SKKN kinh nghiệm ngữ văn thpt đặt câu hỏi nêu vấn đề trong phân tích tác phẩm văn học - Pdf 24

( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
I. Lý do chọn đề tài 2
II. Mục đich nghiên cứu 2
III. Phương pháp nghiên cứu 3
IV. Giới hạn đề tài và những luận điểm bảo vệ 3
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4
I. Cơ sở lí luận 4
II. Cơ sở thực tiễn 4
III. Giải pháp và tổ chức thưc hiện 5
1. Đặt câu hỏi theo dạng: Vì sao không A mà B 6
2. Đặt câu hỏi theo dạng thức lựa chọn: A hay B 8
3. Đặt câu hỏi theo dạng thức so sánh các tư liệu có liên quan
hay kiến thức thực tế với tác phẩm văn học 9
4. Đặt câu hỏi theo dạng thức giả định 10
IV. Tổ chức thực hiện một giờ giảng cụ thể 12
V. Kiểm nghiệm 17
C. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I - LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vận dụng kiểu dạy học nêu vấn đề trong phân tích tác phẩm văn học
ở bậc THPT đã được thực hiện từ khá lâu. Thế nhưng không phải tiết dạy
nào cũng thành công bởi cái khó nhất là làm thế nào nêu lên tình huống có
vấn đề nhằm đưa học sinh (đối tượng trung tâm) vào quá trình tư duy. Một
bài văn, một tác phẩm văn chương, một số phận nhân vật chỉ trở thành đối
tượng suy tư của mỗi người khi chính người đó nhận ra trong đó có một

+ Giáo viên: Giáo án với những câu hỏi gợi ý dẫn dắt vào tình huống có
vấn đề.
+ Học sinh: Phải có một số yêu cầu (tri thức, kinh nghiệm. kĩ năng ).
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I- CƠ SỞ LÍ LUẬN
Phương pháp đặt câu hỏi nêu vấn đề trong phân tích tác phẩm văn
học đã được ra đời từ thế kỉ XIX ở phương Tây - khi chủ nghĩa tư bản phát
triển. Lúc đó, khoa học kĩ thuật và công nghệ tạo ra những bộ mặt mới về
đời sống xã hội trong xã hội tư bản. Các nước đó đòi hỏi giáo dục phải tạo
ra những học sinh có phẩm chất: thông minh, sáng tạo, năng động, tự
chủ để đủ sức thực hiện nhiệm vụ của nền kinh tế xã hội. Nó phê phán
mạnh mẽ nền giáo dục phong kiến chỉ tạo ra những con người chỉ biết
thừa hành, bắt chước, phục tùng mà không thích ứng được với xã hội
mới.
Câu hỏi nêu tình hướng có vấn đề đã được trình bày trong “Phương
pháp dạy học văn” của Giáo sư Phan Trọng Luận như một phương pháp
dạy học có hiệu quả. Đây cũng là nội dung cơ bản trong “Tài liệu bồi
dưỡng thường xuyên” chu kì 1997 - 2000. Phương pháp này cũng được
trình bày trong bài viết “Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng văn
THCS” của PGS- TS Vũ Song Nho Tuy nhiên ở những tài liệu này chưa
cung cấp cho giáo viên phương pháp đặt câu hỏi nêu vấn đề, bởi người
viết tài liệu cũng khẳng định vai trò tự học, tự bồi dưỡng, tự khám phá của
giáo viên trong quá trình dạy học.
II - CƠ SỞ THỰC TIỄN
Qua tìm hiểu thực tế giảng dạy ở nhà trường, tôi thấy rằng, cách đặt
câu hỏi trong giờ dạy tác phẩm văn chương vẫn còn tồn tại những hạn
chế. Giáo viên quá ham kiến thức nên không còn thời gian đặt câu hỏi,
hoặc nếu có thì lượng câu hỏi đưa ra ít ỏi không tương ứng với phần

