Thực trạng và giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Thống Nhất Đồng Nai - Pdf 24

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chính cuả nông nghiệp,
nhưng trong thời gian dài chăn nuôi ở Việt Nam phát triển chậm, phân tán,
trình độ thấp và chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Từ năm
2000 đến nay, chăn nuôi cả nước nói chung và nhiều địa phương nói riêng đã
có biểu hiện khởi sắc và có vai trò tích cực trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế
nông nghiệp. Giá trị sản xuất (GTSX) ngành chăn nuôi tăng bình quân hàng
năm trong giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 7,1% (gấp hơn 2 lần tốc độ phát
triển ngành trồng trọt), sản phẩm chăn nuôi đã tham gia xuất khẩu, đã có
nhiều trang trại chăn nuôi quy mô lớn và công nghệ khá hiện đại. Tuy nhiên,
nhìn chung trình độ phát triển chăn nuôi của nước ta còn thấp hơn so với trình
độ của khu vực ASEAN và thấp hơn rất nhiều so với các nước chăn nuôi tiên
tiến.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông
dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh trong sự nghiệp phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn. Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã
hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và
quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu
quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
Trên phạm vi cả nước, sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 05
tháng 4 năm 1988 thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông
thôn, Đảng và Nhà nước đã có một số chủ trương, chính sách tạo điều kiện
thúc đẩy cho kinh tế hộ phát triển. Đặc biệt là Nghị quyết 03/NQ/CP ngày
02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại, đây là văn bản pháp lý quan
trọng nhất thể hiện quan điểm, chủ trương và chính sách của Nhà nước đối
2
với loại hình tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp, nông thôn, đó là kinh tế
trang trại. Phần lớn các trang trại phát huy được lợi thế của từng vùng, kinh
doanh tổng hợp lấy ngắn nuôi dài.

phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Việc sử dụng khai thác nguồn tài
nguyên chưa hiệu quả, chưa quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái,
đa dạng hóa sinh học.
- Năng lực chuyên môn, tay nghề, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận thị
trường, tiếp thu – vận dụng kiến thức khoa học kỹ thuật, kiến thức về
pháp luật, đặc biệt là về các chủ trương chính sách phát triển kinh tế trang trại
của các chủ trang trại còn hạn chế.
- Chất lượng sản phẩm hàng hóa của trang trại chưa cao, sản phẩm tiêu
thụ khó khăn. Nhiều chủ trang trại chưa nắm được nhu cầu của thị trường nên
sản xuất còn thụ động, hiệu quả thấp. Tuy nhiên đa số trang trại còn chưa
mạnh dạn trong việc mở rộng sản xuất, liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Xuất phát từ những nhận thức trên, với ý nghĩa nghiên cứu loại hình
trang trại chăn nuôi heo của huyện Thống Nhất, nên tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài : “Thực trạng và giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi heo
trên địa bàn huyện Thống Nhất - Đồng Nai”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng sản xuất của các
trang trại, đề xuất những giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển trang trại chăn
nuôi theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Thống Nhất.
4
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích đánh giá đựợc thực trạng phát triển trang trại chăn nuôi tại
huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
- Xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển trang trại
chăn nuôi của huyện.
- Đề xuất được giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình phát triển bền
vững trang trại chăn nuôi heo ở Huyện Thống Nhất.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI
1.1.1. Tổng quan về trang trại
Trong lịch sử phát triển nông nghiệp của nước ta nói riêng và thế giới
nói chung đã từng tồn tại các hình thức sản xuất tập trung được tiến hành trên
một quy mô diện tích đủ lớn để sản xuất ra khối lượng nông sản lớn hơn so
với hình thức sản xuất nông nghiệp truyền thống quy mô nhỏ bé, phân tán.
Các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong các phương thức sản xuất
trước chủ nghĩa tư bản đã tồn tại ở nhiều nước và đều có những đặc điểm
chung chủ yếu là: Về mục đích sản xuất, các hình thức sản xuất nông nghiệp
tập trung đều nhằm mục đích chủ yếu là tự cung tự cấp để đảm bảo nhu cầu
tiêu dùng trực tiếp. Về sở hữu, có những hình thức dựa trên sở hữu Nhà nước,
nhưng đồng thời cũng có những hình thức dựa trên sở hữu riêng của một chủ
độc lập.
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những điều kiện và
động lực mạnh mẽ thúc đẩy hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung lên một
trình độ mới cao hơn, với những biến đổi cơ bản về kinh tế, tổ chức và kỹ
thuật sản xuất so với các hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung
trước chủ nghĩa tư bản. Những biến đổi ấy bao gồm:
- Sự biến đổi về mục đích sản xuất: Sản xuất chuyển từ tự cung tự cấp
là chủ yếu sang sản xuất hàng hóa.
- Sự biến đổi về mặt sở hữu: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường,
hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung về cơ bản là dựa trên quyền sở hữu
tư liệu sản xuất (hay quyền sử dụng nếu tư liệu sản xuất đi thuê) của một
người chủ độc lập.
7
- Sự thay đổi về cách thức tổ chức sản xuất và kỹ thuật sản xuất: Do
mục đích sản xuất hàng hóa nên ở đây sản xuất được tổ chức theo phương
thức tiến bộ hơn với kỹ thuật sản xuất cao hơn hẳn so với những hình thức sản
xuất nông nghiệp mang tính tập trung trong các phương thức sản xuất trước
chủ nghĩa tư bản.

