Tổng cục thống kê
Báo cáo tổng hợp
Kết quả nghiên cứu khoa học
đề tài cấp bộ
Đề tài: nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu
thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở
việt nam.
n v ch trỡ: Vin Khoa hc Thng kờ
n v thc hin: V Thng kờ Xó hi v Mụi trng
Ch nhim: ThS. Nguyn Phong
Phú ch nhim: CN. Nguyn Th Vit Hng
Th ký khoa hc: CN. V Th Thu Thu
Th ký hnh chớnh: CN. Nguyn Thanh Tỳ
Báo cáo Tổng hợp
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG 4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
TÓM TẮT 6
MỞ ĐẦU 8
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU 13
1.1. Tổng quan về biến đổi khí hậu 13
1.2. Kinh nghiệm quốc tế 23
1.2.1. Các lĩnh vực nghiên cứu về BĐKH 23
1.2.2. Kinh nghiệm về xây dựng chỉ tiêu về BĐKH của các nước và các tổ chức 26
CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG HỆ THỐNG
4.3. Thu thập thử nghiệm và phân tích sơ bộ một số chỉ tiêu thống kê phán ánh BĐKH
ở Việt Nam 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96 Báo cáo Tổng hợp
3
DANH MỤC SẢN PHẨM ĐẠT ĐƢỢC 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 100
PHỤ LỤC 1: Mẫu biểu thu thập số liệu của các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống
kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam 101
PHỤ LỤC 2: Kết quả thu thập và phân tích sơ bộ số liệu khí tượng thủy văn và thiên
tai trong hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam 113 Báo cáo Tổng hợp
4
DANH MỤC BẢNG
Biểu 1: Thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa 50 năm qua ở các vùng khí hậu và trung
HTCTTKQG
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
IPCC
Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (International
Panel on Climate Change)
NN-PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
SMH
Sa mạc hóa
MNBD
Mực nước biển dâng
TN-MT
Tài nguyên và Môi trường
TCTK
Tổng cục Thống kê
XNM
Xâm nhập mặn
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc
(United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization)
UNFCCC
Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc
(United Nations Framework Convention on Climate
Change)
UNDP
Chương trình phát triển Liên hợp quốc (United Nations
Development Programme)
UNSD
Cơ quan thống kê Liên hợp quốc (United nations Statistics
ứng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam, xây dựng cơ sở
dữ liệu về các chỉ tiêu đó với chuỗi số liệu ít nhất là 10 năm và hướng nghiên cứu tiếp
theo về chủ đề này.
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận, kiến nghị và Phụ lục, kết cấu đề tài gồm các
phần:
Chương I: Tổng quan về biến đổi khí hậu và kinh nghiệm quốc tế trong xây
dụng hệ thống thông tin về biến đổi khí hậu. Báo cáo Tổng hợp
7
Chương II: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê
phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Chương III: Xây dựng Hệ thống chỉ tiêu phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Chương IV: Xây dựng biểu mẫu thu thập số liệu và chuẩn hóa các chỉ tiêu trong
hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí
hậu ở Việt Nam” được thực hiện trong vòng 15 tháng, từ tháng 1/2010 đến tháng
3/2011. Kinh phí thực hiện Đề tài do Viện Khoa học Thống kê, Tổng cục Thống kê
phê duyệt và phân bổ. Tổng kinh phí thực hiện đề tài là 89.996.400 đồng.
trung bình thời kỳ 1980-1999.
Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của BĐKH đối với sản xuất, đời sống và
môi trường trên phạm vi toàn thế giới, các tổ chức quốc tế và các Chính phủ đã và
đang tích cực hợp tác nhằm đối phó với tình trạng BĐKH, một trong những hoạt động
đó là cung cấp thông tin giúp định hướng đánh giá tác động của BĐKH và xây dựng
kế hoạch hành động ứng phó. Tại Việt Nam, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó
với BĐKH đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 12/2008 với mục tiêu
chính là đánh giá mức độ tác động của BĐKH và xây dựng kế hoạch ứng phó đối với
những tác động đó. Do vậy, kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng và hoàn thiện
thống kê chính thức về BĐKH đáp ứng thông tin cho mục tiêu quốc gia về ứng phó
BĐKH của Việt Nam.
