Những vấn đề cần tập trung ôn tập
1. Điều kiện lao động.
Ðiều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật thể hiện
qua quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động (LĐ), năng lực của NLĐ và sự sắp
xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với
người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
Để làm tốt công tác AT-VSLĐ thì phải đánh giá được các yếu tố điều kiện lao động trong mối
quan hệ tác động qua lại của chúng và sự ảnh hưởng, tác động của chúng đến người lao động như thế
nào. Đặc biệt, phải phát hiện và có được những kết luận chính về các yếu tố nguy hiểm, có hại trong
trong sản xuất đe dọa đến an toàn và sức khỏe NLĐ; từ đó có các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện
điều kiện lao động, bảo vệ sức khoẻ người lao động.
2. Mục đích, ý nghĩa và tính chất của công tác an toàn - vệ sinh lao động trong doanh thương mại
dịch vụ.
2.1. MỤC ĐÍCH CỦA CÔNG TÁC AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG
Công tác AT-VSLĐ dựa trên các quy định pháp luật; thông qua việc thực hiện các chế độ, chính sách, các
biện pháp về khoa học kỹ thuật, về tổ chức, hành chính, về kinh tế - xã hội, để:
- Loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong SX, tạo nên một điều kiện LĐ tiện nghi, thuận lợi
và môi trường LĐ ngày càng được cải thiện tốt hơn nhằm bảo vệ sức khoẻ và tính mạng NLĐ, góp phần tăng
năng suất LĐ và giảm thiệt hại cho DN cũng như NLĐ.
- Ngăn ngừa TNLĐ và BNN, hạn chế ốm đau và giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với
NLĐ.
Trong DN, mục tiêu chủ yếu của AT-VSLĐ là cải thiện điều kiện LĐ, phải xử lý ô nhiễm không khí,
nước thải, đất đai,… tại khu vực DN hoạt động. Công tác AT-VSLĐ, vì thế không chỉ là công việc của DN
mà phải được cả xã hội quan tâm.
2.2. Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC AN TOÀN VÀ VỆ SINH LAO ĐỘNG
Ý nghĩa về chính trị
- AT-VSLĐ thực hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN, thể hiện quan điểm coi con người là động lực,
là mục tiêu của sự phát triển.
- Trong xã hội có tỷ lệ NLĐ, BNN thấp là xã hội luôn coi trọng NLĐ là vốn quý nhất, phải được tôn trọng,
phải được bảo vệ.
- Các hoạt động điều tra, khảo sát, phân tích điều kiện LĐ, đánh giá ảnh hưởng của các yêu tố nguy hiểm
và có hại đến sức khoẻ của NLĐ, các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường lao động, các giải pháp kỹ thuật an
toàn dụng cụ thiết bị,… đều là những hoat động KHKT–CN mới do các cán bộ KHKT-CN đề xuất thực hiện
Tính chất pháp lý
AT-VSLĐ phải mang tính pháp lý thể hiện ở chỗ:
- Muốn cho các giải pháp (về KHKT, tổ chức, kinh tế, xã hội) đảm bảo AT-VSLĐ thực hiện được thì phải
thể chế hoá chúng thành những luật lệ, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn, hướng dẫn
để buộc mọi cấp quản lý, mọi tổ chức, cá nhân, DN phải nghiêm chỉnh thực hiện.
- Đồng thời cấp có thẩm quyền phải tiến hành thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên, phải khen
thưởng những đơn vị có thành tích và xử phạt kịp thời và thích đáng những đơn vị, cá nhân vi phạm thì công
tác AT-VSLĐ mới được tôn trọng và có hiệu quả thiết thực.
Tính chất quần chúng
AT-VSLĐ phải mang tính quần chúng vì:
- Ở mọi DN SX, kinh doanh, từ NSDLĐ đến NLĐ đều là đối tượng cần được bảo vệ.
- Chính NLĐ là chủ thể tham gia vào việc tự bảo vệ mình và bảo vệ người khác.
- Mọi hoạt động của công tác AT-VSLĐ chỉ có thể đạt kết quả khi các cấp quản lý, NSDLĐ, các cán bộ
KHCN và bản thân NLĐ đều phải tự giác và tích cực tham gia thực hiện các chế độ, chính sách, tiêu chuẩn,
quy định, các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng chống TNLĐ và BNN.
3. Khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động.
An toàn là xác định những “rủi ro cho phép” hay còn gọi là mức cân bằng tối ưu giữa an toàn
tuyệt đối lý tưởng với các yêu cầu được đáp ứng bởi thiết bị máy móc, quá trình công nghệ,… trên cơ
sở đánh giá rủi ro với các bước từ nhận biết mối nguy hiểm (bao gồm cả tình trạng nguy hiểm và sự
kiện nguy hiểm) có thể nảy sinh trong quá trình sản xuất đến ước lượng và đánh giá rủi ro phát sinh
từ những nguy cơ đã được xác định.
An toàn lao động là các biện pháp giảm thiểu hoặc triệt tiêu những yếu tố nguy hiểm có hại ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe và tính mạng người lao động.
VSLĐ là hệ thống các biện pháp, phương tiện về tổ chức và kỹ thuật vệ sinh nhằm phòng ngừa
sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với NLĐ, bảo vệ NLĐ khỏi BNN.
- Các yếu tố có hại trong sản xuất là những yếu tố của điều kiện LĐ không thuận lợi, không đảm
bảo các giới hạn của tiêu chuẩn VSLĐ cho phép, làm giảm sức khoẻ của NLĐ và gây BNN.
Trong thời gian làm việc, nếu NLĐ bị chết do TNLĐ, BNN, thì thân nhân được nhận chế độ tử
tuất theo quy định tại Điều146 của Bộ Luật này và được quỹ bảo hiểm xã hội trợ cấp thêm một lần
bằng 30 tháng tiền lương tối thiểu theo quyết định của Chính phủ.
Trong thời gian NLĐ nghỉ việc để chữa trị vì TNLĐ hoặc BNN, NSDLĐ phải trả đủ lương và
chi phí y tế cho NLĐ từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị TNLĐ hoặc BNN.
Sau khi điều trị, người bị TNLĐ, BNN được giám định y khoa để xếp hạng thương tật, xác định
mức độ suy giảm khả năng lao động và được phục hồi chức năng lao động; nếu còn tiếp tục làm việc,
thì được sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa lao
động.
Tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động do TNLĐ, BNN, NLĐ được hưởng trợ cấp một
lần hoặc hàng tháng do quỹ bảo hiểm xã hội trả.
- Theo ngành nghề sản xuất: Việc phân loại này rất quan trọng vì TNLĐ ở các ngành nghề khác
nhau do đặc điểm của mỗi ngành nghề. Ở nước ta những ngành nghề có công việc càng phức tạp
nguy hiểm thì TNLĐ gây ra cũng khác nhau. Cách phân loại này còn cho phép xác định mức đóng và
hưởng được chính xác, đồng thời cho phép tìm ra những biện pháp hạn chế TNLĐ cho phù hợp với
đặc điểm sản xuất của từng ngành.
Ví dụ
Ngành khai thác khoáng sản nguy cơ TNLĐ cao, hậu quả thường là nghiêm trọng
Ngành dịch vụ nhà hàng, khách sạn nguy cơ TNLĐ thấp hơn
Ngành kinh doanh dịch vụ vận tải biển nguy cơ TNLĐ cao, hậu quả thường là nghiêm trọng
- Theo nguyên nhân:
+ Nguyên nhân do chủ quan: do trang thiết bị máy móc, phương tiện bảo hộ, phòng hộ lao động
không được chu đáo hay do sự vi phạm quy trình kỹ thuật ATLĐ sản xuất của NLĐ và NSDLĐ
Ví dụ: không kiểm tra tình trạng an toàn của mày trước ca sản xuất; Nhân viên bếp quên không
khóa gaz sau khi sử dụng; Nhân viên vệ sinh không trang bị PTBVCN….
+ Nguyên nhân khách quan: do các yếu tố tự nhiên xảy ra ngẫu nhiên không lường trước được:
bão lụt, động đất…
Ví dụ: Đắm thuyền chở hàng do bão; Cháy văn phòng, cửa hàng do bị cháy lan từ khu vực lân
cận như cháy cây xăng….
Phân loại theo cách này giúp chúng ta tìm được nguyên nhân TNLĐ để tìm ra cách hạn chế khắc
hoạt động SXKD.
