Nghiên cứu những giải pháp phát triển nông nghiệp kết hợp du lịch quy mô hộ gia đình trên địa bàn tỉnh An Giang - Pdf 24

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Khoảng cách biệt về đời sống kinh tế và xã hội giữa thành thị và nông
thôn đang ngày một tăng thêm và có nguy cơ rất khó giải quyết trong một
tương lai gần do tình hình đầu tư, tình hình phát triển các cơ sở vật chất phục
cho sự phát triển của khu vực nông thôn còn hạn chế, và hơn hết là do lĩnh vực
hoạt động kinh tế truyền thống của khu vực này cùng với những điều kiện bất
ổn vốn có của nó đã và đang làm cho thu nhập của người dân nông thôn sống
bằng nghề nông rất bấp bênh và khó khăn trong việc cải thiện, làm cho khu
vực nông thôn vẫn là một nơi chiếm giữ nhiều người nghèo nhất (hơn 90% tổng
số). Phát triển nông nghiệp - nông thôn và nâng cao đời sống của người dân
nông thôn là đòi hỏi bức bách nhằm tăng khả năng hòa nhập của người dân
nông thôn trong làn sóng phát triển kinh tế của đất nước và tạo sự ổn định cho
các giai đoạn phát triển tiếp theo. Tác giả đã chọn đề tài “ Nghiên cứu những
giải pháp phát triển nông nghiệp kết hợp du lịch quy mô hộ gia đình trên địa
bàn tỉnh An Giang” nhằm đề xuất giải pháp góp phần giải quyết vấn đề nêu
trên và giải pháp được đề xuất trong đề tài là mô hình kết hợp phát triển nông
nghiệp - nông thôn với hoạt động phục vụ du lịch.
Mô hình này góp phần phục vụ cho công tác xóa đói, giảm nghèo tại khu
vực nông thôn, nhất là những khu vực có điều kiện tự nhiên, truyền thống văn
hóa, v.v… phù hợp cho phát triển các loại hình du lịch. Tỉnh An Giang được lựa
chọn làm địa bàn cho việc phân tích mô hình này. Tỉnh An Giang là một tỉnh
nông nghiệp nhưng lại có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích văn hoá lịch sử, có
đường biên giới giáp với Campuchia,… hàng năm thu hút hơn 2 triệu khách du
lịch đến tham quan, mua sắm, cúng bái,… nên sẽ là nơi khá lý tưởng để có thể
thực hiện việc liên kết phát triển theo mô hình này.
2
2-Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
Phân tích các tác động có thể có của mô hình phát triển nông nghiệp –

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi về nội dung: Phân tích đánh giá thực trạng và tiềm năng du
lịch tại tỉnh An Giang từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nền kinh tế nông
nghiệp kết hợp du lịch.
+ Phạm vi về không gian: Địa bàn nghiên cứu của đề tài tập trung tại một
số khu vực có tiềm năng về tự nhiên và tương đối thuận lợi cho việc thu hút du
khách tham quan và nghỉ dưỡng, cụ thể là: Khu du lịch núi Sam núi Cấm, Khu
du lịch núi Sập – Óc Eo, khu sinh thái rừng tràm Trà Sư,…. các dự án du lịch
cộng đồng phục vụ người nghèo do sở Văn Hoá – Du lịch – Thể thao quản lý và
dự án du lịch Nông nghiệp do Hội nông dân triển khai trên địa bàn các xã Mỹ
Hoà Hưng, Châu Phong, Văn Giáo thuộc tỉnh An Giang.