Tại Việt Nam, mặc dù có các nghiên cứu đã gián tiếp đề xuất nhu cầu thông tin
về BĐKH, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề thiết lập hệ thống
thông tin đánh giá BĐKH một cách toàn diện và có hệ thống. Hậu quả là: Báo cáo Tổng hợp
9
+ Một số số liệu liên quan đến BĐKH là ước tính, có độ tin cậy chưa cao.
+ Số số liệu liên quan đến BĐKH nằm rải rác ở các cơ quan Bộ/ngành mà chưa
có cơ quan làm đầu mối thu thập và tổng hợp, do vậy việc công bố và phổ biến số liệu
về BĐKH giúp cho việc đánh giá chương trình ứng phó, xây dựng chính sách dựa trên
bằng chứng gặp khó khăn trong tiếp cận số liệu.
+ Các số liệu, các chỉ tiêu thống kê về BĐKH chưa được hệ thống hoá, tiêu
chuẩn hoá. Do vậy dẫn tới số liệu thống kê về BĐKH chưa phải là những thống kê
chính thức.
Với những nhu cầu thống kê chính thức về BĐKH và các hạn chế hiện tại về
cung cấp thông tin về BĐKH, đề tài này sẽ là điểm khởi đầu phục vụ cho việc xây
dựng hệ thống thống kê chính thức về BĐKH ở Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
Trên bình diện quốc tế, mặc dù đã có công ước Liên hợp quốc về BĐKH và
nghị định thư Kyoto về phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính đã được thông qua nhưng
Cơ quan thống kê Liên hợp quốc (UNSD) chưa có hướng dẫn về phương pháp luận
thống kê biến đổi khí hậu: chưa có hệ thống chỉ tiêu thống kê và sách hướng dẫn
nghiệp vụ. Từ tháng 4/2008 đến nay, UNSD đã tổ chức 3 cuộc họp quốc tế liên quan
đến thống kê chính thức về BĐKH. Các cuộc họp này đã kết luận rằng: Nhu cầu thông
tin thống kê BĐKH là rất cần thiết và ngày càng tăng; Cần đưa các thông tin thống kê
về BĐKH thành các thông tin thống kê chính thức của quốc gia; Cơ quan thống kê
quốc gia cần nắm rõ phương pháp luận tính toán và phân tổ chuẩn các chỉ tiêu về
BĐKH; Cơ quan thống kê quốc gia cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu và chuẩn hóa hệ
thống chỉ tiêu thống kê về BĐKH (chuẩn hóa khái niệm, cách tính toán, phân tổ, lập
biểu…). Việt Nam là một trong những nước có tham gia 2 trong số 3 hội nghị kể trên
và là một trong hầu hết các nước đang phát triển chưa có hệ thống chỉ tiêu thống kê về
biến đổi khí hậu. Để đáp ứng nhu cầu dùng tin và thực hiện chức năng thống kê chính
thức về biến đổi khí hậu, đề tài này sẽ là điểm khởi đầu phục vụ cho việc xây dựng hệ
thống thống kê chính thức về BĐKH ở Việt Nam.
Tại một số nước, hệ thống thống kê về môi trường nói chung và thống kê về
BĐKH nói riêng và đã được thiết lập như Thụy Điển, Úc, Nhật Bản, Hà Quốc, Ấn
Độ Những hệ thống thống kê về BĐKH đã được xây dựng tại các nước đã phát triển
sẽ là nguồn tham chiếu hữu ích cho đề tài nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu, xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê về BĐKH ở Việt Nam nhằm
đáp ứng yêu cầu theo dõi, giám sát và đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới các
lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường ở Việt Nam.
Với mục đích cung cấp một bộ công cụ thu thập số liệu sử dụng để đánh giá
hiện trạng của BĐKH và tác động của BĐKH với kinh tế, xã hội và môi trường, đề tài Báo cáo Tổng hợp
11
thống kê phản ánh BĐKH của Việt Nam). Báo cáo Tổng hợp
12
5. Thu thập và phân tích sơ bộ một số chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê
phản ảnh BĐKH đã đề xuất.
6. Lộ trình thực hiện kết quả nghiên cứu.
Triển vọng áp dụng kết quả nghiên cứu
Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam sẽ là
điểm khởi đầu cho việc hình thành thống kê chính thức về BĐKH ở Việt Nam. Đây sẽ
là công cụ hữu ích trong việc thu thập số liệu nhằm cung cấp thông tin một cách chính
thức, đầy đủ, chính xác, cập nhật về BĐKH trong mối liên quan với con người, môi
trường, kinh tế, xã hội. Các dữ liệu thống kê về BĐKH sẽ là bằng chứng, là cơ sở khoa
học cho các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế trong việc đánh giá, đề ra luật
pháp, chính sách, đường lối liên quan đến môi trường, kinh tế, xã hội của Việt Nam
cũng như thế giới.
