Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dịch vụ trên địa bàn Quận 3Tp. Hồ Chí Minh - Pdf 24

1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
LÊ CAO ĐẠT
2
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS. Nguyễn Ngọc Thùy-
người thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian
thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến với quý thầy cô
đã tham gia giảng dạy các môn học trong chương trình đào tạo Thạc sỹ kinh tế
tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các chuyên gia chuyên ngành đã đóng góp ý
kiến, tạo điều kiện giúp đỡ và hỗ trợ tôi hoàn thành đề tài này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ động viên của tất cả
những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt quá trình theo
học và hoàn thành luận văn của bản thân.
Trân trọng!
3
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
DNN Doanh nghiệp nhỏ
DNSN Doanh nghiệp siêu nhỏ
DNV Doanh nghiệp vừa
GDP Tổng sản phẩm nội địa
KHKT Khoa học kỹ thuật
NĐ-CP Nghị định- Chính Phủ

3.2 KMO và Bartlett ‘s của biến độc lập 58
3.3 Xoay ma trận nhân tố sau lần xoay thứ 3 58
3.4 Mô hình tóm tắt 66
3.5 ANOVA (b) 66
3.6 Bảng hệ số 67
3.7 Một số hình thức liên kết, liên minh chiến lược trong kinh
doanh khách sạn
74
5
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số hiệu hình vẽ Tên hình vẽ Trang
2.1 Quy trình nghiên cứu 31
2.2 Mô hình nghiên cứu 42
3.1 Số lượng khách sạn trên địa bàn Quận 43
3.2 Hình thức sở hữu khách sạn 43
3.3 Các nguồn khách lưu trú năm 2011 45
3.4 Mục đích lưu trú 46
3.5 Các kênh đặt phòng 46
3.6 Tỷ lệ doanh thu của khách sạn 47
3.7 Tỷ lệ các chi phí và lợi nhuận trên doanh thu 48
6
MỞ ĐẦU
Kể từ khi đất nước ta thực hiện chính sách mở cửa, chuyển nền kinh tế từ chế
độ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, để
duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh buộc các doanh nghiệp phải phát
huy triệt để mọi tiềm lực, mọi thế mạnh sẵn có của mình nhằm tạo lợi thế bằng hoặc
hơn các doanh nghiệp khác, đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững trong cạnh
tranh, đặc biệt là các doanh nghiệp trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thương mại.
Muốn thực hiện được mục tiêu này yêu cầu khách quan đối với mỗi doanh nghiệp là
không ngừng tiến hành các hạt động đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của mình,

nghiệp.
Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu tình hình kinh doanh của các khách sạn ở Quận 3 trong thời gian
qua.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của các khách sạn trên địa bàn
Quận 3.
- Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, tạo
điều kiện phát triển bền vững cho các khách sạn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được khảo sát trong đề tài là các doanh nghiệp kinh doanh khách
sạn trên địa bàn Quận 3, TPHCM. Qua những đối tượng khảo sát ta tiến hành tìm
hiểu, phân những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
kinh doanh khách sạn trên địa bàn Quận 3. Và đây chính là đối tượng nghiên cứu
mà đề tài hướng tới.
Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện tại Quận 3, TPHCM
Phạm vi thời gian
Thu thập số liệu về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp khách sạn ở
Quận 3 trong năm 2011.
8
Đề tài thực hiện từ tháng 01/2012 đến 05/2012.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp quản lý khách sạn và quản lý các bộ phận
nghiệp vụ của khách sạn
Số liệu thứ cấp: Điều tra, khảo sát, sử dụng nguồn số liệu nội bộ của các
doanh nghiệp
Phương pháp xử lý số liệu: dùng các phần mềm như SPSS 16.0, Excel,…để
nhập và xử lý số liệu

