ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN ĐỨC QUÝ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
SẢN XUẤT RAU AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN ĐỨC QUÝ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
SẢN XUẤT RAU AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Kiều Thị Thu Hương
THÁI NGUYÊN - 2020
Tác giả luận văn
Trần Đức Quý
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢMƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT..................................................................... vi
TRÍCH YẾU CỦA LUẬN VĂN ........................................................................... vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................3
5. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn .............................................3
5.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................................3
5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài..................................................................................3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU..........................................................4
1.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................................4
1.1.1. Một số lý thuyết về sản xuất và sản xuất rau an toàn........................................4
Tiêu chuẩn rau an toàn ................................................................................................8
Các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn: ............................................................14
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ............................18
1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................22
1.2.1. Tình hình nghiên cứu rau trên thế giới ............................................................22
3.4.2. Những giải pháp chủ yếu để phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT ..................48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................58
1. Kết luận .................................................................................................................58
2. Kiến nghị ...............................................................................................................59
2.1. Đối với Huyện Đại Từ .......................................................................................59
2.2. Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh RAT ....................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................60
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Diện tích gieo trồng rau an toàn của các xã nghiên cứu ...........................36
Bảng 3.2: Cơ cấu mùa vụ tại các xã nghiên cứu .......................................................37
Bảng 3.3: Một số thông tin cơ bản về các hộ điều tra ...............................................37
Bảng 3.4: Hộ tham gia HTX và tổ hợp tác ...............................................................38
Bảng 3.5: So sánh hiệu quả sản xuất của một số loại rau chính trên 1 ha .....................40
Bảng 3.6: Lựa chọn địa điểm mua rau của hộ gia đình ...........................................43
Bảng 3.7: Lý do người tiêu dùng không mua rau an toàn.........................................44
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV
: Bảo vệ thực vật
DT
: Vệ sinh an toàn thực phẩm
vii
TRÍCH YẾU CỦA LUẬN VĂN
Tên đề tài: “Thực trạng và giải pháp sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên”
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mục tiêu của đề tài: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất RAT
- Đánh giá thực trạng sản xuất rau an toàn tại huyện Đại từ
- Phân tích các thuận lợi và khó khăn trong sản xuất rau an toàn tại huyện
Đại từ và các nhân tố thúc đẩy/rào cản trong sản xuất rau an toàn.
- Đề xuất các một số giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả của sản xuất rau an
toàn góp phần đẩy mạnh phát triển bền vững ngành trồng rau theo hướng thân thiện
với môi trường.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp được tiến hành tại
3 xã có diện tích rau lớn tại huyện Đại Từ (Tiên Hội, Vạn Thọ và thị trấn Đại Từ)
mỗi xã chọn ngẫu nhiên 30 hộ trồng rau, số liệu được xử lý trên phần mềm Exel.
Ngoài phỏng vấn hộ trồng rau, tác giả còn tiến hành phỏng vấn các hộ kinh doanh
RAT và người tiêu dùng để tìm hiểu thị trường RAT.
Kết quả nghiên cứu: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn của huyện Đại Từ
vẫn còn ở quy mô nhỏ lẻ và phân tán; hạ tầng phục vụ rau an toàn còn hạn chế;
trình độ kỹ thuật công nghiệp còn yếu kém. Sản xuất rau an toàn, sản xuất rau theo
tiêu chuẩn rau an toàn còn chậm phát triển mặc dù so sánh hiệu quả sản xuất rau an
toàn với rau thông thường thì RAT có hiệu quả hơn rõ rệt, nguyên nhân do mạng
lưới tiêu thụ rau an toàn chưa phát triển, chủ yếu là các HTX tiêu thụ 1 lượng nhỏ
rau cho các trường học bán trú trên địa bàn, tiêu thụ rau an toàn còn gặp nhiều khó
khăn. Đây nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình phát triển và tiêu thụ RAT. Trong
đó nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc trợ giúp và khuyến khích ngành RAT
phát triển thông qua các chủ trương và các chính sách.
gia đình và thị trường - FAO, (2009) “Growing vegetables for home and markets”].