4 – Phương pháp nghiên cứu
a) Chọn vùng nghiên cứu
Hiện nay mô hình du lịch cộng đồng ở tỉnh An Giang đã và đang được triển
khai ở TP Long Xuyên và 3 huyện như Tân Châu, Tịnh Biên và An Phú. Mô
hình du lịch cộng đồng ở Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên và Văn Giáo – Tịnh
Biên là một trong những mô hình được triển khai và thành lập sớm nhất. Do giới
hạn về thời gian và kinh phí nên nghiên cứu chỉ chọn 2 xã trên làm đại diện để
nghiên cứu.
b) Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Số liệu sử dụng trong các phân tích và đánh giá bao gồm số liệu thứ cấp
4
và số liệu sơ cấp. Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo, các dự án
chuyên đề của nhiều tổ chức, tác giả. Số liệu sơ cấp được thu thập từ khảo sát
thực tế ngẫu nhiên tại địa bàn nghiên cứu mô hình liên kết nông nghiệp - du
lịch là xã Mỹ Hòa Hưng – TP Long Xuyên, xã Văn Giáo – huyện Tịnh Biên.
c) Phương pháp xử lý số liệu
Để trả lời cho mục tiêu của đề tài cũng như những câu hỏi đặt ra ở phần
trên đề tài tập trung vào các phương pháp định tính và phương pháp phỏng vấn
sâu, phương pháp phân tích tình huống, phương pháp phân tích hồi quy đa

1.1.2.1 Tác động về kinh tế
Theo WTO cho rằng du lịch có tác động về kinh tế như: (1) cải thiện cán
cân thương mại quốc tế; (2) tạo ra nhiều cơ hội việc làm; (3) quảng bá cho sản
phẩm địa phương thông qua việc đáp ứng nhu cầu của du khách về các sản
phẩm lương thực, thực phẩm, dụng cụ, đồ đạc, xây dựng; (4) tăng nguồn thu
cho nhà nước (5) tạo ra điều kiện để phát triển các vùng đặc biệt - du lịch sẽ
giúp tạo ra một môi trường thuận lợi cho các vùng có vấn đề khó khăn nhất
định của một quốc gia; (6) khuyến khích nhu cầu nội địa.
Tuy nhiên, du lịch cũng có xảy ra một số tiêu cực: tính thất nghiệp; lạm
phát; lãng phí vốn đầu tư; trốn thuế; cạnh tranh không lành mạnh.
1.1.2.2 Tác động về văn hóa
Theo WTO cho rằng du lịch có những tác động như sau: (1) sự tương tác
giữa du khách và dân cư địa phương; (2) khía cạnh văn hóa thông qua sự chi
tiêu của du khách; (3) sự đánh giá nền văn hóa địa phương của du khách; (4)
thương mại hóa các tác phẩm nghệ thuật và đồ thủ công, (5) đánh mất nhân
cách và lòng tự hào về nền văn hóa địa phương.
1.1.2.3 Tác động về môi trường
Theo WTO cho rằng sự phát triển nhanh chóng của du lịch góp phần tích
cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và nhiều địa
phương nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du
lịch đã có những tác động tiêu cực nhất định đến môi trường do tốc độ phát
triển quá nhanh trong điều kiện còn thiếu phương tiện xử lý môi trường, nhận
thức và công cụ quản lý nhà nước về môi trường trong ngành còn hạn chế.
1.1.2.4 Tác động về mặt xã hội
7
Du lịch có tác động cả về mặt tích cực và tiêu cực và ảnh hưởng rất lớn
đến mặt xã hội. Nếu chuẩn bị không đồng bộ, việc gia tăng khách du lịch đại
trà có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền văn hóa bản địa: lối sống
không lành mạnh, ma túy, trộm cắp, lừa gạt và nhiều vấn đề khác. Những ảnh
hưởng tiêu cực đó lấn át dần lối sống thuần phong mỹ tục của địa phương.

khách, ép giá gây mất trật tự và nhiều vấn đề xã hội khác tại điểm du lịch. Vì
vậy, để khắc phục tình trạng tiêu cực này cần làm trong sạch và lành mạnh môi
trường du lịch, đảm bảo phát triển du lịch một cách bền vững.