Ở Việt Nam, đề cập đến “cạnh tranh” một số nhà khoa học cho rằng cạnh
tranh là vấn đề dành lợi thế về giá cả hàng hóa-dịch vụ và đó là phương thức để
dành lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế. Nói khác đi là dành lợi thế để hạ
thấp các yếu tố “đầu vào” của chu trình sản xuất kinh doanh và nâng cao giá của
“đầu ra” sao cho mức chi phí thấp nhất. Như vậy, trên quy mô toàn xã hội, cạnh
tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó trở thành
động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, đồng thời với tối đa
hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng là quá trình tích lũy và
tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp. Và từ đó cạnh tranh còn là
môi trường phát triển mạnh mẽ cho các chủ thể kinh doanh thích nghi được với điều
kiện thị trường.
10
Năng lực cạnh tranh thường được hiểu như là khả năng mà mỗi quốc gia,
mỗi ngành và DN tận dụng các ưu thế có được để duy trì và phát huy ảnh hưởng
của mình trước các đối thủ khác. Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã có từ
lâu và lý thuyết về cạnh tranh cũng xuất hiện từ rất sớm với các trường phái nổi
tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển, và lý thuyết
cạnh tranh hiện đại.
Lý thuyết cạnh tranh cổ điển
Đại biểu xuất sắc của lý thuyết cạnh tranh cổ điển là các nhà kinh tế học cổ
điển như: Adam Smith (1723-1790), John Stuart Mill (1806-1873), C.Mác,
Ph.Ănghen.
Adam Smith cho rằng, nguồn gốc của quá trình thương mại giữa hai hay nhiều
quốc gia là do quốc gia đó có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về một ngành nào đó so
với quốc gia khác. Lợi thế cạnh tranh có được tính bằng thời gian hao phí lao động
cần thiết để sản xuất ra sản phẩm nào đó ngắn hơn so với các quốc gia khác.
David Ricardo (1772-1823) quan niệm rằng, các quốc gia không có lợi thế
cạnh tranh tuyệt đối vẫn có thể có lợi thế tương đối và việc mua bán trao đổi giữa
hai quốc gia vẫn có thể thực hiện được nhờ vào lợi thế cạnh tranh này. Lợi thế cạnh
tranh tương đối được tính bằng tỷ lệ (k) về tiêu hao nguồn lực để sản xuất ra sản

tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các tổ chức kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn
trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của
mình. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến tranh giành, khống chế lẫn
nhau. Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì môi
trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, xử lý cạnh tranh
không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh.
Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang
cạnh tranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải khi nào cũng đồng nghĩa với
việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau.
Trên thực tế, các thủ pháp cạnh tranh hiện đại không phải chủ yếu là tiêu diệt
lẫn nhau, mà trên cơ sở cạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã, giá cả và các dịch vụ
12
hỗ trợ.
Lý thuyết cạnh tranh hiện đại nổi bật nhất thuộc về Michale E.Porter với mô
hình viên kim cương, đó là:
Thứ nhất, sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành: trước hết đây là
những đối tượng quyết định tính chất và mức độ tranh đua nhằm đạt lấy lợi thế
trong ngành mà mục đích cuối cùng là giữ vững và phát triển thị phần hiện có, đảm
bảo có thể có được mức lợi nhuận cao nhất. Sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại
có xu hướng làm tăng cường độ canh tranh và giảm mức lợi nhuận của ngành. Trên
thực tế, các đối thủ khi cạnh tranh với nhau thường sử dụng công cụ cạnh tranh tổng
hợp trên cơ sở cạnh tranh về giá với các hình thức và công cụ cạnh tranh khác như:
chất lượng sản phẩm cùng với áp dụng sự khác biệt về sản phẩm, marketing,…Để
có thể bảo vệ khả năng cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp cần phải thu thập
đầy đủ các thông tin cần thiết về các đối thủ cạnh tranh có sức mạnh trên thị trường
và tình trạng ngành để làm cơ sở hoạch định chiến lược.
Thứ hai, nguy cơ đe dọa nhập ngành từ các đối thủ tiềm ẩn. Hiểu biết đối thủ
cạnh tranh tiềm ẩn luôn có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp vì sự xuất
hiện của các đối thủ mới, đặc biệt khi các đối thủ này có khả năng mở rộng sản xuất
và chiếm lĩnh thị phần, sẽ làm cạnh tranh trở nên khóc liệt và không ổn định. Để

sản phẩm.
Qua đây có thể nói, NLCT là một quá trình, có tính đa nghĩa (có nhiều cách
định nghĩa khác nhau), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (có nhiều cấp độ
khác nhau), phụ thuộc, có tính tương hỗ, có tính động. Do đó, nghiên cứu về NLCT
cần phải gắn liền với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển của từng thời kỳ và
nó phải thể hiện khả năng tranh đua, tranh giành của các doanh nghiệp không chỉ về
năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả
khả năng sinh tồn sản phẩm, khả năng tạo sản phẩm mới.
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, theo tác giả “Năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ
sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố
14
sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. Đó là việc khai thác sử dụng
thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp
dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và
cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.”
Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn giản nhất mà mang
tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm
doanh nghiệp và từng doanh nghiệp.
1.1.2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trước
Có nhiều nghiên cứu trong nước về các yếu tố cấu thành NLCT của các doanh
nghiệp kinh doanh mà tác giả có điều kiện tiếp cận
Các nghiên cứu ngoài nước
Các nghiên cứu ngoài nước rất phong phú và đa dạng, từ việc đo lường nhận
dạng năng lực cạnh tranh, cho đến việc xây dựng bộ chỉ số năng lực cạnh tranh và
đề xuất mô hình năng lực cạnh tranh.
Chaiprasit và Sasiprapa (2007) nghiên cứu tác động chiến lược công ty đến
mức toàn cầu hóa và phát triển công nghệ của các công ty Thái Lan. Tổng hợp các
nghiên cứu trước Chaiprasit và Sasiprapa cho rằng chiến lược của công ty trong
toàn cầu hóa gồm ba thành phần: (1) Định hướng chiến lược: hướng để đạt được