Nhu cầu tiêu thụ rau, quả trung bình của mỗi hộ tại Việt Nam khoảng 71 kg trong
đó rau chiếm ¾ tổng sản lượng tiêu thụ rau quả của hộ [Viện kinh tế nông nghiệp
Việt Nam (2005), Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về ngành rau quả của Việt
Nam], [Trung tâm nghiên cứu và phát triển quốc tế về nông nghiệp và nông thôn
2004, Báo cáo năm]. Tuy nhiên những năm gần đây, hiện tượng ngộ độc do ăn rau
ngày càng nhiều cao. Nguyên nhân chính là do hóa chất bảo vệ thực vật tồn dư trên
sản phẩm rau quá mức cho phép và do thói quen của người dân hay ăn các thức ăn
rau tươi sống [Dương Quang Huy (2016), Nghiên cứu giải pháp phát triển rau an
toàn tại thành phố Thái Nguyên]. Ngoài những trường hợp gây ngộ độc cấp tính
dẫn đến tử vong dễ nhận biết, còn các ảnh hưởng lâu dài đến ảnh hưởng sức khỏe
cho mọi người vẫn chưa lường hết được. Những thông tin và tình trạng ngộ độc do
dư lượng thuốc trừ sâu trong rau khiến người tiêu dùng hoang mạng khi phải lựa
chọn thực phẩm trên thị trường. Rau an toàn thật sự là một nhu cầu cấp thiết của
người tiêu dùng. Hiện nay các cơ sở sản xuất và tiêu thụ rau an toàn đã xuất hiện
nhiều trên thị trường nhưng vẫn còn mang tính nhỏ lẻ và chưa thực sự mang lại
niềm tin cho người tiêu dùng. Vì vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm với mặt
hàng nông sản nhất là sản phẩm rau đang được xã hội đặc biệt quan tâm [Trung tâm
nghiên cứu và tiêu dùng (2014), Báo cáo thực trạng rau củ quả trên thị trường Việt
Nam]. Để đáp ứng nhu cầu thực phẩm an toàn hiện nay trên thế giới và nhiều quốc
gia đã ban hành các tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn như JGAP, GlobalGAP. Chính
phủ Việt Nam cũng ban hành bộ tiêu chuẩn VietGAP quy định các tiêu chí sản xuất
nông nghiệp an toàn trong đó có các quy định về sản xuất rau an toàn.
Bộ tiêu chuẩn VietGAP đã được nhiều địa phương áp dụng để xây dựng
2
vùng sản xuất rau an toàn, trong đó có địa bàn huyện Đại từ. Tuy nhiên tình hình
sản xuất và tiêu thụ rau bị ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Điều đó
ảnh hưởng trực tiếp tới tính an toàn trong sản phẩm tiêu dùng của họ và quá trình
3
4. Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn: thị trấn
Hùng Sơn, xã Tiên Hội, và xã Vạn Thọ của huyện Đại Từ.
Thời gian nghiên cứu: Các số liệu phản ánh tình hình cơ bản của huyện và hiệu
quả kinh tế của sản xuất rau an toàn trong các xã sản xuất rau an toàn chủ yếu của các
hộ được thu thập từ năm 2017 - 2019, số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2019.
5. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1. Ý nghĩa khoa học
Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn của sản xuất rau an toàn, tổng
hợp các kết quả nghiên cứu trở thành tài liệu tham khảo cung cấp cho những người
quan tâm đến việc nghiên cứu về sản xuất rau an toàn.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đánh giá khách quan thực trạng sản xuất rau an toàn tại địa phương và phân
tích các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất rau an toàn, phân tích lợi ích tài
chính đối với các tác nhân.
Giúp các nhà sản xuất, các doanh nghiệp, các cá nhân trong sản xuất rau an
toàn tăng khả năng liên kết thực hiện mục tiêu cung cấp cho thị trường, cho người
tiêu dùng các sản phẩm rau an toàn.