Báo cáo Tổng hợp
13
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KINH
NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG
THÔNG TIN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1. Tổng quan về biến đổi khí hậu
BĐKH là một vấn đề phức hợp, vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa mang
tính lâu dài, tác động tới tất cả các lĩnh vực, từ tự nhiên đến kinh tế - xã hội và môi
trường trên phạm vi toàn cầu. Trong mấy chục năm qua BĐKH là nguyên nhân chính
Báo cáo Tổng hợp
14
giai đoạn đầu tiên của sa mạc hóa (SMH). Các hệ quả XNM và HMH - SMH xảy ra
với các quy mô khu vực và địa phương ở khắp nơi trên thế giới, ở những mức độ khác
nhau có quan hệ tương hỗ với BĐKH. Như vậy giữa BĐKH, XNM và HMH tồn tại
mối quan hệ tương hỗ và có tính hoàn ngược.
Các quan trắc mới nhất về nhiệt độ nước biển cho thấy từ năm 1961 đến nay
nhiệt độ nước biển tầng sâu 3000m nhiệt độ đã gia tăng khi đại dương hấp thụ tới 80%
nhiệt từ khí quyển. Sự ấm lên trong lòng đại dương dẫn đến sự giãn nở của nước biển
đóng góp vào sự tăng lên của mực nước biển. Các quan trắc khác của IPCC cho thấy
lớp phủ băng tuyết ở 2 cực đã giảm cũng như sự hao hụt các sông băng ở đảo
Greenland và ở Nam Cực cũng là những đóng góp làm gia tăng mực nước biển toàn
cầu. Mực nước biển toàn cầu theo chuỗi số liệu 1961 – 2003 tăng lên với tốc độ trung
bình năm là 1,8 mm /năm. Từ 1880 cho đến 2000, mực nước biển dâng lên khoảng
200mm (Nguồn: Wiki).
Chỉ tính riêng ở Nam Cực chiếm giữ khoảng 70% lượng nước và 90% tổng số
băng tuyết trên Trái Đất. Chính vì vậy, lượng băng tan ở hai đầu cực sẽ khiến mực
nước biển dâng cao là điều hiển nhiên. Trong vòng 120 năm tính từ 1880 cho đến
2000, mực nước biển đã dâng lên khoảng 200mm, tức là tốc độ tăng khoảng gần 2mm
mỗi năm (con số mới nhất do IPCC công bố năm 2007 là 1,8mm/ năm - sai số
0,2mm). Tuy nhiên, bước sang thế kỷ 21 thì mực nước biển dâng với mức độ nhanh
hơn, ước tính tốc độ tăng khoảng 7 - 10mm/năm. Các đánh giá này là có tính đến
lượng băng tan ở 2 cực Nam và Bắc Bán Cầu.
IPCC ước tính cho đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển sẽ dâng khoảng từ 0,2m
cho đến 0,6m. Trong khi đó, trong một báo cáo khoa học mới đây được công bố trên
tạp chí Science Magazine cho biết mực nước biển dâng thực sự có thể lên đến gấp 3,5
lần con số do IPCC ước tính, tức là khoảng 0,8 – 2,0m tính cho đến năm 2100.
Trong Báo cáo tổng hợp lần thứ 4 của IPCC năm 2007 đã đề cập đến các tác
động của BĐKH đặc biệt đối với vùng ven biển và đất thấp với các lý do như sau.
Vùng ven biển là vùng chịu nhiều rủi ro, bất lợi do thường xuyên bị đe dọa bởi các
Những tác hại trước mắt là những vùng biển thấp hiện đang bị xâm thực sẽ trở
nên trầm trọng hơn, mức độ tàn phá của MNBD do bão, triều cường, xâm nhập mặn
tại các vùng ven biển sẽ trở nên tồi tệ hơn, mực nước biển dâng cao sẽ khiến nhiều
vùng bị nhiễm mặn, giảm đất đai trồng trọt, tăng mức độ hoang mạc hóa, tăng lượng
chua phèn trong đất, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, những
vùng đầm lầy ven biển sẽ bị ngập nước biển vĩnh viễn và mực nước biển dâng cao dẫn
đến chi phí cho các công trình bảo vệ bờ, bãi cũng tăng theo.