cho các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM trong quá trình hội nhập” đề cập
những vấn đề chung về thương hiệu, kinh nghiệm xây dựng và phát triển thương
hiệu của một số doanh nghiệp, thực trạng xây dựng và phát triển thương hiệu của
các DN ngành chế biến thực phẩm để đưa ra các giải pháp và chính sách phát triển
thương hiệu cho DN ngành chế biến thực phẩm trong điều kiện hội nhập. Ngoài
nghiên cứu trên, nhóm tác giả trên cũng đã thực hiện nghiên cứu “Giải pháp tăng
cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp điện tử trên đia bàn TPHCM
trong quá trình hội nhập” (2007). Nghiên cứu này đi sâu và cụ thể vào lý thuyết và
thực tiễn về cạnh tranh, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp điện-điện tử TP.HCM, trong đó có so sánh với các nước trong khu
vực và đề xuất giải pháp vi mô và vĩ mô để nâng cao khả năng cạnh tranh của
16
doanh nghiệp điện- điện tử TPHCM.
Các nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài như
Giải pháp nâng cao NLCT của các ngân hàng thương mại cổ phần trên đọa
bàn TP.HCM của Lê Hùng và cộng sự (2004) thuộc Viện nghiên cứu phát triển
TP.HCM.
Doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn TP.HCM- hiện trạng và giả pháp phát
triển của Đinh Sơn Hùng và Lê Vinh Danh (2004) thuộc Viện nghiên cứu và phát
triển TP.HCM
1.2. Thực tiễn về NLCT của khách sạn
1.2.1. Đánh giá về năng lực cạnh
tranh
của các khách sạn trên địa bàn
TPHCM
Những lợi thế cơ bản của ngành
Có thể nói ngành kinh doanh khách sạn ở TPHCM đã phát triển mạnh mẽ
trong vòng hai chục năm gần đây do các chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước
ngoài của nhà nước trong lĩnh vực này. Bênh cạnh đó, hệ thống pháp lý quản lý
nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh lưu trú ngày càng hoàn thiện, khuyến khích

thông qua việc học tập kinh nghiệm của các quốc gia đi trước trong vấn đề dự
báo cũng như quy hoạch xây dựng khách sạn. Sự đa dạng trong các loại hình
kinh doanh lưu trú được xây dựng theo các chủ để văn hóa và tài nguyên
nhân văn khác nhau (mà thường chỉ các doanh nghiệp khách sạn mới hiểu và
truyền tải được hết các giá trị văn hóa bản địa vào phong cách kiến trúc và bài
trí ) sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các khách sạn ở các nơi khác trên đất
nước. Hơn nữa, năng lực cạnh tranh của các khách sạn TPHCM đã tăng đáng
kể do các khách sạn đang ngày càng có xu hướng quan tâm hơn tới việc
nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hóa loại hình dịch vụ của cơ sở, tăng
cường quảng bá thu hút khách với nhiều chính sách khuyến mại.
Những hạn chế chủ yếu
Dễ thấy rằng ngành Du lịch nói chung và ngành kinh doanh khách sạn ở
TPHCM mới ở giai đoạn đầu của phát triển so với khu vực và thế giới. Hệ thống
cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế, số lượng lớn các khách sạn xây trước 1999 là
thuộc hệ thống khách sạn và công đoàn, năng lực đón tiếp khách quốc tế hạn chế và
hầu như không có khả năng cạnh tranh. Hệ thống cơ sở kinh doanh lưu trú hầu hết
là quy mô nhỏ (dưới 30 buồng), chiếm tới 70% số lượng cơ sở kinh doanh lưu trú,
diện tích hạn chế và dịch vụ đơn điệu nhằm phục vụ nhu cầu đi lại của khách nội
địa là chính.
Hầu hết các khách sạn TPHCM có khả năng cạnh tranh với các khách sạn
quốc tế đều
mớ
i
xây
dựng gần đây nên kinh nghiệm quản lý chuyên nghiệp còn
hạn chế, đặc biệt ban giám đốc điều hành thiếu kinh nghiệm quản lý quốc tế nên
phần nào hạn chế khả năng cạnh tranh với các chuỗi khách sạn lớn trên thế
giới. Các giám đốc điều hành các khách sạn Việt Nam do thiếu kinh nghiệm
quản lý quốc tế cũng như thiếu thông tin dự báo về những thay đổi trong môi
trường du lịch quốc tế

