móc xích được xây dựng theo mối
quan suy luận.
4.BÀI TẬP LUYỆN CHUYỂN ĐỔI ĐOẠN:
a.)Chuyển đổi nội dung:
(?)Từ đoạn văn không có câu chủ đề dưới đây, em hãy viết thành đoạn văn có
câu chủ đề dứng ở đầu đoạn.
a.1)Thương chồng ốm đau mà bò dánh đạp, cùm kẹp, chò Dậu lấy thân mình che
chở cho chồng trước đòn roi tàn nhẫn của bọn lính tráng. Phải bán con chò như
đứt từng khúc ruột nhưng cũng chẳng qua là vì một suất sưu của chồng. Đến khi
bò giải lên huyện, ngồi trong quán cơm mà nhòn đói , chò vẫn nghó đến chồng ,
đến cái Tỉu , thằng Dần, cái Tí.
Có thể thêm một số câu sau vào đầu đoạn.
lứa đôi hạnh phúc.Cười để trẻ mãi không già.Cười để mọi người xích lại gần
nhau thân ái.Chúng ta đã cười ,chúng ta đang cười và chúng ta sẽ còn cười
mãi mãi cùng với người bạn đường vui tính : kho tàng chuyện tiếu lâm Việt
Nam.
b)Chuyển đổi kết cấu:
(?)Dựa vào nội dung đoạn văn sau, em hãy viết thành những đoạn văn khác có
nội dung tương tự theo các kiểu kết cấu .
“Những ngày thơ ấu”(Nguyên Hồng)chủ yếu là những kỉ niệm đau buồn, tủi
cực của một đứa trẻ, sinh ra trong một gia đình bất hoà, phá sản và tr lạc sớm
phải sống vơ bơ, lêu lỏng .Gia đình ấy khi còn sung túc đã không có hạnh phúc.
Đứa con ra đời bởi một tình yêu gắng gượng . Người bố phẫn chí , lặng lẽ trả
thù số phận bằng những khói thuốc phiện. Người mẹ trẻ trung khao khát hạnh
phúc chân thật , nhưng cũng đành chòu , cúi đầu trước lễ giáo phong kiến , sống
âm thầm như một cái bóng dưới chân tường. Gia đình sa sút rồi sụp đổ hẳn. Bố
chết .Mẹ ngược xuôi tần tảo .Đứa trẻ mồ côi cha, xa tình mẹ, phải sống bơ vơ
đói rách , lêu lỏng trong sự lườn nguýt đay nghiến của họ hàng và thái độ dửng
dưng của xã hội.
Đổi thành đoạn qui nạp:
Đứa trẻ ra đời bởi một tình yêu gắng gượng trong một gia đình không có hạnh
phúc. Người bố phẫn chí, lặng lẽ trả thù số phận bằng những khói thuốc phiện.
Người mẹ trẻ trung khao khát hạnh phúc chân thật , nhưng cũng đành chòu ,cúi
đầu trước lễ giáo phong kiến , sống âm thầm như một cái bóng dưới chân tường.
Gia đình sa sút rồi sụp đổ hẳn. Bố chết . Mẹ ngược xuôi tần tảo. Đứa trẻ mồ côi
cha, xa tình mẹ, phải sống bơ vơ đói rách, lêu lỏng trong sự lườn nguýt đay
nghiến của họ hàng và thái độ dửng dưng của xã hội. Có thể nói “Những ngày
thơ ấu”(Nguyên Hồng) chủ yếu là những kỉ niệm đau buồn, tủi cực của một đứa
trẻ, sinh ra trong một gia đình bất hoà, phá sản và tr lạc, sớm phải sống vơ
bơ, lêu lỏng .
Đổi thành đoạn tổng phân hợp:
“Những ngày thơ ấu”(Nguyên Hồng) chủ yếu là những kỉ niệm đau buồn, tủi
liên kết đoạn đoạn
Thiếu Loãng Lạc Lặp Mâu Đứt Mơ Liên kết Liên kết Qúa Chưa
ýù ý ý ý thuẫn mạch hồ nội tại hướng khuôn đủ
ý ý lỏng lẻo ngoại yếu khổ khổ
Sau đây là nội dung kiến thức học sinh cần biết khi viết đoạn văn:
Cụ thể các lỗi như sau:
a.Thiếu ý: đó là lỗi trong các đoạn văn có câu chủ đề nêu nhiều ý nhưng khi
triển khai đoạn , các ý đó không được trình bày đầy đủ.
b.Loãng ý: đó là những đoạn văn chứa quá nhiều câu mở rộng bậc hai hoặc bậc
ba.Sự lấn át về mặt số lượng của những loại câu này làm cho nội dung đoạn
văn bò dàn trải , phân tán gây loãng ý.