5. Khái niệm, phân loại các yếu tố nguy hiểm.
5.1. Khái niệm các yếu tố nguy hiểm
Yếu tố nguy hiểm trong SX là các yếu tố có tác động gây chấn thương, tử vong cho NLĐ trong
SX. Sự tác động đó gây tai nạn tức thì.
5.2. Phân loại các yếu tố nguy hiểm
Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương thường gặp trong LĐ rất đa dạng, có thể phân làm 5
nhóm cơ bản sau:
a. Nhóm yếu tố nguy hiểm cơ học
Tai nạn gây ra có thể làm cho NLĐ bị chấn thương hoặc chết. Tai nạn chủ yếu do cơ cấu, đặc
trưng quá trình công nghệ của các dây truyền SX gây ra như:
- Các bộ phận cơ cấu truyền động: Trục khuỷu, bánh răng, đai truyền
- Sự chuyển động của bản thân máy móc như: ô tô, máy trục, tàu biển, sà lan, đoàn tàu hỏa, đoàn
goòng có nguy cơ cuốn, cán, kẹp, cắt.
- Các bộ phận chuyển động quay với tốc độ lớn: đá mài, cưa đĩa, bánh đà, máy ly tâm, máy trục
tiện, máy khoan, trục cán ép,…
- Các bộ phận chuyển động tịnh tiến: búa máy, máy đột dập, đầu máy bào, máy dọc, máy phay,
…
- Vật rơi, đổ, sập: Thường là hậu quả của trạng thái vật chất không bền vững, không ổn định gây
ra, như: sập lò, vật rơi từ trên cao trong xây dựng; đá rơi, đá lăn trong khai thác đá, trong đào đường
hầm; đổ tường, đổ cột điện, đổ công trình trong xây lắp; cây đổ; đổ hàng hoá trong sắp xếp kho
tàng
- Vật văng bắn: Thường gặp là phoi của các máy gia công như: máy mài, máy tiện, đục kim loại;
gỗ đánh lại ở các máy gia công gỗ; đá văng trong nổ mìn
- Trơn, trượt ngã,…
Ví dụ: Vụ tai nạn xảy ra vào cuối giờ chiều ngày 5/9 tại huyện Đông Anh (Hà Nội). Trong lúc
đưa xấp giấy vào hệ thống máy công nghiệp để cắt, 1 công nhân vô tình chạm người vào nút khởi
động khiến lưỡi dao sập xuống chặt đứt rời 2 bàn tay.
Vụ sập giàn giáo tại công trình cầu Sông Tranh (Ninh Giang, Hải Dương) làm 3 người chết; sập
giàn giáo ở nhà thờ Ngọc Lâm (Thái Nguyên) làm 3 người chết và 61 người bị thương; sạt lở mỏ đá
Các sản phẩm như bột giặt, thuốc đánh bóng nền nhà, sơn và những hóa chất xịt kính, gỗ, kim
loại, các loại chất tẩy rửa toilet đều có hóa chất độc hại như amoniac, axit sunfuric, kiềm, chlorine,
formaldehyde và phenol Các hóa chất này bay hơi ở nồng độ đậm đặc và tiếp xúc kéo dài thậm chí
có nguy cơ gây ung thư, và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.
d) Nhóm yếu tố nguy hiểm nổ
- Nổ vật lý: Trong thực tế SX, có thể nổ khi áp suất của môi chất trong các thiết bị chịu áp lực,
các bình chứa khí nén, khí thiên nhiên hoá lỏng vượt quá giới hạn bền cho phép của vỏ bình hoặc do
thiết bị bị rạn nứt, phồng móp, bị ăn mòn do sử dụng lâu. Khi thiết bị nổ sẽ sinh công rất lớn làm phá
vỡ các vật cản và gây tai nạn cho mọi người xung quanh.
Ví dụ: Nổ nồi hơi, bình khí nén.
- Nổ hóa học: Là sự biến đổi về mặt hóa học của các chất diễn ra trong một thời gian rất ngắn,
với một tốc độ rất lớn tạo ra lượng sản phẩm cháy lớn, nhiệt độ rất cao và áp lực lớn phá hủy hoại các
công trình, gây tai nạn cho người trong phạm vi vùng nổ.