ành
mạnh và môi trường cảnh quan du lịch bị xâm
phạm. Vì thiếu hướng dẫn quy hoạch và hiệu lực quản lý của Nhà nước nên nhiều
doanh nghiệp và nhà đầu tư (do thiếu chuyên môn nghiệp vụ du lịch) đầu t
ư

các
dự án khách sạn lớn nhưng khi đưa vào hoạt động kinh doanh, cơ sở lưu trú du
lịch không đảm bảo tiêu chuẩn, dây chuyền hoạt động.
19
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng NLCT của doanh nghiệp
NLCT của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so
với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để
thu lợi nhuận ngày càng cao hơn. Như vậy, NLCT của doanh nghiệp trước hết phải
được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là yếu tố nội hàm của doanh nghiệp,
các yếu tố này phải thể hiện được bản chất của NLCT doanh nghiệp, thể hiện được
mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong việc chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ
sản phẩm đầu ra, thu hút yếu tố đầu vào. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị
trường hiện đại, NLCT cần đảm bảo tính bền vững, tức là phải tính đến cả mức độ
sử dụng các điều kiện để duy trì và nâng cao NLCT của doanh nghiệp cả trong ngắn
hạn và dài hạn. Ngoài ra, môi trường vĩ mô từ bên ngoài cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến NLCT của khách sạn. Như vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh
nghiệp bao gồm: mức độ đáp ứng thị trường; Mức độ điều chỉnh cơ cấu tổ chức
theo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp; Xây dựng hệ thống thang đo thành tích và
tưởng thưởng tường minh; Xây dựng văn hóa học tập liên tục; Ứng dụng công
nghệ; Xây dựng thương hiệu; Huy động vốn; Môi trường kinh tế; Môi trường chính
trị, pháp luật; Môi trường tự nhiên; Môi trường xã hội; Môi trường công nghệ.
Mức độ đáp ứng thị trường
Doanh nghiệp tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh
tế như thương mại, dịch vụ, công nghiệp,…và hoạt động dưới mọi hình thức như

những yếu tố này không nhằm để doanh nghiệp điều khiển nó theo ý kiến của mình
mà tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của mình
(Chaiprasit và Sasiprapa, 2007).
Mức độ điều chỉnh cơ cấu tổ chức theo lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp
Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm và
quyền hạn rõ ràng thì mọi hoạt động sẽ trôi chảy, có năng suất. Ngược lại, một cơ
cấu chồng chéo, quyền lực không được phân chia thì hiệu quả hoạt động sẽ kém. Cơ
cấu tổ chức không phả là bộ khung cứng nhắc, nó cũng phải thay đổi tùy thuộc vào
21
môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp trong từng thời kỳ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp có ý nghĩa đến sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp nói chung và NLCT của doanh nghiệp nói riêng. Năng lực tổ
chức quản lý của doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lực của ban quản trị và quản lý
gọi chung là ban lãnh đạo doanh nghiệp. Ban lãnh đạo có vai trò nắm toàn bộ nguồn
lực của tổ chức, vạch ra phương hướng, chiến lược, chính sách, kế hoạch hoạt động
của từng thời kỳ; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá các hoạt động của từng
phòng ban, khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm để nâng cao vị thế doanh
nghiệp. Muốn vậy, doanh nghiệp phải:
Khuyến khích sự phối hợp giữa các phòng, ban trong doanh nghiệp để khai
thác tối đa sức mạnh doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, tổ chức bộ máy quản lý
và phân định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, cá nhân và việc thuyết phục
các mối quan hệ giữa các bộ phận phòng, ban. Sự liên kết hỗ trợ cùng thực hiện
nhiệm vụ chuyên môn giữa các phòng, ban trong doanh nghiệp có ý nghĩa quan
trọng, không chỉ đảm bảo ra quyết định nhanh chóng, chính xác, phục vụ khách
hàng tối ưu mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý của doanh nghiệp (Nonaka
và Takeuchi, 1995). Nhờ đó, NLCT của doanh nghiệp được nâng cao.
Huấn luyện nhân viên về sự phối hợp theo vai trò mới được giao nhằm giúp
nhân viên hiểu mục tiêu của công ty. Lãnh đạo nhân viên phải thường xuyên tiến