c.Lạc ý: đây là đoạn văn có câu chủ đề nhưng những câu khác đứng ở phần sau
lại hoàn toàn không phục vụ cho việc làm sáng tỏ câu chủ đề đó. Lạc ý thường
đi liền với loãng ý .Khi đoạn văn lạc ý có thể xử lí theo hai cách như sau:
- Hoặc là thay câu chủ đề này bằng câu chủ đề khác
- Viết lại các câu ở phần sau cho phù hợp với câu chủ đề
Đối với đoạn rối loạn ý cần phải viết lại thành một đoạn văn khác .
d.Lặp ý: Đó là hiện tượng một đoạn văn có chứa những câu trùng ý nhau ,lặp
lại nội dung đã có .Các câu lặp lại nhau càng nhiều thì nội dung đoạn văn càng
nghèo nàn hơn. Bởi vậy ,ở những đoạn văn này cần mạnh dạn loại bỏ câu lặp,
ý lặp.
đ.Mâu thuẫn ý: Các ý mâu thuẫn nhau trong đoạn văn là các ý tương phản nhau
không ăn khớp nhau , phủ nhận lẫn nhau, hoặc các ý không phù hợp với thực tế
đời sống. Để tránh mâu thuẫn cần đảm bảo xây dựng các ý cùng theo một chủ
hướng hoặc cần tôn trọng đúng hiện thực của đời sống.
mắc luôn lỗi về hình thức và ngược lại. Bởi vậy , khi tiến hành luyện tập
viết đoạn văn cần vừa chữa lỗi nội dung vừa chữa lỗi hình thức, tránh trình
trạng chỉ chú ý chữa lỗi này mà không chữa lỗi khác .
- GV cần rèn cho HS kó năng phát hiện lỗi trong khi viết đoạn văn.
Biết cách chữa lỗi đoạn văn trong bài viết của mình cũng như của người khác.
Tránh việc mắc lỗi thông thường về đoạn văn.
1.ĐOẠN VĂN MẮC LỖI VỀ CHỦ ĐỀ:
Trong các đoạn văn sau đoạn văn nào mắc lỗi về chủ đề,nêu rõ mắc lỗi gì?
a.)Không những chăm học ,Hải còn chăm làm ở nhà cũng như ở trường. Buổi
sáng đi họcvề, Hải giúp đỡ bố mẹ mọi việc gia đình .Bạn thái rau, băm bèo cho
lợn. Sau đó Hải dọn dẹp nhà cửa cho ngăn nắp, gọn gàng. Buổi chiều, học bài
và làm bài xong, Hải lại lo bữa com chiều .Bố , mẹ đi làm đồng về thì cơm
canh đã sẵn sàng.
->Đoạn văn mắc lỗi thiếu hụt chủ đề(Thiếu hụt hành động) vì câu chủ đề nêu
mấy ý như : chăm học - chăm làm - ở nhà - ở trường. Nhưng đoạn văn triển khai
được ý chăm làm ở nhà chưa triển khai đựơc ý chăm làm ở trường.
Vậy phải viết thêm vài câu nữa về việc chăm làm ở trường được được coi là
triển khai đầy đủ.
b.)Bên cạnh con cò, con trâu được nói đến nhiều hơn cả trong ca dao, dân ca
Việt Nam. Con trâu không mấy lúc thảnh thơi, cho nên khi nghó đến cuộc đời
nhọc nhằn của mình, người nông dân thường nghó đến con trâu.Con cò tuy có
vất vả, tuy có lúc lặn lội bờ sông nhưng còn có lúc bay lên trời xanh.Con cò ,
con vạc, con nông là những con vật rất gần gũi với người dân lao động.Chúng
mang những đức tính cần cù, chụi khó của người nông dân chân lấm tay bùn .
Những lúc cần bộc bạch nỗi niềm ,người nông dân thường dùng con vật đó ra
để tâm sự, để giải bày nỗi lòng mình.
->Đoạn văn có câu chủ đề đònh hướng nội dung viết về con trâu ,do đó những
câu nào nói về con cò là những câu bò lạc , làm loãng chủ đề.
Sửa lại như sau:
Bên cạnh con cò, con trâu được nói đến nhiều hơn cả trong ca dao, dân ca Việt
đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược Nguyên Mông giành lại độc lập cho tổ
quốc. Lê Lợi đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh. i Chi Lăng mãi mãi là mồ
chôn quân xâm lược. Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh giành lại độc lập.
Những tên tuổi đó sẽ mãi mãi sống cùng non sông đất nước.