1.1.3.4 Du lịch vì người nghèo
Du lịch vì người nghèo là một phương thức tiếp cận mới về lập kế hoạch
và quản lý du lịch, trong đó những người sống trong điều kiện nghèo được đưa
lên vị trí ưu tiên hàng đầu trong chương trình phát triển du lịch vì người nghèo
bằng cách tạo các cơ hội thu nhập liên quan đến du lịch cho người nghèo có
hoàn cảnh khó khăn .
1.1.3.5 Du lịch sinh thái cộng đồng
Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, IUCN, ESCAP (1999), du lịch sinh thái
cộng đồng là sự kết hợp của du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái. Du lịch
sinh thái cộng đồng do cộng đồng tổ chức, dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản
địa với mục tiêu bảo vệ môi trường. Du lịch sinh thái cộng đồng đề cao quyền
làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho
cộng đồng với khách du lịch. Du lịch sinh thái cộng đồng tạo cơ hội tìm hiểu,
nâng cao nhận thức về môi trường và văn hóa địa phương cho du khách. Tuy
nhiên, sự phát triển của du lịch sinh thái cộng đồng nếu không được lập kế
hoạch và thực hiện một cách cẩn thận sẽ làm cho các giá trị văn hóa bị mất
hoặc sai lệch dần.
9
1.1.3.6 Du lịch dựa vào cộng đồng
Du lịch dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch mà khách du lịch sẽ ở tại
nhà dân, cùng ăn, cùng tham gia vào các hoạt động với người dân như cấy lúa,
tỉa rau, bắt cá, v.v….Võ Quế (2008) cho rằng du lịch dựa vào cộng đồng là
một phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng là người tham gia phát
triển du lịch, tham gia bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường tại các
điểm khu có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và đồng thời cộng đồng được
hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ du lịch.
1.1.4 Điều kiện để phát triển du lịch

hoạt động khác).
- Tiêu chí 3: Hoạt động du lịch này nên bao gồm tất cả các thành viên của
cộng đồng hơn chỉ là sự tham gia của một vài thành viên.
- Tiêu chí 4: Quan tâm đến sự bền vững của môi trường.
- Tiêu chí 5: Mọi hoạt động du lịch cộng đồng phải tôn trọng nền văn hoá
và các “cấu trúc xã hội” tại cộng đồng.
- Tiêu chí 6: Có hệ thống/ phương pháp để giúp người trong cộng đồng có
thể “vượt qua” những ảnh hưởng của những khách du lịch phương tây.
- Tiêu chí 7: Hoạt động du lịch thường được giữ ở quy mô nhỏ nhằm hạn
chế tối đa những ảnh hưởng đến văn hoá và môi trường.
- Tiêu chí 8: Hướng dẫn tổng quan cho khách du lịch về cộng đồng để
giúp họ có những hành động hợp lý trong quá trình du lịch.
- Tiêu chí 9: Không yêu cầu người trong cộng đồng phải thực hiện những
hoạt động trái với văn hoá/tôn giáo của họ.
- Tiêu chí 10: Không yêu cầu người dân trong cộng đồng tham gia vào các
hoạt động du lịch nếu họ không muốn.
11
1.2. THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN GẮN
VỚI DU LỊCH
1.2.1 Cơ sở liên kết ngành
1.2.1.1 Quan hệ giữa lĩnh vực nông nghiệp với các lĩnh vực khác trong nền
kinh tế
Đúc kết từ các lý thuyết phát triển kinh tế và thực tiễn phát triển của các
nước, tiến sĩ Đinh Phi Hổ đã khái quát ra các vai trò của nông nghiệp trong một
nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nền kinh tế đang phát triển:
(1) Nông nghiệp kích thích tăng trưởng kinh tế. Điều này thể hiện qua các
mặt cụ thể như: a) cung cấp lương thực-thực phẩm; b) cung cấp nguyên liệu cho
các ngành công nghiệp; c) là nguồn thu ngoại tệ; d) nông nghiệp - nông thôn
phát triển đóng góp cho việc giảm nghèo.