cái tên Chị Dậu mà đặt tên cho tác phẩm “Tắt đèn”. Em thấy ý kiến đó như
thế nào?
Dạng câu hỏi tái hiện: - Ý nghĩa tố cáo của truyện ngắn “Chí Phèo”
của Nam Cao?
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
Dạng câu hỏi nêu vấn đề: - Tại sao ở lần in sau, Nam Cao không
chấp nhận cái tên “Đôi lứa xứng đôi” do nhà xuất bản Đời Mới - Hà Nội
1941 đặt cho, mà lại đặt là “Chí Phèo” ? Hai tên truyện phản ánh hai quan
niệm khác nhau của người đặt tên truyện như thế nào?
Những câu hỏi nêu vấn đề trên đây tuy chưa thể bao hàm đầy đủ
những đặc điểm cơ bản của câu hỏi nêu vấn đề, song chúng ta có thể thấy
được bản chất của câu hỏi nêu vấn đề như sau:
Câu hỏi nêu vấn đề thường có tính chất phức tạp về nội dung. Nó
chứa những băn khoăn, thắc mắc, những mâu thuẫn, những bế tắc mà
học sinh gặp phải trên con đường nhận thức. Nếu muốn nhận thức tiếp
phải giải quyết vấn đề đó.
Theo tôi, có thể dựa vào những tình huống có vấn đề đã học trong
các tài liêu giảng dạy về phương pháp dạy học văn để đặt ra câu hỏi nêu
vấn đề với các dạng thức sau đây:
1 - Đặt câu hỏi theo dạng: Vì sao không A mà B (Tình huống bất ngờ)
Khi phát hiện được một tín hiệu nội dung hay một tín hiệu nghệ thuật
nào đó trong tác phẩm có tính chất kì lạ, bất bình thường, ta vận dụng
dạng thức trên để khơi gợi sự khám phá sáng tạo của học sinh.
Ví dụ 1: - Tại sao chàng trai trong bài ca dao “Tát nước đầu đình”
không nói là để quên chiếc áo trên những cành cây khác mà lại nói là “để
quên chiếc áo trên cành hoa sen”? Cách nói này thể hiện chàng trai là
người như thế nào?
Giáo viên có thể giải đáp câu hỏi này theo gợi ý sau: Mọi người đều
biết rằng, cây sen không có cành và hoa sen cũng vậy. Hoa sen chỉ có một

Vì dung lượng bài viết có hạn, sau đây tôi chỉ nêu câu hỏi với những
dạng thức trên chứ không đưa ra hướng giải đáp. Bởi vì, lời giải đáp
không chỉ duy nhất đúng. Các em có thể trả lời theo cảm nhận riêng của
mình, miễn sao sáng tỏ được vấn đề.
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
- Tại sao chàng trai trong bài ca dao “Hôm qua tát nước đầu đình”
không nói là “áo anh bị rách đường tà” mà lại nói “áo anh sứt chỉ đường tà”
? Dấu hiệu đó có ý nghĩa gì?
- Vì sao nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong bài “Tự Tình” không lựa chọn
thời gian nghệ thuật để bộc lộ cảm xúc vào buổi sáng, buổi trưa hay lúc
“bóng xế tà” mà lại chọn thời điểm “đêm khuya” ?
- Vì sao nhà văn Nam Cao không mở đầu tác phẩm của mình bằng
sự kiện Chí Phèo ra đời ở cái lò gạch bỏ hoang mà lại bắt đầu truyện ở
thời điểm hiện tại, khi Chí Phèo đã bị tha hóa? Cách mở đầu truyện như
thế có ý nghĩa gì?
2- Đặt câu hỏi theo dạng thức lựa chọn: A hay B (Tình huống lựa
chọn)
Tình huống lựa chọn là tình huống xuất hiện khi có nhiều ý kiến khác
nhau về một vấn đề buộc ta phải lựa chọn cách giải quyết hợp lí nhất, tối
ưu nhất.
Ví dụ 1: Khi giảng bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử (Ngữ Văn
11), giáo viên có thể hỏi: - Có người cho rằng đây là bài thơ miêu tả vẻ đẹp
thiên nhiên thôn Vĩ? Có người cho rằng bài thơ là tình yêu thầm kín giữa
Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc? Có người lại cho rằng thôn Vĩ chỉ là cái cớ để
nhà thơ bộc lộ tâm trạng của mình? Em tán thành ý kiến nào? Vì sao?
Câu hỏi này đặt ra khi phân tích khổ cuối của bài thơ. Để giúp học
sinh giải quyết được câu hỏi trên, giáo viên có thể gợi mở giúp học sinh
thấy được tín hiêu quan trọng nhất của bài thơ nằm ở hai chữ “ở đây”
trong câu thơ “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”. Từ tín hiệu đó, tìm ra hệ