Đề xuất giải pháp quản lý và phát triển ngành sản xuất rau an toàn của địa
phương và đảm bảo lợi ích cho người sản xuất, người kinh doanh đáp ứng nhu cầu
của thị trường và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số lý thuyết về sản xuất và sản xuất rau an toàn
Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát
triển: Phát triển là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng
trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý
về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP,
GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó,
còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về
mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH,HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống
toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu
nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ
môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát triển
kinh tế – xã hội… Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển
kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập
niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày
càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia,
lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và
toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự
chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch
bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh
thổ và cả thế giới phải được nâng lên tầm cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của
sự hợp tác, phát triển. Thực tiễn đó đã thúc đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát
triển mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về
tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững mà sau
đây ta sẽ xem xét kỹ hơn.
Phát triển bền vững
Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo cáo
"Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển
an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu điển hình đạt các chỉ tiêu an
toàn thực phẩm theo quy định [Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012),
7
Thông tư 59/2012/BNN - PTNT].
Rau an toàn là rau khi sản xuất vẫn sử dụng phân hoá học và các hoá chất
BVTV, song có giới hạn. Chất lượng rau sản xuất ra có các tiêu chuẩn về: dư lượng
thuốc BVTV; gốc nitrat và các yếu tố độc hại gây bệnh khác trong rau nằm trong giới
hạn tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo vệ sinh và an toàn sức khoẻ cho người tiêu dùng.
Căn cứ theo quyết định số 04/2007/QĐ - BNN, ngày 19/01/2007 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành “ Quy định về quản lý sản xuất và chứng
nhận rau an toàn” [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2007, Quyết định số
04/007/QĐ - BNN, ngày 19/01/2007 “Quy định về quản lý sản xuất và chứng nhận
rau an toàn”] khái niệm RAT được hiểu như sau: “Là sản phẩm rau tươi đảm bảo
các tiêu chuẩn chất lượng về hàm lượng kim loại nặng, hàm lượng Nitrat (NO3), vi
sinh vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) theo quy định hiện hành của nhà
nước (tại quyết định số 99/2008/QĐ - BNN ngày 15/10/2008 của Bộ NN&PTNT);
được sản xuất, sơ chế theo quy trình sản xuất, sơ chế RAT; tiến tới sản xuất, sơ chế
theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi Việt Nam
(VietGAP)”.
* Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi Việt Nam gọi tắt là
VietGAP (Vietnames Good Agricultural Practices): Là những nguyên tắc trình tự,
thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo an toàn,
nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và
người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và nguồn gốc sản phẩm.
* Ngưỡng an toàn: Là mức giới hạn tối đa cho phép của dư lượng hóa chất
độc hại (kim loại nặng, nitrat, thuốc Bảo vệ thực vật, các chất điều hòa sinh trưởng),
các vi sinh vật có hại được phép tồn tại trên rau mà không ảnh hưởng đến sức khỏe
con người theo Quy định hiện hành của Bộ Y tế.
- Số lượng vi sinh vật và kí sinh trùng gây hại.
Trong đó yêu cầu (2) hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường canh tác và kỹ
thuật trồng trọt, nó là yếu tố quyết định rau sạch hay rau bị ô nhiễm.
Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc BVTV hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên
hay hoá chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá
hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật. Khi phun thuốc BVTV, có
một phần lượng thuốc bám lại trên bề mặt cây rau gọi là dư lượng thuốc. Lượng
thuốc tồn dư này ở một mức độ nhất định sẽ gây ngộ độc cho người ăn. Người bị
9
ngộ độc có thể sẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề trước mắt hoặc lâu dài tuỳ
thuộc vào nồng độ và loại độc tố tích luỹ trong cơ thể.