Việt Nam là một trong số khoảng 10 quốc gia được xem là sẽ bị ảnh hưởng
nặng nề khi mực nước dâng lên 1m, khi đó vựa lúa của miền Nam sẽ bị ảnh hưởng
nặng nề vì khu vực này sẽ mất đi khoảng 15 - 20% sản lượng nông nghiệp. Theo đánh
giá của Ủ y ban Liên Chí nh phủ về BĐKH, ở Việt Nam khu vực bị ảnh hưởng lớn nhất
sẽ là khu vực đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long . Theo thống kê đã Báo cáo Tổng hợp
16
chỉ ra 10,8 % dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng khi MNBD ở mức 1 mét, đây là tỷ lệ
lớn nhất trong số 84 quốc gia (Ai Cập tiếp theo với 10,56 %). Dân số Việt Nam sẽ bị
ảnh hưởng đến 35% với MNBD ở mức 5m. Ngoài những nghiên cứu nêu trên, gầ n đây
nhấ t “Kị ch bản biến đổi khí hậu, nướ c biể n dâng cho Việ t Nam” do Bộ Tà i nguyên và
môi trườ ng công bố năm 2009 cho thấ y vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng
thêm khoảng 30cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm khoảng
75cm (Kịch bản thấp: 65cm; Kịch bản cao: 100cm) so với thời kỳ 1980 – 1999. Đây là
vấ n đề cầ n đượ c quan tâm nghiên cứ u nhiề u hơn nữ a để gó p phầ n ứ ng phó vớ i BĐKH
giảm thiểu những tác động tiêu cực do chúng gây nên.
Ở Việt Nam, những lĩnh vực/đối tượng được đánh giá là dễ bị tổn thương do
BĐKH bao gồm: tài nguyên nước, nông nghiệp và an ninh lương thực, sức khỏe, nơi
cư trú tại các vùng ven biển và miền núi. BĐKH làm tăng tính ác liệt của thiên tai cả
về cường độ lẫn tần suất. Theo các số liệu quan trắc của Tổng cục Khí tượng thủy văn
nhiệt độ không khí và lượng mưa trong vòng 50 năm có sự biến động trên các vùng
7
Trung bình
năm
Thời kỳ
11- 4
Thời kỳ
5- 10
Tổng lượng
mưa năm
Tây Bắc
1,4
0,3
0,5
6
-6
-2
Đông Bắc
1,5
0,5
0,6
0
-9
-7
Đồng bằng Bắc Bộ
1,4
0,5
0,6
0
-13
-11
0,4
0,56
7
-5
-2
(Nguồn: Trần Thục, Báo cáo chuyên đề Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống
kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam). Kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các yếu tố khí hậu
có những điểm đáng lưu ý. Trong khoảng 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung
bình năm ở nước ta tăng lên khoảng từ 0,5
0
C đến 0,7
0
C; nhiệt độ mùa đông tăng nhanh
hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các
vùng khí hậu phía Nam. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 - 2000) Báo cáo Tổng hợp
18
cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931 - 1960). Nhiệt độ trung bình
năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao
hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8
0
C; 0,4
0
C và 0,6
0
Báo cáo Tổng hợp
19
chưa liệt kê. Lốc và mưa lũ là các loại thiên tai hay xảy ra nhất trong những năm gần
đây. Tần suất thiên tai xảy ra tại các tỉnh/thành phố tăng theo từng năm. Theo báo cáo
của các Cục Thống kê tỉnh/thành phố, năm 1999, có 36 tỉnh/thành phố chịu ảnh hưởng
của 96 đợt thiên tai xảy ra trong năm, trung bình mỗi tỉnh chịu ảnh hưởng của 2,7 đợt
thiên tai xảy ra trong năm. Số liệu tương ứng các năm 2000, 2001, 2002, 2003 là: số
tỉnh chịu ảnh hưởng: 48, 53, 37, 52; Trung bình số trận thiên tai xảy ra tại mỗi tỉnh bị
ảnh hưởng: 2,7; 3; 2,2; 2,8. Năm 2001 là năm có số tỉnh chịu ảnh hưởng của thiên tai
nhiều nhất và cũng là năm mỗi tỉnh chịu ảnh hưởng của nhiều đợt thiên tai nhất. Tuy
nhiên, thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra năm 2001 không phải là lớn nhất
trong vòng 10 năm qua. Từ năm 2004 đến năm 2009 thiên tai xảy ra tăng cả về phạm
vi lẫn tần suất xảy ra thiên tai. Thiệt hại về người nhiều nhất trong năm 1999 và thiệt
hại về tài sản lớn nhất là năm 2009. Từ năm 1999 đến 2009, thiên tai đã làm hơn 5,5
nghìn người chết và mất tích. Năm 1999 là năm có số người chết và mất tích nhiều
nhất, 990 người, gấp 4,14 lần so với năm 2004 (năm có số người chết và mất tích ít
nhất, 239 người), chiếm 18% tổng số người chết và mất tích do thiên tai trong 11 năm.