tác phẩm khác nhau.
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
Ví dụ 1: Khi phân tích “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh, giáo
viên có thể hỏi: - Có thể lấy câu “Thay trời hành hóa, hoàng thượng truyền
rằng” trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi để thay cho lời mở đầu
“Hỡi đồng bào cả nước” trong bản “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh
có được không? Vì sao?
Ví dụ 2: - Để sống được, đường cùng người ta phải bán tất cả để có
cái ăn. Thậm chí phải ăn xin, tha phương cầu thực. Tại sao lão Hạc không
chọn cách ấy mà lại tự tử?
Ví dụ 3: - Sự xuất hiện của Xuân tóc đỏ cùng sáu chiếc xe trong
đám tang của cụ cố tổ giống và khác nhau như thế nào với sự xuất hiện
hai chiếc xe trống rỗng trong đám tang lão Gôrio (Tiểu thuyết “Lão Gôrio”
của Ban Dắc và tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng).
Ví dụ 4: Khi phân tích truyện ngắn “Chí Phèo”, giáo viên có thể đặt
những câu hỏi như sau:
- Các nhân vật thuộc giai cấp nông dân của Nam Cao trước Cách
mạng Tháng Tám 1945 đều có kết cục hết sức bi thảm (tự tử). Hãy so
sánh cách tự tử của lão Hạc giống và khác nhau như thế nào với cách tự
tử của nhân vật Chí Phèo?
- Em hãy so sánh hình tượng nhân vật Chí Phèo với hình tượng
nhân vật chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố (Ngữ Văn lớp 9
- Tập 2), từ đó chỉ ra những phát hiện độc đáo của Nam Cao khi miêu tả
hình tượng người nông dân trước Cách mạng Tháng Tám.
Khi đặt câu hỏi dạng này, giáo viên phải liên tưởng đến những tác
phẩm khác hoặc liên tưởng đến thực tế đời thường để đối sánh với hình
tượng văn học nhằm nêu bật lên những nét đẹp về nội dung và nghệ thuật
cũng như dụng ý mà tác giả muốn gửi đến chúng ta.
4 - Đặt câu hỏi theo dạng thức giả định (Tình huống giả định).