(2) Nông nghiệp đóng góp vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế.

quan tới sự cách biệt về mặt địa lý, xã hội và chịu ảnh hưởng của các chính sách
phát triển.
Trong thực tế, không có một chỉ tiêu cụ thể nào có thể đánh giá được mức
độ liên kết của một nền kinh tế. Các nhà kinh tế chỉ dựa vào các dấu hiệu như:
mức độ chênh lệch thu nhập giữa các khu vực (khu vực truyền thống và khu
vực hiện đại), mức độ thu hút lực lượng lao động khu vực hiện đại (các ngành
công nghiệp được ưu tiên phát triển), khu vực nông thôn tiếp cận như thế nào
với sản phẩm của lĩnh vực hiện đại (“xét về kết cấu, ở một nền kinh tế liên
kết, các mối quan hệ cả phía cung và cầu đều phân bố đều về địa lý và xã
hội”), v…v… để xác định một nền kinh tế có rơi vào tình trạng phân cách hay
không và mức độ phân cách đó có nghiêm trọng hay không. Tình trạng phân
phối và sử dụng nguồn lực của quốc gia giữa các lĩnh vực, các nhóm lợi ích
13
(thành thị và nông thôn) cũng là yếu tố mà các nhà nghiên cứu kinh tế quan
tâm khi đề cập tới vấn đề phân cách trong một nền kinh tế (ví dụ: đầu tư cho
ngành có hiệu ứng liên kết mạnh hay ngành có hiệu ứng liên kết yếu). Tình
trạng này là mầm mống cho sự hình thành các dấu hiệu của hiện tượng phân
cách trong nền kinh tế.
1.2.1.3 Liên kết nông nghiệp- du lịch với sự phát triển nông nghiệp
và nông thôn
a) Liên kết ngành với tính bền vững của hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Thế nào là phát triển bền vững? Có nhiều tranh luận về các định nghĩa này
nhưng nhìn chung các định nghĩa đều hướng vào việc đảm bảo ba mục tiêu
chung mà phát triển bền vững cần phải đáp ứng và cân đối là: kinh tế, xã hội và
môi trường. Do đó, phát triển bền vững đòi hỏi phải: liên tục tăng sản phẩm trên
đầu người; thành quả tăng trưởng được san sẻ tương đối đồng đều và mọi tầng
lớp dân chúng đều có cơ hội bình đẳng như nhau; và môi trường thiên nhiên
(như một phương tiện để sinh sống và sản xuất) được duy trì thỏa đáng.
Đối với phát triển nông nghiệp bền vững thì tiêu chí có phần cụ thể hơn.

với người dân thành thị ngày càng rõ nét. Hoạt động thưởng thức các giá trị văn
hóa mới mẻ đối với những người khách quốc tế cũng là một nhu cầu có thực và
nông thôn chính là địa bàn lý tưởng.
Do vậy, kênh du lịch đáng là một kênh cần phải được quan tâm để thúc
đẩy sự phát triển đời sống kinh tế của người dân nông thôn trong bối cảnh kênh
công nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn. Làm được việc này chính là giải tỏa
được một nguy cơ của sự phát triển không bền vững bắt nguồn từ sự khó khăn
trong việc mưu sinh của người lao động nông thôn do thiếu việc làm.
15
- Du lịch bền vững với vấn đề bảo tồn hệ sinh thái nông nghiệp và đa dạng
sinh học.