Ví dụ: Nổ cháy xăng dầu, khí đốt, thuốc nổ,…
Các chất có thể gây nổ hóa học bao gồm các khí cháy và bụi khi chúng hỗn hợp với không khí
đạt đến một tỷ lệ nhất định kèm theo có mồi lửa thì sẽ gây nổ. Mỗi loại khí cháy nổ có thể nổ được
khi hỗn hợp với không khí đạt được một tỷ lệ nhất định. Khoảng giới hạn nổ của khí cháy với không
khí càng rộng thì sự nguy hiểm về giới hạn nổ hóa học càng tăng.
- Nổ vật liệu nổ (nổ chất nổ): Sinh công rất lớn, đồng thời gây ra sóng xung kích trong không
khí và gây chấn động trên bề mặt đất trong phạm vi bán kính nhất định.
- Nổ của kim loại nóng chảy: Khi rót kim loại lỏng vào khuôn bị ướt, khi thải xỉ
e) Nhóm yếu tố nguy hiểm về nhiệt (với môi chất truyền thể hơi, khí, lỏng, rắn): gây bỏng (nóng,
lạnh), cháy do ngọn lửa, tia lửa, vật nung nóng - nấu chảy.
Ví dụ: Trong các DN kinh doanh dịch vụ ăn uống, khi chế biến các sản phẩm ăn uống, các nhân
viên ở bộ phận bếp là những người thường xuyên phải tiếp xúc với mối nguy hiểm về nhiệt độ cao.
Trong dịch vụ sửa chữa xe ô tô, người công nhân phải đối diện với nguy cơ bị bỏng do các tia
lửa từ máy hàn, máy tiện phát ra
6. Các phương phương pháp xác định (kiểm soát) yếu tố nguy hiểm
a. Đối với máy, thiết bị cơ khí: kiểm tra, xác định theo các yêu cầu sau:
- Che chắn các bộ phận truyền động
- Tình trạng kỹ thuật hiện hữu…
g. Hệ thống điện và các thiết bị bảo vệ: kiểm tra, xác định theo các yêu cầu sau:
- Hệ thống dây dẫn điện
- Hệ thống phân phối điện
- Các thiết bị bảo vệ
7. Các biện pháp kỹ thuật an toàn lao động.
BIỆN PHÁP AN TOÀN ĐỐI VỚI BẢN THÂN NGƯỜI LAO ĐỘNG
- Thực hiện thao tác, tư thế LĐ phù hợp, đúng nguyên tắc an toàn, tránh các tư thế cói gập người,
các tư thế có thể gây chấn thương cột sống, thoát vị đĩa đệm,…
- Bảo đảm không gian vận động, thao tác tối ưu, sự thích nghi giữa người và máy,…
- Đảm bảo các điều kiện LĐ thị giác, thính giác, xúc giác,…
- Đảm bảo tâm lý phù hợp, tránh quá tải, căng thẳng hay đơn điệu.
THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP CHE CHẮN AN TOÀN
* Mục đích của thiết bị che chắn an toàn
Cách ly vùng nguy hiểm đối vớiNLĐ như các vùng có điện áp cao, có các chi tiết chuyển động,
những nơi người có thể rơi, ngã.
* Yêu cầu đối với thiết bị che chắn
- Ngăn ngừa được tác động xấu do bộ phận của thiết bị SX gây ra;
- Không gây trở ngại cho thao tác của NLĐ;
- Không ảnh hưởng đến năng suất LĐ, công suất của thiết bị;
- Dễ dàng tháo lắp, sửa chữa khi cần thiết.
* Các loại thiết bị che chắn
Tùy thuộc vào yêu cầu che chắn mà cấu tạo của thiết bị che chắn đơn giản hay phức tạp và được
chế tạo bởi các loại vật liệu khác nhau.
- Che chắn tạm thời hay di chuyển được như che chắn ở sàn thao tác trong xây dựng; che chắn
hào, hố các vùng làm việc trên cao.
- Che chắn cố định như: bao che của các bộ phận chuyển động, che chắn các bộ phận dẫn điện,
che chắn các nguồn bức xạ có hại,…
SỬ DỤNG THIẾT BỊ VÀ CƠ CẤU PHÒNG NGỪA
* Mục đích
ĐẢM BẢO KHOẢNG CÁCH VÀ KÍCH THƯỚC AN TOÀN
- Khoảng cách an toàn là khoảng không gian nhỏ nhất giữa NLĐ và các loại phương tiện, thiết bị,
hoặc khoảng cách nhỏ nhất giữa chúng với nhau để không bị tác động xấu của các yếu tố SX.