thể đặt câu hỏi: - Tại sao nhà văn Kim Lân không đặt nhan đề tác
phẩm này là “Nhặt vợ” mà lại đặt là “Vợ nhặt”? Cách đặt nhan đề đó
có ý nghĩa gì?
Giáo viên gợi ý: Nếu đặt nhan đề tác phẩm là “Nhặt vợ” có nghĩa là
anh cu Tràng - đang ế vợ - là người chủ động lợi dụng lúc miếng ăn bằng
cả sinh mệnh con người mà lấy được vợ một cách dễ dàng và như thế thì
sự khinh thường người “vợ nhặt” đó không những có ngay trong lòng anh
cu Tràng mà còn có ở bản thân người đọc khi bắt đầu đọc truyện. Nhan đề
“Vợ nhặt” vừa có ý nghĩa hiện thực vừa có ý nghĩa nhân đạo rất lớn. Chữ
nhặt trong “Vợ nhặt” không phải là danh từ như chúng ta có thể lầm
tưởng nếu chỉ đọc nhan đề mà chưa tiếp cận với nội dung tác phẩm. Đây
là một kết hợp từ rất đặc biệt. Nói như Kim Lân “Nhặt tức là nhặt nhạnh,
nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945 người lao động dường như khó ai
thoát khỏi cái chết. Bóng tối của nó phủ xuống mọi xóm làng. Trong hoàn
cảnh ấy, giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ
theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ - đúng là nhặt được vợ như tôi
nói trong truyện”. Như vây, nhặt trong vợ nhặt là động từ. Một kết hợp từ
đặc biệt chỉ có trong bối cảnh năm 1945 kinh hoàng ấy. Cái đói đã đẩy đến
những cảnh bi hài kịch: mạng người trở nên rẻ rúng có thể “nhặt” được
như người ta nhặt cái rơm, cái rác ngoài đường, ngoài chợ. Phải đặt vào
truyền thống của dân tộc coi “người ta là hoa đất”, coi việc dựng vợ gả
chồng là đại sự: “Trăm năm tính cuộc vuông tròn - Phải dò cho đến ngọn
nguồn lạch sông”, mới thấy hết chuyện vợ nhặt theo không như thế này
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
thật éo le làm sao! Hoàn cảnh đói khát cần duy trì sự sống làm cho người
ta quên đi lễ nghĩa đã đành, còn phải bước qua thể diện để theo không về
làm vợ người. Mới hiểu vì sao chị vợ nhặt tủi hổ như thế trước những ánh
mắt nhìn ngó, soi xét trên đường theo Tràng về nhà. Nhan đề đã gói trọn
tình hưống truyện. Đặt trong hoàn cảnh gia đình anh cu Tràng, nhan đề

cảm thấy “chợn” khi nghĩ về tương lai. “Thóc cao gạo kém thế này, đến cái
thân mình chưa chắc có nuôi nổi, lại còn đèo bòng” là một nỗi lo rất thực
tế. Song phía sau câu nói tưởng như là đùa vui bật ra từ người đàn ông
nghèo khổ ấy - “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi
cùng về” - là khát vọng cháy bỏng có thật về một mái nhà hạnh phúc, về tổ
ấm gia đình. Ở Tràng có vẻ đẹp của tình người. Trong hoàn cảnh đó,
Tràng đã cưu mang người nghèo khổ có hoàn cảnh như mình, thậm chí
còn nghèo khổ hơn mình. Truyền thống nhân đạo của người Việt Nam có
câu: “Lá lành đùm lá rách”. Câu tục ngữ ấy ở đây cần phải nói khác đi một
chút để thấy rõ hơn hành động cao đẹp đó của Tràng, đó là: Lá rách nhiều
đùm lá rách nhiều hơn. Đó là một con người nghèo tiền bạc nhưng lại rất
hào phóng và giàu tình người.
3 - Khi phân tích nhân vật người vợ nhặt, giáo viên có thể đưa ra
câu hỏi nêu vấn đề ở dạng tình huống lựa chọn như sau:
- Có người nói rằng nhân vật người vợ nhặt theo không chàng chỉ
vì miếng ăn, vì muốn thoát khỏi cảnh chết đói nhưng có người lại nói,
người đàn bà đó theo Tràng là đi theo tiếng gọi của khát vọng sống,
khát vọng hạnh phúc? Em nghiêng về ý kiến nào hơn? Vì sao?
Giáo viên định hướng: Nếu nhìn ở hình thức bên ngoài của sự việc
thì việc người đàn bà khốn khổ này đến với người đàn ông tội nghiệp kia là
do cái đói, cái nghèo xui đẩy. Nhưng bản chất của sự việc là đi theo tiếng
gọi của hạnh phúc gia đình. Bởi nếu chỉ vì miếng ăn đơn thuần thì họ chỉ
gặp nhau khi ăn bốn bát bánh đúc rồi chia tay nhau. Hoặc cùng lắm, nếu
cần thiết để có thêm miếng ăn nữa thì người đàn bà đó sẽ đi theo Tràng về
nhà nhưng chắc chắn chị ta sẽ dừng lại trước mái nhà xiêu vẹo, trống
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
tuếnh trống toáng ấy của mẹ con Tràng. Nhưng không, chị vẫn bước vào
ngôi nhà ấy và bằng đôi bàn tay của mình để vun vén cho tổ ấm gia đình
mà mình vừa có được. Rõ ràng, bản chất sâu xa của hành động ấy là đi