tranh ) các quan hệ nội tại bên trong trang trại rất đa dạng và phức tạp như
các quan hệ về đầu tư, phân bổ nguồn lực cho các ngành, các bộ phận trong
trang trại, các quan hệ lợi ích kinh tế liên quan đến việc phân phối kết quả làm
ra, trong đó lợi ích của chủ trang trại với tư cách là người chủ sở hữu tư liệu
sản xuất và lợi ích của người lao động làm thuê là rất quan trọng. Để tạo ra
động lực thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển thì các quan hệ về lợi ích phải
được giải quyết một cách thoả đáng.
Ngoài mặt kinh tế, trang trại còn có thể được nhìn nhận từ mặt xã hội và
môi trường.
Về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó các
mối quan hệ xã hội đan xen nhau.
Về mặt môi trường, trang trại là một không gian sinh thái, trong đó diễn
ra các quan hệ sinh thái đa dạng. Không gian sinh thái trang trại có quan hệ
chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng. Ba mặt trên
của trang trại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Sự kết
hợp hài hoà ba mặt này sẽ bảo đảm cho kinh tế trang trại phát triển bền vững
và bảo vệ tốt môi trường, sử dụng tối ưu các nguồn lực.
Trong các mặt kinh tế- xã hội và môi trường của trang trại thì mặt kinh tế
là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại. Vì vậy trong
9
nhiều trường hợp khi nói đến kinh tế trang trại, tức là nói tới mặt kinh tế của
trang trại, người ta gọi tắt là trang trại.
Có thể nói rằng trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng
hoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệu sản xuất cơ bản của hộ gia đình,
hoàn toàn tự chủ, sản xuất kinh doanh bình đẳng với các tổ chức kinh tế khác,
sản phẩm làm ra chủ yếu là để bán và tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình.
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất của trang trại là sản xuất hàng
hóa, vì vậy, các yếu tố sản xuất phải được tập trung với quy mô nhất định.
Mặt khác, tư liệu sản xuất của trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền
sử dụng của một người chủ độc lập; nên họ cũng chính là người quyết định

đầu tư, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, tổ chức sản
xuất với quy mô lớn, hạn chế tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên
những vùng chuyên môn hóa, sản xuất hàng hóa tập trung với trình độ thâm
canh cao.
Các trang trại đã tạo ra một khối lượng nông sản hàng hóa lớn nên đã
góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến và
dịch vụ sản xuất ở nông thôn.
Việc phát triển kinh tế trang trại luôn đi liền với việc khai thác và sử
dụng một cách đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông
thôn. Đây là vai trò nổi trội của kinh tế trang trại so với kinh tế nông hộ.
Phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Vì các trang trại luôn đi đầu trong
việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp
11
nên đã tạo ra năng suất, chất lượng các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh
tế cao; đồng thời khai thác có hiệu quả các nguồn lực hiện có…Đây là những
yếu tố cơ bản góp phần vào sự tăng trưởng trong nông nghiệp, đồng thời cũng
là điều kiện để thực hiện công bằng xã hội trong nông thôn.
Phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng
ở nông thôn (điện, đường, thủy lợi ). Cùng với sự đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng của Nhà nước, các trang trại cũng tham gia đóng góp đầu tư nhằm phát
triển hạ tầng phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sản xuất, theo phương châm “Nhà
nước và nhân dân cùng làm”.
+Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm
tăng số hộ giàu có ở nông thôn, tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập cho lao
động, thực hiện có hiệu quả chương trình “xóa đói, giảm nghèo” trong nông
thôn. Phần lớn các chủ trang trại ít nhiều đều có những kinh nghiệm thực tế
về quản lý sản xuất kinh doanh, đây là những tấm gương sống động cho các
hộ nông dân noi theo.
+Về mặt môi trường, việc sản xuất kinh doanh tự chủ và gắn với lợi ích