Theo Trần Khắc Thi, hiện nay, Việt Nam sử dụng khoảng 270 loại thuốc trừ
sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 22
loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng ngày càng tăng. Khi phun thuốc trừ
sâu, trừ bệnh, trừ cỏ dại… thuốc sẽ tạo thành lớp mỏng trên bề mặt của lá, quả, thân
cây, mặt đất, mặt nước (Trần Khắc Thi và cộng sự 2008) [Trần Khắc Thi (2008),
Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học và công nghệ và thị
trường để phục vụ chương trình xuất khẩu rau ở các kênh tiêu thụ tại Hà Nội].
Theo Bùi Bảo Hoàn, rau có nhiều chủng loại, do vậy sâu hại cũng đa dạng,
thông thường sâu bệnh làm giảm năng suất từ 10 - 40% đôi khi còn tới 100% nếu có
dịch hại nên nông dân Việt Nam thường sử dụng quá nhiều (0,4 - 0,5 kg a.i - a.i là
lượng hữu cơ hữu hiệu) trong khi đó liều lượng cho phép không quá 0.2 - 0.25 kg
a.i để phun cho rau do Do thói quen sợ rủi ro, ít hiểu biết về mức độ độc hại của các
loại hoá chất BVTV.
Một số nguyên nhân quan trọng khác nữa là khoảng cách thời gian cách ly
giữa lần phun thuốc cuối cùng tới lúc thu hoạch không tuân thủ nghiêm ngặt, đặc
biệt là các loại rau thu hoạch liên tục như cà chua, đậu cô ve, dưa chuột.
hành, rau muống, cải xoong, bí đỏ, dưa chuột, cà rốt (Trần Khắc Thi và Cộng sự,
2005) [Trần Khắc Thi, Nguyễn Công Hoan (2005), Kỹ thuật trồng rau an toàn, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội].
* Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu
Đặc tính của kim loại nặng là không thể tự phân huỷ được nên có sự tích luỹ
trong dây truyền thức ăn của hệ sinh thái. Các kim loại nặng như asen, chì, thuỷ
ngân... nếu vượt quá cho phép cũng là những chất có hại cho cơ thể, hạn chế sự phát
triển của các tế bào và hoạt động của máu, gây thiếu máu, biến động thân nhiệt, rối
loạn tiêu hoá.
Nguyên nhân chính làm hàm lượng kim loại nặng trong rau tăng chủ yếu do
trong thuốc BVTV và phân bón NPK có chứa một số kim loại nặng. Trong quá trình
tưới tiêu, các kim loại nặng này bị rửa trôi xuống ao hồ, sông rạch, thâm nhập vào
mạch nước ngầm và gây ô nhiễm nguồn nước tưới rau. Mặt khác, nguồn nước thải
của các thành phố và các khu công nghiệp chứa nhiều kim loại nặng cũng được
chuyển trực tiếp vào rau tươi.
11
Biện pháp khắc phục hiệu quả nhất là khuyến cáo tuyệt đối không sản xuất
rau ở khu vực có chất thải của các nhà máy, khu công nghiệp, các khu vực đất đã bị
ô nhiễm do quá trình sản xuất trước đó gây ra. Tuyệt đối không sử dụng nước gần
khu công nghiệp, các nhà máy để tưới.
* Mức độ ô nhiễm do sử dụng nước tưới không sạch
Các sản phẩm rau đều chứa một lượng nước rất lớn song nếu sử dụng nguồn
nước không sạch thì sẽ gây góp phần gây ô nhiễm. Nước có thể gây ô nhiễm cho
sản phẩm bằng hai cách:
* Các kim loại nặng có sẵn trong đất hay nguồn nước thải từ thành phố khu
công nghiệp được cây hấp thụ và tích luỹ dần vào sản phẩm.
* Ngoài ra việc bón lân nhiều cũng làm tăng hàm lượng kim loại nặng.
Những sản phẩm không chỉ gây hại lúc sản phẩm tươi mà còn ảnh hưởng lớn trong
trung bình có tầng canh tác dày 20-30cm. Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực
có chất thải công nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của
thành phố ít nhất 200m. Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nhưng không được
tồn dư hoá chất độc hại [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2008, Quyết định
số 379/QĐ-BNN-KHCN “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau
quả an toàn tại Việt Nam (vietgap)].