3.LỖI VỀ DUNG LƯNG ĐOẠN:
a. Lão Hạc là một nông dân nhưng không có ruộng cấy. Khi còn sức lực lão
cũng chỉ đi cầy thuê cuốc mướn , đổ mồ hôi sôi nước mắt để đổi lấy bát cơm
manh áo. Khi già yếu , lão cũng phải nai lưng ra làm việc , dùng sức hơi tàn để
kiếm sống. Bình thường như thế cũng đã khổ lắm, huống chi gặp những năm
thiên tai thì cuộc sống lại tủi cực biết chừng nào. Lão đã vậy, Cuộc sống con
trai lão cũng chẳng hơn gì. Đến tuổi trưởng thành vì không có tiền nên chẳng
cưới được vợ. Phẫn chí, con trai lão bỏ làng ra đi. Nhưng đi về đâu? Đành liều
nhắm mắt đưa chân. Con trai lão đã phải liều mình tới nơi “bán thân đổi lấy
mấy xu”, “thòt xương vùi gốc cao su mấy từng”. Đi mà không bíết ngày nào trở
lại. Lão Hạc cứ ngày ngày, tháng tháng ngóng chờ tin con Nhưng chờ mãi vẫn
không thấy con về. Đói khổ, già nua, bệnh tật đã đẩy lão tới con đường cùng.
Cuộc đời bế tắc. Lão đã tìm lối thoát cho cuộc sống của mình bằng cái chết ,
một cái chết thê thảm , tủi hờn.
*Phần này có thể tách thành 3 đoạn:
Đoạn 1:
Lão Hạc là một nông dân nhưng không có ruộng cấy. Khi còn sức lực lão
cũng chỉ đi cầy thuê cuốc mướn, đổ mồ hôi sôi nước mắt để đổi lấy bát cơm
manh áo. Khi già yếu , lão cũng phải nai lưng ra làm việc , dùng sức hơi tàn để
kiếm sống.Bình thường như thế cũng đã khổ lắm, huống chi gặp những năm
thiên tai thì cuộc sống lại tủi cực biết chừng nào.
->Đây là đoạn ý có đối tượng tường thuật là cuộc sống của lão Hạc.
Đoạn 2:
Lão đã vậy, Cuộc sống con trai lão cũng chẳng hơn gì. Đến tuổi trưởng thành
vì không có tiền nên chẳng cưới được vợ. Phẫn chí, con trai lão bỏ làng ra đi.
được những kết quả nhất đònh. Kết quả cụ thể như sau:
Lớp
Só
số
Giỏi
% Khá
% Trung
bình
% Yếu % Kém
%
9
3
40 5 12.5
9 22.5
24 60 2 5.0 0 0 %
9
4
39 5 12.8
10 25.6
21 53.9 3 7.7 0 0 %
dẫn cho cacù em từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp như nhận diện bài tập,
viết đoạn văn không có câu chủ đề, viết đoạn văn có câu chủ đề Sau đó cho
các em biến đổi đoạn văn theo yêu cầu và sau đó mới cho các em phát hiện ra
lỗi sai về nội dung và hình thức của đoạn.
- Thiết kế bài soạn cho phù hợp nội dung từng bài ,từng dạng bài tập ,cần có
câu hỏi đònh hướng , gợi mở phù hợp với từng đối tượng học sinh giỏi, khá
trung bình , yếu.
- Phải có đoạn văn mẫu rõ ràng, phù hợp
- Đừng nóng vội khi học sinh chưa hoàn thành bài viết mà giáo viên đã vội
hướng dẫn, làm giúp mà giáo viên hãy đóng vai trò là người chỉ dẫn còn học
sinh là người thực hiện.
- Động viên khuyến khích các em để tạo hứng thú trong giờ học, ghi điểm cho
những em làm tốt bài của mình hoặc cho điểm động viên những học sinh yếu,
học sinh dân tộc thiểu số có tiến bộ .
*Về học sinh:
- Đầu tiên là phải nắm vững lí thuyết , sau đó mới rèn được kó năng viết .Cần
phải có thói quen tư duy tập trung, không xây dựng đoạn văn một cách lan man,
không làm bài cho có lệ cho xong .
- Không lệ thuộc vào sách giải hay đoạn văn có sẵn trong sách giáo khoa mà
nên sáng tạo , tự suy nghó để làm bài cho tốt.
- Khi làm dạng bài tập viết đoạn văn cần phải xác đònh đề tài mình viết , xác
đònh nội dung đoạn văn trình bày theo kết cấu nào, đoạn văn có câu chủ đề hay
đoạn văn không có câu chủ đề , sau đó cần chú ý đến các ý triển khai , sắp xếp
ý để có đoạn văn hoàn chỉnh .
D. KẾT LUẬN
Qua nhiều năm thực hiện chương trình SGK theo phương pháp mới ,bản
thân tôi đã có nhiều cố gắng trong việc soạn giảng, nghiên cứu , sử dụng
phương pháp phù hợp cho mỗi bài dạy, sử dụng đồ dùng học tập để nâng cao