Theo nhiều tác giả, chính sách bảo vệ môi trường tốt nhất là đi từ gốc bao
hàm các biện pháp phòng ngừa dài hạn, đòi hỏi phải hạn chế các phương pháp
canh tác dùng nhiều hóa chất và thúc đẩy sự hiểu biết về môi trường thông qua
thông tin tuyên truyền. Nhưng những biện pháp để thực thi chính sách như vậy
thật sự không thể nào áp dụng với người nông dân tại các nước đang phát triển
khi mà nghề nông vẫn là một nghề còn nhiều rủi ro và như đã nói, họ xem
nguồn tài nguyên thiên nhiên là nguồn an sinh của họ. Vấn đề kinh tế là vấn đề
quan tâm hàng đầu của những người nông dân nghèo, và kết hợp với du lịch là
giải pháp mong chờ của chúng ta.
- Liên kết ngành với sự phát triển nhận thức của người nông dân về phát
triển bền vững.
Sự nghèo đói ở các vùng nông thôn của Việt Nam không chỉ đơn thuần là
nghèo về thu nhập mà còn là nghèo về năng lực phát triển, phát triển nhận
thức. Sự liên hệ giữa trình độ học vấn với tình trạng nghèo khó và trình độ học
vấn có tác dụng càng cao khi người đó sống ở những vùng phát triển hơn. Do
vậy, đối với người dân nghèo nông thôn thì trình độ học vấn là một yếu điểm và
mức độ bức thiết của việc nâng cao học vấn so với việc tìm kế sinh nhai cũng
không ngang bằng với người dân thành thị. Vậy thì sự liên kết ngành có thể giúp
giải quyết thực trạng này như thế nào.

đóng góp vào các quyết định của chính cộng đồng của họ.
Đứng trên góc độ đó ta thấy việc phát triển du lịch liên kết với nông
17
nghiệp - nông thôn mà ở đó người dân nông thôn sẽ là người đứng ra cung cấp
dịch vụ sẽ hoàn toàn khác với việc các công ty phát triển du lịch xây dựng dự
án của họ và khi nó thành hiện thực thì diễn ra kết quả là sự di dời dân cư tại
nơi thực hiện dự án đi nơi khác.
Như vậy, việc phát triển du lịch liên kết với nông nghiệp - nông thôn mà
ở đó người dân là người trực tiếp cung cấp các dịch vụ (nhà trú chân gia đình,
làng nhà trú chân phân tán, cắm trại ở nông thôn, cung cấp nhu yếu phẩm, cung
cấp hàng thủ công làm quà lưu niệm…) chính là hành động làm phát huy sự
tham gia của cộng đồng địa phương làm tăng ý chí và khả năng đóng góp của
người dân vào các vấn đề môi trường của địa phương.
b) Marketing nông nghiệp và hoạt động tín dụng nông thôn trong môi trường
liên kết ngành
Hoạt động du lịch của du khách không chỉ đơn thuần là giải trí mà còn là
khám phá và thưởng thức hương vị văn hóa của địa phương nơi mà họ đặt chân
đến, trong đó có ẩm thực và đặc sản của mỗi vùng đất. Du lịch vườn, du lịch về
các vùng đặc sản đang là hình thức phát triển du lịch được phát triển tại nước
ta. Mặc dù nó diễn ra hoàn toàn tự phát và với quy mô còn hạn chế nhưng sẽ là
một kênh hữu ích để phát triển thông tin về nông sản của Việt Nam. Trên cơ sở
của mạng lưới marketing du lịch với những thế mạnh đặc thù của nó (chẳng
hạn như: mạng tiếp thị du lịch là mạng hướng tới đa đối tượng và sử dụng đa
phương tiện (nguồn của tư nhân và nguồn của địa phương); trong du lịch khách
hàng có hành vi chủ động hướng dịch vụ rất mạnh…), việc kết hợp để quảng bá
cho các mặt hàng nông sản của Việt Nam là một hướng đầy tiềm năng. Hơn
nữa, với những tiêu chuẩn của ngành du lịch về chất lượng sẽ kích thích sự phát
triển chất lượng nông sản nếu có sự kết hợp chặt chẽ trong tiêu thụ giữa hai
ngành (ví dụ phát triển rau, quả sạch cần hướng giải quyết này).