Điều kiện kỹ thuật.
Tối thiểu 90% số hộ trồng rau đồng thuận sản xuất RAT phải được tập huấn
kỹ thuật về sản xuất RAT do Chi cục BVTV, Trung tâm Khuyến nông tổ chức và
cấp giấy chứng nhận, hộ hoặc các nhóm hộ phải cơ bản đồng thuận sản xuất theo
quy trình kỹ thuật RAT [Bộ NN và PTNT 1998- quyết định số 67/1998/QĐ-BNNKHKT - Quy định về sản xuất rau an toàn”].
Nước tưới:
Vì trong rau xanh nước chứa trên 90% nên việc tưới nước có ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm. Nếu không có nước giếng cần dùng nước sông, ao,
hồ không bị ô nhiễm. Nước sạch còn dùng để pha các loại phân bón lá, thuốc
BVTV.... Đối với các loại rau ăn quả giai đoạn đầu có thể sử dụng nước từ mương,
sông, hồ để tưới rãnh [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2008, Quyết định số
379/QĐ-BNN-KHCN “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả
an toàn tại Việt Nam (vietgap)].
13
Giống:
Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khoẻ mạnh, không có mầm
bệnh. Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Hạt giống nhập nội phải qua kiểm
dịch thực vật. Trước khi gieo trồng hạt giống phải được xử lý hoá chất hoặc nhiệt.
Trước khi trồng cây con xuống ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng và trừ sâu
hại sau này [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2008, Quyết định số 379/QĐBNN-KHCN “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả an toàn
tại Việt Nam (VietGAP)].
định số 67/1998/QĐ-BNN-KHKT - Quy định về sản xuất rau an toàn”].
Thu hoạch, đóng gói:
Rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ các lá già, héo, quả bị sâu, dị dạng. Rau
được rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo cho vào bao, túi sạch trước khi mang đi tiêu thụ
tại các cửa hàng. Trên bao bì phải có phiếu bảo hành ghi rõ địa chỉ nơi sản xuất
nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng [Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn 2008, Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN “Quy trình thực hành sản xuất
nông nghiệp tốt cho rau quả an toàn tại Việt Nam (vietgap)].
Các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn:
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, các biện pháp kỹ thuật canh tác
và sản xuất rau an toàn phổ biến được áp dụng là kỹ thuật thuỷ canh, kỹ thuật trồng
rau trong điều kiện có che chắn và kỹ thuật trồng rau ngoài đồng ruộng.
1. Kỹ thuật thuỷ canh (kỹ thuật trồng rau trong dung dịch - Hydroponics)
Thủy canh thường được định nghĩa như là “trồng cây trong nước”. Tuy
nhiên, việc cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây có thể trực tiếp qua tiếp xúc giữa
rễ và dung dịch hoặc có thể gián tiếp qua các giá thể trơ. Vì vậy chúng ta có thể
hiểu rằng thủy canh là “ trồng cây không sử dụng đất”[Dương Tấn Nhựt (2008), Kỹ
thuật thủy canh, Phân Viện Sinh Học tại Đà Lạt].
Hệ thống thuỷ canh tĩnh:
Hệ thống này đã được áp dụng ở nhiều nơi trên cả nước với quy mô khác
nhau. Tại một số trường Đại học và viện nghiên cứu như: Học viện Nông Nghiệp
Việt Nam, Đại học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Viện nghiên cứu rau quả.
Vật chứa dung dịch là hộp xốp có kích thước khác nhau, có tác dụng cách nhiệt,
tránh ánh sáng cho bộ rễ. Giá thể để cây là một trấu hun. Hộp trồng cây được để
15
trong nhà cách ly với côn trùng gây hại. Hệ thống này có ưu điểm là không phải đầu
tư chi phí thiết bị làm chuyển động dung dịch nên giá thành thấp. Nhược điểm
chính thường thiếu ôxi trong dung dịch và giảm độ pH gây độc cho cây (Trần Khắc