của chủ nhân chúng. Còn kinh tế trang trại thì ngay từ khi ra đời đã mang tính
hàng hóa và càng ngày tính chất và trình độ sản xuất hàng hóa càng cao.
- Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng của một người chủ độc lập.
Người chủ độc lập ở đây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, nhưng không biệt lập, tách rời khỏi các quan hệ
liên kết và hợp tác với các chủ thể kinh tế khác.
13
- Trong các trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền
vốn được tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng
hóa.
Sự tập trung các yếu tố sản xuất mặc dù theo yêu cầu sản xuất hàng hóa
song cũng có những giới hạn nhất định của các yếu tố sản xuất nội lực và đặc
điểm ngành nông nghiệp.
- Các trang trại đều có thuê mướn lao động.
- Kinh tế trang trại có cách thức tổ chức và quản lý tiến bộ dựa trên cơ
sở chuyên môn hóa sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, thực hiện
hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường.
- Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến
thức và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh.
Những đặc trưng cơ bản của trang trại là những điểm khác biệt mang
tính bản chất của trang trại so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập
trung khác và so với kinh tế nông hộ.
1.1.4. Tiêu chí xác định trang trại
Tiêu chí chung nhận dạng kinh tế trang trại để phân biệt trang trại với
hộ sản xuất là dựa vào mặt định tính và mặt định lượng của trang trại đã đi
vào sản xuất ổn định, đó là:
+Về mặt định tính của trang trại là: trình độ sản xuất hàng hóa cao của
trang trại và được biểu hiện bằng trình độ ứng dụng khoa học – công nghệ và
quản lý kinh doanh của trang trại…

chưa có sản phẩm hàng hóa thì dựa chủ yếu vào các chỉ tiêu quy mô đất, vốn
đầu tư, lao động, số đàn con gia súc
- Các chỉ tiêu còn phụ thuộc vào hướng sản xuất kinh doanh cụ thể đối
với cây trồng, vật nuôi, ngành nghề. Chẳng hạn trang trại trồng rừng thì quy
mô đất đai lớn, trái lại trang trại trồng hoa cây cảnh, nuôi đặc sản thì quy mô
diện tích không lớn nhưng quy mô vốn đầu tư và vốn kinh doanh phải lớn.
- Các chỉ tiêu phải được quy định theo vùng cụ thể: miền núi, đồng
bằng, ven biển, ven đô và theo từng thời điểm nhất định.
Sau khi Chính phủ có Nghị Quyết 03/NQ/CP ngày 02/02/2000, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê đã ban hành Thông tư
liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000, Thông tư liên tịch số
62/TTLT/BNN-TCTK ngày 20/5/2003 và Thông tư số 74/2003/ TT-BNN
ngày 04/7/2003 hướng dẫn tiêu chí xác định trang trại như sau:
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xác
định là kinh tế trang trại đạt một trong 2 tiêu chí định lượng sau:
* Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân/năm: Đối với các
tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên. Đối với các
tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên.
* Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông
hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.
a. Đối với trang trại trồng trọt
(1) Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2ha trở lên đối với các tỉnh phía
Bắc và Duyên hải miền Trung. Từ 3ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và
Tây Nguyên.
(2) Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3ha trở lên đối với các tỉnh phía
16
Bắc và Duyên hải miền Trung. Từ 5ha trở lên đối với ở các tỉnh phía Nam và
Tây Nguyên. Trang trại trồng hồ tiêu 0,5ha trở lên.
(3) Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả
nước.