Trong số các loại hình thiên tai, ngập lụt và bão gây thiệt hại về người nhiều
nhất và tương đương nhau, chiếm lần lượt 28,66% và 28,64% trong tổng số người chết
và mất tích do các loại thiên tai. Năm 1999, số người bị chết và mất tích do ngập lụt là
nhiều nhất trong số các năm. Cũng trong năm 1999, số người chết và mất tích do ngập
lụt chiếm 66% tổng số người chết và mất tích do các loại hình thiên tai gây ra trong
năm. Ngoài ra, lũ cũng là loại hình thiên tai gây thiệt hại nặng nề về người. Số người
chết và mất tích do lũ chiếm gần 26% trong tổng số người chết vì thiên tai trong hơn
10 năm qua. Bão, lũ và ngập lụt là các loại hình thiên tai có tần suất xảy ra thấp hơn so
với một số loại hình thiên tai khác như lốc, mưa to… Tuy nhiên, tổng giá trị thiệt hại
ước tính lại nhiều nhất. Từ năm 1999 đến 2009, ước tính giá trị thiệt hại do bão gây ra
là trên 53,56 nghìn tỷ đồng (chiếm trên 60% tổng giá trị thiệt hại của các loại hình
thiên tai); do lũ là trên 14,6 nghìn tỷ đồng (chiếm trên 16,4% so với tổng giá trị thiệt
hại); và do ngập lụt là gần 14,2 nghìn tỷ đồng (chiếm gần 15,9% so với tổng giá trị
triệu ha đất đang được sử dụng đã bị thoái hóa nặng và hơn 2 triệu ha đang có nguy cơ
thoái hóa cao. Nguyên nhân chính dẫn đến HMH là do diện tích rừng bị giảm khiến hệ
sinh thái bị suy thoái, gây ra lũ lụt và hạn hán, độ phì nhiêu của đất đang bị giảm
xuống do xói mòn, rửa trôi, đá ong hoá, chua mặn hoá. Ngoài ra còn do nạn cát bay,
cát chảy và tình trạng đất trống bị xói mòn, nhiễm mặn, nhiễm phèn, hạn hán. Đến nay
Việt Nam đã xác định 4 địa bàn ưu tiên chống sa mạc hóa, gồm Duyên hải Miền
Trung, Tây Bắc, Tứ giác Long Xuyên và Tây Nguyên. Tài nguyên rừng cũng bị suy
giảm đáng kể. Nếu như năm 1943 Việt Nam có tỷ lệ che phủ của rừng là 43% thì sau
nhiều nỗ lực khắc phục các nguyên nhân mất rừng suốt 60 năm qua, tỷ lệ che phủ năm
2009 đạt 39,1% rừng bị tàn phá đặc biệt nghiêm trọng vào hai thời kỳ: 1960-1970 và Báo cáo Tổng hợp
21
1976-1990. Rừng bị mất đã làm tăng diện tích đất hoang hoá, kéo theo sự giảm sút
đáng kể các hệ sinh thái, làm suy thoái vùng đầu nguồn. Cũng tại hội nghị này Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết theo thống kê sơ bộ, mỗi năm Việt Nam
mất khoảng 20 ha đất nông nghiệp do quá trình sa mạc hóa và hiện có khoảng 20 triệu
dân đang phải chịu ảnh hưởng của quá trình này.