theo dõi số tiền đầu tư thì doanh nghiệp phải theo dõi mức sinh lợi hiện tại và tương
lai của một khách hàng để biết được mức sinh lợi có tương xứng với mức tiền đầu
tư bỏ ra. Mức sinh lợi càng nhiều thể hiện NLCT của doanh nghiệp càng cao. Đo
lường thu nhập kỳ vọng của khách hàng và khả năng sinh lợi của khách hàng đóng
vai trò uqn trọng trong xây dựng NLCT, tạo ra lợi thế tiên phong cho doanh nghiệp
trong cạnh tranh.
Áp dụng cách tính thù lao nhân viên dựa trên mức độ khai thác và chăm sóc
khách hàng: là một yếu tố quan trọng nâng cao NLCT của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp áp dụng cách tính thù lao nhân viên dựa trên mức độ khai thác và chăm sóc
23
khách hàng tốt, vừa góp phần tăng thu nhập cho nhân viên vừa góp phân gia tăng
thị phần, nâng cao NLCT cho doanh nghiệp (Man và Lau, 2000).
Xây dựng văn hóa học tập liên tục
Lao động là nguồn lực quý nhất tại doanh nghiệp, vừa là các yếu tố đầu vào,
vừa là lực lượng trực tiếp sử dụng các phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm
hàng hóa và dịch vụ. Lao động còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quy trình sản xuất và góp sức vào những sáng kiến, phát
minh, sáng chế,…Do vậy, trình độ lực lượng lao động tác động rất lớn đến chất
lượng sản phẩm, ảnh hưởng đến năng suất và chi phí của sản phẩm. Để nâng cao
sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng đến nâng cao tay nghề người lao động,
đảm bảo về số lượng và chất lượng lao động dưới nhiều hình thức, khuyến khích
người lao động không ngừng học tập, tích cực trong quá trình sáng chế và cải tiến
sản phẩm.
Về chất lượng lao động, theo đánh giá của doanh nghiệp tuyển dụng lao động
thì chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề hiện nay còn rất thấp do thiếu cơ
sở vật chất kỹ thuật, thiếu giáo viên có t
ay

nghề
và đặc biệt là chương trình đào tạo

quốc tế, có trách nhiệm cao đối với các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước, ra
quyết định nhất quán và kiên định; có phong cách lãnh đạo dân chủ nhưng quyết
đoán, mềm dẻo nhưng linh hoạt, có khả năng sáng tạo, phải coi trọng nhân tố con
người, biết sử dụng và đánh giá con người, không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ
về mọi mặt, nhạy cảm về văn hóa của các dân tộc, liên kết chặt chẽ với mạng lưới
hoạt động của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Ứng dụng công nghệ
Trong thời buổi khoa học công nghệ và kxy thuật phát triển với tốc độ chóng
mặt như hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng ít nhiều đến sự
phát triển này. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, yếu tố khoa học công nghệ và
kỹ thuật có vai trò rất quan trọng, nó giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh mang
tính khoa học và ngày càng có hiệu quả hơn. Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
nếu có được những công cụ sản xuất hiện đại sẽ gia tăng năng suất, cải thiện chất
25
lượng sản phẩm, giảm giá cả nhưng chất lượng sản phẩm vẫn cao. Những điều đó
ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của một doanh nghiệp.
TPHCM là trung tâm khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của vùng
và cả nước trong quá trình hiện đại hóa. TPHCM tiếp nhận rất kịp thời những thay
đổi vượt bậc về công nghệ thông tin trên thế giới. Các doanh nghiệp ngày nay đã có
thể được toàn cầu biết đến thông qua hệ thống mạng lưới internet. Sự thay đổi này
ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, khách sạn…tạo
điều kiện quảng bá và thu hút thêm nhiều du khách đến TPHCM
Xây dựng thương hiệu
Đây là yếu tố tổng hợp của các yếu tố cầu thành NLCT của các doanh nghiệp.
Thương hiệu của doanh nghiệp được hình thành không phải trong một chốc lát mà
là cả một quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trì, theo đuổi mục tiêu chiến lược đúng
đắn của mình. Thương hiệu của doanh nghiệp trước hết được xây nên bằng con
đường chất lượng sản phẩm, chất lượng của cả hệ thống quản lý của doanh nghiệp,
sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội,
các dịch vụ đi kèm trước và sau khi bán sản phẩm,…(Porter, 1980). Để khách hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status