* 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm.
+ Đối với cơ sở chăn nuôi: phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000
triệu đồng/năm trở lên;
+ Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp: phải có diện tích tối thiểu 31 ha và
giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.
1.1.5. Các hình thức trang trại
Trang trại trong nông nghiệp bao gồm các loại hình khác nhau. Việc
phân loại trang trại có thể thực hiện theo những tiêu thức phân loại nhất
định và việc phân loại trang trại theo những tiêu thức nào tùy thuộc vào
mục đích nghiên cứu của việc phân loại. Theo tính chất và quy mô sở hữu,
có những loại hình trang trại như sau:
+Trang trại gia đình;
+Trang trại tiểu chủ;
+Trang trại tư nhân.
Ba loại hình trang trại nêu trên không những khác biệt về tính chất
và quy mô sở hữu mà còn có sự khác biệt về tính chất và quy mô sử dụng
lao động.
18
Loại hình trang trại gia đình sử dụng lao động của gia đình để phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ yếu.
Trang trại tiểu chủ sử dụng lao động thuê mướn là chủ yếu, nhưng
số lượng lao động thuê mướn thấp hơn mức quy định của pháp luật để xác
định là doanh nghiệp tư nhân.
Loại hình trang trại tư nhân, lao động sử dụng để sản xuất kinh
doanh là hòan toàn thuê mướn, với số lượng lao động bằng hay lớn hơn số
lượng lao động được pháp luật quy định để xác định là doanh nghiệp tư
nhân.
1.1.6. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến phát triển trang trại
1.1.6.1. Các yếu tố thuộc về môi trường của các chủ thể trang trại

theo mô hình kinh tế thị trường. Tuy nhiên kinh tế trang trại chỉ hình thành và
phát triển khi có môi trường pháp lý phù hợp và thuận lợi.
Để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho kinh tế trang trại trước hết cần
tạo sự nhận thức thống nhất trong xã hội về vai trò, vị trí của kinh tế trang
trại, phải coi các trang trại như một loại hình sản xuất kinh doanh chủ yếu
trong nông nghiệp. Từ đó ban hành những văn bản pháp quy phù hợp nhằm
khuyến khích kinh tế trang trại phát triển, trước hết cần có các văn bản pháp
quy xác định địa vị pháp lý và quy định khuôn khổ pháp lý cho trang trại hoạt
động.
20
b.Khung pháp lý cho sự tích tụ và tập trung ruộng đất của Nhà nước.
Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc
biệt, là nguồn gốc tạo ra các sản phẩm nông nghiệp. Vì vậy đất đai là yếu tố
quan trọng, có mối quan hệ sống còn đối với trang trại, góp phần hình thành
nên trang trại. Ngược lại trang trại là một trong những hình thức sử dụng đất
đai có hiệu quả nhất trong nông nghiệp. Nguồn lực đất đai với quy mô lớn là
cơ sở tự nhiên và chủ yếu tạo ra số lượng lớn về nông sản dẫn đến sự trao đổi
hàng hóa trong nông nghiệp. Đất đai là yếu tố của sản xuất nông nghiệp, đồng
thời tạo nên sự thu hút các yếu tố khác (vốn, lao động, công nghệ…) để tạo ra
nông sản phẩm hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thường xuyên của con người. Ở
nước ta dân số tương đối đông trong khi quy mô diện tích đất dùng cho sản
xuất nông, lâm nghiệp thấp dưới mức trung bình tính theo đầu người của thế
giới, vì vậy nó có tác động ảnh hưởng nhất định đến việc hình thành và phát
triển trang trại.
c. Ảnh hưởng của sự phát triển công nghiệp chế biến:
Sự phát triển của công nghiệp chế biến là một trong những điều kiện
cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự hình thành và phát triển
kinh tế trang trại . Điều này bắt nguồn từ đặc điểm của các sản phẩm nông
nghiệp và mối quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp chế biến.
Công nghiệp chế biến có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của