Hiện nay, Việt Nam đã xuất hiện hiện tượng SMH cục bộ ở các dải cát hẹp trải
dài dọc theo bờ biển miền Trung, tập trung ở 10 tỉnh thành, từ Quảng Bình đến Bình
Thuận với diện tích khoảng 419.000 ha, nơi có những chỉ tiêu khí hậu cực đoan nhất
cả nước và ở đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 43.000 ha. Thời tiết các tỉnh
duyên hải Nam Trung Bộ đặc biệt khô nóng vào mùa khô, lượng mưa trung bình hàng
năm ở một số nơi chỉ đạt khoảng 700 mm như Ninh Thuận và Bình Thuận, khiến cho
những vùng cát trắng có nguy cơ lan rộng. Ước tính hàng năm có khoảng 10-20 ha đất
bị HMH do cát bay, cát chảy làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người dân.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Ninh Thuận và Bình Thuận tồn tại 4 dạng hoang mạc
(cát bay, cát chảy, cát trượt lở); hoang mạc đá lộ - lăn lở; hoang mạc đất cằn trơ sạn
sỏi, đất bạc mầu thoái hóa và hoang mạc muối tàn dư ở xa biển và ven biển. Bên cạnh
Nhận thức về tác động của BĐKH đối với đời sống kinh tế, xã hội, Chính phủ
đã quan tâm và phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Bộ Tài
nguyên và Môi trường đã công bố kịch bản BĐKH, mực nước biển dâng. Trong xã hội
xuất hiện nhiều tổ chức, nhiều hoạt động tuyên truyền về BĐKH. Cơ quan chức năng
nghiên cứu, quan trắc về khí hậu và các cơ quan quản lý Nhà nước được đầu tư để
kiểm soát và kịp thời đánh giá tác động của BĐKH.
Theo kịch bản BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố thì Việt Nam
là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng BĐKH.
Thực tế đã cho thấy, hiện tượng biến BĐKH đã bắt đầu tác động đến nước ta. Nhiều
hiện tượng thiên nhiên trái với quy luật đã diễn ra. Triều cường, mưa bão xảy ra nhiều
hơn tại thành phố Hồ Chí Minh. Miền Trung liên tục trải qua những đợt nắng nóng
kéo dài. Những cơn bão, lũ quét ở các vùng núi phía Bắc diễn ra bất ngờ với sức tàn
phá ngày càng ác liệt. Hiện tượng SMH cát xảy ra nhiều tại các tỉnh miền trung như
Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Do vậy, việc cung cấp thông tin thống kê đáp ứng nhu cầu đánh giá tác động
của BĐKH trên lãnh thổ Việt Nam là một trong các vấn đề mang tính cấp thiết. Tuy
nhiên, cho đến nay công tác thống kê chưa phản ánh một cách đầy đủ, liên tục những
tác động của BĐKH đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường ở nước ta. Việt Nam
vẫn chưa thiết lập được hệ thống thông tin thống kê đánh giá tác động của sự BĐKH
một cách toàn diện và có hệ thống. Sự thiếu hụt thông tin này thể hiện trong công tác Báo cáo Tổng hợp
23
thống kê thường xuyên và định kỳ của Tổng cục Thống kê và các Bộ, ngành có liên
quan.
1.2. Kinh nghiệm quốc tế
1.2.1. Các lĩnh vực nghiên cứu về BĐKH
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn các
hệ thống thông tin về BĐKH, trong đó có thể chọn ra một số lĩnh vực chủ yếu như
t
và T
t
là cán cân nước chi và thu theo đơn vị thời
gian.
+ Chỉ số ẩm:
A
t
= R
t
/ T
t
, trong đó R
t
là lượng mưa tính bằng mm, T
t
nhiệt độ tính theo
0
C. Báo cáo Tổng hợp
24
+ Chỉ số hạn Palmer
Chỉ số hạn Palmer được ứng dụng rộng rãi ở Mỹ từ năm 1965
Z = K
i
d = K
i
(P - p) = K
Trong đó K
h
chỉ số hạn, K
kh
hệ số khô, K
c
hệ số cạn.
Khi K
h
1 là hạn hán nặng. Hạn nhẹ và vừa có chỉ số hạn nằm trong khoảng 0,6
– 1.
Nhóm chỉ tiêu hạn nông nghiệp được đặc trưng bởi lượng nước trong đất và
trạng thái sinh trưởng của cây trồng.
Có thể dẫn ra đây một phương pháp xác định chỉ tiêu hạn nông nghiệp.
D = (P – R
0
+
0
+ R
g
) / (W
0
+
n
+
p
)
Trong đó:
D chỉ tiêu về nước của cây trồng cuối thời kỳ cây trồng.