mai còn mạnh mẽ, mãnh liệt hơn rất nhiều).
Để có một tiết giảng thành công với những câu hỏi nêu vấn đề, yêu
cầu:
Đối với giáo viên: phải nắm vững nội dung bài giảng và trọng tâm bài
dạy để đặt câu hỏi hướng vào nội dung bài học. Việc đặt câu hỏi nêu vấn
đề phải phù hợp với từng điều kiện có thể có. Tránh đặt câu hỏi máy móc,
đơn điệu. Nêu vấn đề phải hết sức hợp lí. Nội dung câu hỏi phải đảm bảo
các yêu cầu về cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng; giáo dục tư tưởng,
nhân cách ở học sinh. Điều quan trọng nhất đối với giáo viên là khâu soạn
giáo án. Để giáo án có chất lượng phải có hệ thống câu hỏi chuẩn, hợp lí.
Các câu hỏi trọng tâm của bài phải cho học sinh nắm trước trong câu hỏi
chuẩn bị bài ở nhà.
Đối với học sinh: Khâu soạn bài (Học sinh đọc tác phẩm, chuẩn bị
bài theo câu hỏi mà giáo viên đã cho, đã hướng dẫn. Giáo viên phân công
học sinh chuẩn bị theo tổ, theo nhóm hoặc theo cá nhân. Động viên khích
lệ học sinh bằng điểm số khi các em tham gia xây dựng bài. Tạo không khí
đối thoại thoải mái trong tiết học giữa thầy và trò để phát huy tư duy sáng
tạo của học sinh. Hứng thú học tập là ngọn nguồn giúp cho học sinh cảm
thụ sâu sắc giá trị của đời sống văn hóa nhân loại. Phát huy trí lực, chú
trọng tới hứng thú học tập của học sinh là hướng đi tích cực của phương
pháp dạy học văn hiện nay. Tuy nhiên để biến những lí luận trên thành
hiện thực đòi hỏi người thầy ngoài tri thức khoa học cần phải có lòng yêu
nghề, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đào tạo và phải có niềm tin vào
học sinh.
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
V - KIỂM NGHIỆM
Sau một năm thử nghiệm đưa câu hỏi nêu vấn đề vào hai tiết giảng

dạng thức nhất định. Rất mong đồng nghiệp góp ý thêm.
2. Trong quá trình giảng dạy sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, tôi thấy
khó khăn nhiều nhất đó là vấn đề về thời gian. Thời lượng dành cho tiết
dạy có hạn trong khi trước một câu hỏi nêu vấn đề học sinh cần phải có
nhiều thời giờ để trao đổi, thảo luận. Vì vậy, tôi rất mong Bộ giáo dục và
đào tạo tiếp tục giảm tải chương trình Ngữ Văn 12 để cho các em học sinh
tuy được học ít tác phẩm nhưng khi học tác phẩm nào thì nắm chắc và
hiểu sâu tác phẩm đó. Tránh hiện tượng, tác phẩm nào cũng biết nhưng
không hiểu được nội dung, tư tưởng của những tác phẩm văn học đó là gì.
Thiệu Hóa, ngày 26 tháng 3 năm
2013
Người viết
Nguyễn Thị Hà
( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Trọng Luận “Phương pháp dạy học” NXB ĐHSP Hà Nội
1995.
2. Phan Trọng Luận “Thiết kế bài học Ngữ Văn 12” Tâp I, II - NXBGD
Năm 2011.
3. Nguyễn Đăng Mạnh “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của
nhà văn” - NXBGD - 2000.
4. Nguyễn Đăng Mạnh “Bài giảng về tác gia trong văn học hiện đại
Việt Nam” Tập I, II, III - NXBĐHQG - HN 1999.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status