VD, khoảng cách cho phép giữa đường dây điện trần tới người, khoảng cách an toàn khi nổ mìn
- Khoảng cách AT-VSLĐ: Tùy theo cơ sở SX mà phải bảo đảm một khoảng cách an toàn giữa cơ
sở đó và khu dân cư xung quanh.
THỰC HIỆN CƠ KHÍ HÓA, TỰ ĐỘNG HÓA VÀ ĐIỀU KHIỂN TỪ XA
Đó là biện pháp nhằm giải phóng NLĐ khỏi khu vực nguy hiểm, độc hại.
Các trang thiết bị cơ khí hóa, tự động hóa và điều khiển từ xa thay thế con người thực hiện các
thao tác từ xa, trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm, đồng thời nâng cao được năng suất lao động.
- Cơ cấu điều khiển: có thể là các nút mở máy, đóng máy, hệ thống tay gạt, vô lăng điều khiển để
điều khiển theo ý muốn NLĐ;
- Phanh hãm: điều khiển vận tốc chuyển động của phương tiện, bộ phận theo ý muốn của NLĐ.
Có loại phanh cơ, phanh điện, phanh từ. Tùy theo yêu cầu cụ thể mà tác động của phanh hãm có thể
là tức thời hay từ từ. Ngoài hệ thống phanh hãm chính thường kèm theo hệ thống phanh hãm dự
phòng.
- Khoá liên động: loại cơ cấu nhằm tự động loại trừ khả năng gây ra TNLĐ khi NLĐ vi phạm quy
trình trong vận hành, thao tác như: đóng bộ phận bao che rồi mới được mở máy. Khoá liên động có
thể dưới các hình thức liên động khác nhau: cơ khí, khí nén, thuỷ lực, điện, tế bào quang điện
- Điều khiển từ xa: NLĐ ở ngoài vùng nguy hiểm điều khiển SX như điều khiển từ phòng điều
khiển trung tâm. Ở đó sử dụng các đồng hồ đo để chỉ rõ các thông số kỹ thuật cần thiết cho quá trình
điều khiển SX và các thiết bị nghe nhìn.
TRANG BỊ CÁC PHƯƠNG TIỆN BẢO VỆ CÁ NHÂN
* Khái niệm
Phương tiện bảo vệ cá nhân là những dụng cụ, phương tiện cần thiết mà NLĐ phải được trang bị
để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện có các yếu tố nguy hiểm, độc
hại.
Đây là biện pháp bảo vệ bổ sung, hỗ trợ nhưng có vai trò rất quan trọng khi các thiết bị kỹ thuật
AT-VSLĐ tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết các yếu tố nguy hiểm, độc hại (điều kiện thiết bị,
công nghệ lạc hậu).
trong các doanh nghiệp thương mại dịch vụ.
Khái niệm chấn thương: Là thương tích xảy ra đối với NLĐ trong SX do không tuân thủ các yêu
cầu về ATLĐ. Nhiễm độc cấp tính cũng coi như chấn thương.
Ví dụ: Bị trượt ngã khi xếp đồ lên giá ở các siêu thị; bị hàng hóa rơi đổ vào người do xếp hàng
quá cao, bị ngộ độc hóa chất tẩy rửa do sử dụng không đúng cách…
Nguyên nhân gây chấn thương
Nhóm các nguyên nhân kỹ thuật
Kỹ thuật đóng vai trò quan trọng làm cho tỷ lệ TNLĐ gia tăng đặc biệt là kỹ thuật lạc hậu, lao
động giản đơn hoặc dây chuyền công nghệ cũ. Các nước tiên tiến do phát triển kỹ thuật tự động hóa
cao nên giảm thiểu nhanh các TNLĐ. Các dây chuyền công nghệ cũ gây ô nhiễm hóa chất độc là
nguyên nhân gây tai nạn nhiễm độc cho công nhân (hiện tượng rò rỉ khí độc). Các nguyên nhân kỹ
thuật có thể gây TNLĐ như:
- Quá trình công nghệ chứa đựng các yếu tố nguy hiểm,có hại: có các bộ phận chuyển động, bụi,
tiếng ồn,
- Thiết kế, kết cấu không đảm bảo, không thích hợp với đặc điểm sinh lý của người sử dụng; độ
bền kém; thiếu các tính hiệu, cơ cấu báo hiệu, ngăn ngừa quá tải như van an toàn, phanh hãm, chiếu
sáng không thích hợp; ồn, rung vượt quá mức cho phép,
- Không thực hiện cơ khí hóa, tự động hóa những khâu LĐ nặng nhọc, nguy hiểm.
- Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc kỹ thuật an toàn như các thiết bị áp
lực không được kiểm nghiệm trước khi đưa vào sử dụng, thiếu hoặc sử dụng không đúng các phương
tiện bảo vệ cá nhân,
Nhóm các nguyên nhân về tổ chức, quản lý
Tổ chức lao động không hợp lý là nguyên nhân gây mệt mỏi mất tập trung tư tưởng dễ tạo ra
TNLĐ. Mệt mỏi làm cho phản xạ thần kinh kém, dễ bị tai nạn. Sự phù hợp về cấu trúc giải phẫu sinh
lý với công việc và máy móc cũng sẽ giảm thiểu TNLĐ. Có thể kể đến những nguyên nhân như sau:
- Tổ chức sắp xếp chỗ làm việc không hợp lý, tư thế thao tác khó khăn; không gian làm việc chật
hẹp, vị trí tư thế thao tác gò bó.
- Bố trí sắp đặt máy móc thiết bị sai quy tắc an toàn, sự cố trên một máy có thể gây nguy hiểm
cho các máy khác.
- Bố trí mặt bằng SX, đường đi lại, vận chuyển không an toàn: đường đi chật hẹp, gồ ghế, các
vùng đang cháy ra ngoài.
Như vậy cháy chỉ xảy ra khi có 3 yếu tố: Chất cháy (Than, gổ, tre, nứa, xăng, dầu, khí mêtan,
hydrô, ôxit cácbon ), ôxy trong không khí (> 14-15% ) và nguồn nhiệt thích ứng (ngọn lửa, thuốc lá
hút dở, chập điện, ).
9.2. Những nguyên nhân gây cháy, nổ
Do sự vi phạm các điều kiện an toàn sẽ phát sinh ra những nguyên nhân gây ra cháy. Tuy nhiên
những nguyên nhân gây ra cháy có rất nhiều và cũng khác nhau. Những nguyên nhân đó cũng thay
đổi liên quan đến sự thay đổi các quá trình kỹ thuật trong sản xuất và việc sử dụng các thiết bị,
nguyên vật liệu, các hệ thống chiếu sáng đốt nóng,
Có thể phân ra những nguyên nhân chính sau đây:
- Nguyên nhân tự bốc cháy: gỗ thông 250
o
C, giấy 184
o
C, vải sợi hoá học 180
o
C
- Nguyên nhân cháy do nhiệt độ cao đủ sức đốt cháy một số chất như que diêm, dăm bào, gỗ
(750-800
o
C) như khi hàn hơi, hàn điện
- Nguyên nhân cháy do ma sát (mài, máy bay rơi).
- Nguyên nhân cháy do tác dụng của hoá chất.
- Nguyên nhân cháy do sét đánh, do chập điện, do đóng cầu dao điện.
- Nguyên nhân sử dụng các thiết bị có nhiệt độ cao như lò đốt, lò nung, các đường ống dẫn khí
cháy, các bể chứa nhiên liệu dễ cháy, gặp lửa hay tia lửa điện có thể gây cháy, nổ…
- Nguyên nhân do độ bền thiết bị không đảm bảo.
- Nguyên nhân người sản xuất thao tác không đúng quy định
Tóm lại trên các công trường, trong sinh hoạt, trong các nhà công cộng, trong sản xuất có thể có
nhiều nguyên nhân gây ra cháy. Phòng ngừa cháy là có liên quan nhiều tới việc tuân theo các điều
- Cách ly hoặc đặt các thiết bị hay công đoạn dể cháy nổ ra xa các thiết bị khác và những nơi
thoáng gió hay đặt hẳn ngoài trời
- Loại trừ mọi khả năng phát sinh ra mồi lửa tại những chỗ sản xuất có liên quan đến các chất
dể cháy nổ.
c/ Sử dụng các phương tiện chữa cháy
* Các chất chữa cháy: là những chất đưa vào đám cháy nhằm dập tắt nó như:
- Nước: Nước có ẩn nhiệt hoá hơi lớn làm giảm nhanh nhiệt độ nhờ bốc hơi. Nước được sử dụng
rộng rãi để chống cháy và có giá thành rẻ. Tuy nhiên không thể dùng nước để chữa cháy các kim loại
hoạt động như K, Na, Ca hoặc đất đèn và các đám cháy có nhiệt độ cao hơn 1700
0
C.