địa bàn (hoặc vùng) hoạt động của các trang trại và cơ sở vật chất kỹ thuật
trong phạm vi từng trang trại.
22
Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại phải có sự trợ giúp của
Nhà nước trong việc đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sản xuất.
Nhà nước đóng vai trò quan trọng và chủ yếu để tạo ra kết cấu hạ tầng kỹ
thuật cho sản xuất nông nghiệp nói chung, cho sự hình thành và phát triển
kinh tế trang trại nói riêng trên từng địa bàn, đồng thời hỗ trợ xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật để phát triển sản xuất kinh doanh trong mỗi trang trại.
e. Ảnh hưởng của sự hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn
hóa.
Chuyên môn hóa sản xuất là một trong các hình thức tổ chức sản xuất
của nền sản xuất xã hội, trong đó có nông nghiệp. Trong phạm vi nông
nghiệp, chuyên môn hóa được thể hiện dưới các hình thức khác nhau, trong
đó chuyên môn hóa theo vùng, kết quả là hình thành nên các vùng chuyên
canh sản xuất tập trung, có vai trò hết sức quan trọng. Về hình thức, chuyên
môn hóa sản xuất theo vùng là sự tập trung các điều kiện sản xuất của vùng
để sản xuất ra những nông sản hàng hóa nhất định. Vì vậy, trong điều kiện
kinh tế thị trường sự hình thành các vùng chuyên môn hóa sản xuất nông
nghiệp và các trang trại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo tiền đề, điều
kiện để phát triển kinh tế trang trại.
Việc hình thành các vùng chuyên môn hóa sản xuất trong nông nghiệp
có ảnh hưởng tích cực và rõ rệt tới sự hình thành và phát triển của kinh tế
trang trang trại, vì các vùng chuyên canh tập trung luôn gắn liền với công
nghiệp chế biến, tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm của trang trại.
Để hình thành các các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa,
Nhà nước và chính quyền địa phương phải tiến hành quy hoạch, phân vùng để
bố trí sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi thích hợp, tạo các điều kiện thực
hiện các phương án sản xuất sản phẩm thông qua xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ
23

1.1.6.2.Các yếu tố thuộc về chủ thể trang trại
a. Ý chí và quyết tâm làm giàu từ nông nghiệp của chủ trang trại.
Nông nghiệp là ngành sản xuất nặng nhọc, phức tạp, mức sinh lời thấp,
tính rủi ro cao. Vì vậy, sự thu hút đầu tư của nông nghiệp kém hơn các ngành
khác. Trong khi đó, phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế trang trại cần
có sự đầu tư tiền của, tri thức và công sức lớn hơn nhiều so với nông hộ để
sản xuất kinh doanh. Vì vậy, điều kiện về ý chí và quyết tâm làm giàu từ nông
nghiệp là một trong những điều kiện quan trọng cho sự hình thành và phát
triển kinh tế trang trại. Chỉ có những người có ý chí và quyết tâm làm giàu từ
nghề nông mới dám đầu tư tiền của, tri thức và công sức vào nghề nông lời ít,
rủi ro nhiều.
b. Kinh nghiệm sản xuất, tri thức và năng lực sản xuất kinh doanh của chủ
trang trại.
Về nguồn gốc hình thành, đa số các trang trại hình thành từ sự chuyển
biến về chất của kinh tế nông hộ. Quá trình chuyển biến đó là quá trình tích
lũy kinh nghiệm sản xuất, tích lũy tri thức và năng lực sản xuất kinh doanh.
Không có quá trình tích lũy thứ hai này thì không thể có kinh tế trang trại, bởi
vì đây không chỉ là điều kiện cho sự hình thành các trang trại mà còn là điều
kiện để các trang trại trụ lại và phát triển dưới sự tác động khắc nghiệt của cơ
chế thị trường.
Trên thực tế, khi người chủ trang trại có kinh nghiệm sản xuất, có trình
độ và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp thì mới dám đầu tư
kinh doanh cây, con nào để đáp ứng được nhu cầu thị trường, để khai thác
25
được các nguồn lực để lựa chọn phương hướng sản xuất kinh doanh và tổ
chức quá trình sản xuất kinh doanh theo sự lựa chọn đó. Như vậy sự tích lũy
kinh nghiệm, tri thức và năng lực sản xuất kinh doanh là một yếu tố ảnh
hưởng lớn đến phát triển kinh tế trang trại.
Để đáp ứng yêu cầu trên, ngòai sự tích lũy của bản thân chủ trang trại
cần có sự hỗ trợ của Nhà nước về nguồn lực và tổ chức để có thể truyền tải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status