Đối với hoạt động tín dụng nông nghiệp, liên kết ngành cũng có những tác

thu hút nhiều lao động làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, góp phần tăng
nhanh thu nhập của nông dân. Điều này có thể thực hiện được là bởi vì chính
phủ Nhật đã quan tâm đến kết cấu hạ tầng, năng lượng và thông tin liên lạc trên
khắp lãnh thổ ngay từ đầu. Ngoài ra, chính phủ Nhật còn luôn kiên trì giữ giá
nông sản ổn định có lợi cho nông dân, ngay cả khi nông sản hàng hóa dư thừa.
1.2.2.2 Đài Loan khai thác hợp lý tiềm năng của khu vực nông thôn
Sự hợp lý ở đây thể hiện ở việc Đài Loan tiến hành chuyển tài nguyên ra
khỏi nông thôn nhưng vẫn đảm bảo được sự tái sản xuất mở rộng của nông
nghiệp. Thành công lớn của Đài Loan trong giai đoạn đầu của quá trình công
nghiệp hóa chính là không tạo ra áp lực việc làm đối với lĩnh vực công nghiệp
và liên tục tiến bộ trong nỗ lực tạo ra sự cân bằng trong thu nhập. Mặc dù phải
đối mặt với tình trạng thất nghiệp cao và lao động nông nghiệp chiếm phần lớn
trong lực lượng lao động nhưng trong giai đoạn đầu phát triển công nghiệp tại
Đài Loan đã không xảy ra hiện tượng lao động đổ xô ra thành thị. Không những
thế, dù bị điều tiết mạnh để phục vụ cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp
còn đóng góp lớn cho sự phát triển của công nghiệp thông qua sự phát triển của
các ngành chế biến nông sản xuất khẩu, vấn đề phân hóa giàu nghèo trong giai
đoạn này cũng được giải quyết. Và thị trường nông thôn Đài Loan trở thành nơi
tiêu thụ hàng hóa công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa (từ 1956 đến
1966, thị trường trong nước đóng góp 60% tăng trưởng của lĩnh vực công
nghiệp chế tạo).
Thành công của Đài Loan có được là nhờ chính sách không ngừng nâng
cao thu nhập của người dân nông thôn và tạo sự liên kết hay phối hợp hợp lý
giữa nông nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đầu của quá trình công
20
nghiệp hóa thông qua việc phi tập trung hóa công nghiệp, đưa công nghiệp về
phát triển tại nông thôn (giúp thực hiện thành công “ly nông bất ly hương”),
nhờ đó mà phát triển được thị trường trong nước làm cơ sở để phát triển tiềm
lực của quốc gia. Để làm được điều này, Đài Loan phải có được sự đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực tại nông thôn.

tăng thu nhập cho bản thân và cho gia đình tại khu vực họ sinh sống, cách giải
quyết mà họ cho là tốt nhất là di cư ra các khu đô thị với mong muốn có nhiều
cơ hội việc làm hơn.
Trong khi phải gánh chịu thiệt thòi, người dân nông thôn, nông nghiệp lại
là bộ phận cung cấp lợi thế so sánh cho nhiều mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu
của đất nước, đem về nhiều nguồn lợi to lớn. Và sự đóng góp này còn lớn hơn
nếu như có sự đầu tư đồng bộ cho sự cải thiện chất lượng sản phẩm, cải thiện và
phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu và phổ biến
kỹ thuật sản xuất cho người nông dân, áp dụng được những kỹ thuật - công nghệ
như các nước, trước hết là như các nước trong khu vực, và đầu tư phát triển hệ
thống phân phối. Một minh chứng rõ ràng đó là khả năng cạnh tranh của mặt
hàng gạo của nước ta vẫn còn thấp hơn so với của Thái Lan.
Năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các
nước, ngay cả so với các nước đang phát triển lân cận, cũng góp phần làm cho
cuộc sống của người dân nông nghiệp gặp khó khăn, luôn bấp bênh và thật khó
khăn để có thể cải thiện. Sản xuất nông nghiệp thì luôn bấp bênh, phải đối mặt
với sự không ổn định về giá cả đầu ra, người nông dân lại phải chịu sức ép của
việc giá đầu vào liên tục tăng. Nguyên nhân lại chính là thiếu nguồn đầu tư cho
phát triển các ngành công nghiệp phục vụ cho sự phát triển bền vững, ổn định
lĩnh vực nông nghiệp. Để giải quyết tình trạng này đòi hỏi chính phủ phải quan
22
tâm hơn nữa đến việc thu hút vốn đầu tư vào khu vực nông thôn, mà trước tiên
là phải có biện pháp tận dụng tốt nguồn vốn ODA để đầu tư phát triển hạ tầng
cơ sở cho các vùng nông thôn, các vùng nông nghiệp trọng điểm của đất nước.
1.2.3.2 Chênh lệch giàu nghèo gia tăng trong khi thời gian lao động chưa
được sử dụng ở nông thôn vẫn còn ở mức cao
Mặc dù đời sống của người dân Việt Nam nói chung được cải thiện nhưng
có một thực tế là khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng. Sự chênh lệch này có
nguyên nhân từ khả năng thụ hưởng thành quả của sự tăng trưởng kinh tế giữa
các nhóm dân cư là khác nhau và cũng chính là sự khác nhau giữa khu vực nông

biệt cơ bản giữa thành thị và nông thôn ở cơ sở hạ tầng giáo dục và y tế mà
trong đó nông thôn chịu phần thiệt thòi nên khả năng vươn lên của người dân
nông thôn kém hơn. Thực trạng này cộng với tình trạng phát triển doanh nghiệp
để thu hút lao động ở nông thôn còn hạn chế đã và đang làm cho người dân
nông thôn, chiếm phần đông dân số thất thế và hưởng lợi kém hơn trong khi nền
kinh tế đang tăng trưởng. Về phương diện nguồn nguyên liệu đầu vào cho phát
triển, do thiếu đầu tư cho cơ sở hạ tầng, quy hoạch và công tác nghiên cứu phát
triển nên giá cả của nguyên liệu và chất lượng cũng như khả năng đa dạng hóa
sản phẩm từ nguồn nguyên liệu nông nghiệp vẫn còn nhiều bất ổn và yếu kém
so với các nước, chưa tận dụng được hết lợi thế của đất nước.
- Thứ hai là sự thiếu liên kết giữa công nghiệp và nông nghiệp. Các ngành
công nghiệp phục vụ cho phát triển nông nghiệp chưa thật phát triển, cụ thể là
công nghiệp hóa chất, công nghiệp chế biến còn nhiều yếu kém, là nguyên
nhân của tình trạng xuất thô hàng nông sản còn nhiều và phụ thuộc lớn vào
nguồn cung phân bón từ bên ngoài. Ngoài ra, các ngành công nghiệp chế biến
24
lại tập trung ở đô thị, và phần lớn là sản xuất hàng hóa tiêu dùng với nguyên
phụ liệu phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung từ nước ngoài.
CHƯƠNG 2 : GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN TỈNH
AN GIANG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA AN GIANG:
Nguồn: Trung tâm kỹ thuật Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh An Giang, 2010
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
An Giang là tỉnh nằm phía Tây Nam của Việt Nam, là vùng đất đầu
nguồn sông Cửu Long. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Đông Nam giáp TP
Cần Thơ, phía Tây giáp Kiên Giang và Tây Bắc giáp Campuchia. Diện tích tự
25
nhiên: 3.537 km²; dân số 2,14 triệu người, trong đó dân thành thị chiếm 29%
và nông thôn chiếm 61%; mật độ dân số 600 người/km2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status