- Bụi nước: Phun nước thành dạng bụi làm tăng đáng kể bề mặt tiếp xúc của nó với đám cháy.
Sự bay hơi nhanh các hạt nước làm nhiệt độ đám cháy giảm nhanh và pha loãng nồng độ chất cháy,
hạn chế sự xâm nhập của ôxy vào vùng cháy. Bụi nước chỉ được sử dụng khi dòng bụi nước trùm kín
được bề mặt đám cháy.
- Hơi nước: Hơi nước công nghiệp thường có áp suất cao nên khả năng dập tắt đám cháy tương
đối tốt. Tác dụng chính của hơi nước là pha loãng nồng độ chất cháy và ngăn cản nồng độ ôxy đi vào
vùng cháy. Thực nghiệm cho thấy lượng hơi nước cần thiết phải chiếm 35% thể tích nơi cần chữa
cháy thì mới có hiệu quả.
- Bọt chữa cháy: còn gọi là bọt hoá học. Chúng được tạo ra bởi phản ứng giữa 2 chất: sunphát
nhôm Al
2
(S0
4
)
3
và bicacbonat natri (NaHCO
3
). Cả 2 hoá chất tan trong nước và bảo quản trong các
bình riêng. Khi sử dụng ta trỗn 2 dung dịch với nhau, khi đó ta có các phản ứng:
3
là kết tủa ở dạng hạt màu trắng tạo ra các màng mỏng và nhờ có CO
2
là
một loại khí mà tạo ra bọt. Bọt có tác dụng cách ly đám cháy với không khí bên ngoài, ngăn cản sự
xâm nhập của ôxy vào vùng cháy. Bọt hoá học được sử dụng để chữa cháy xăng dầu hay các chất
lỏng khác.
- Bột chữa cháy: là chất chữa cháy rắn dùng để chữa cháy kim loại, các chất rắn và chất lỏng. Ví
dụ để chữa cháy kim loại kiềm người ta sử dụng bột khô gồm 96% CaCO
3
+ 1% graphit + 1% xà
phòng
- Các chất halogen: loại này có hiệu quả rất lớn khi chữa cháy. Tác dụng chính là kìm hãm tốc độ
cháy. Các chất này dể thấm ướt vào vật cháy nên hay dùng chữa cháy các chất khó hấm ướt như
bông, vải, sợi v.v Đó là Brometyl (CH
3
Br) hay Tetraclorua cacbon (CCl
4
)
.
* Xe chữa cháy chuyên dụng: được trang bị cho các đội chữa cháy chuyên nghiệp của thành phố
hay thị xã. Xe chữa cháy loại này gồm: xe chữa cháy, xe thông tin và ánh sáng, xe phun bọt hoá học,
xe hút khói v.v… Xe được trang bị dụng cụ chữa cháy, nước và dung dịch chữa cháy (lượng nước
đến 400 – 5.000 lít, lượng chất tạo bọt 200 lít.)
* Phương tiện báo và chữa cháy tự động: Phương tiện báo tự động dùng để phát hiện cháy từ
đâu và báo ngay về trung tâm chỉ huy chữa cháy. Phương tiện chữa cháy tự động là phương tiện tự
động đưa chất cháy vào đám cháy và dập tắt ngọn lửa.
* Các trang bị chữa cháy tại chỗ: đó là các loại bình bọt hoá học, bình CO
2
, bơm tay, cát, xẻng,
Một đặc điểm khi bị sốc điện là không thấy rõ chỗ dòng điện vào người và người tai nạn không
có thương tích.
10.2. Những nguyên nhân làm cho người bị tai nạn điện:
- Sự hư hỏng của thiết bị, dây dẫn điện và các thiết bị mở máy.
- Sử dụng không đúng các dụng cụ nối điện thế trong các phòng bị ẩm ướt.
- Thiếu các thiết bị và cầu chì bảo vệ hoặc có nhưng không đáp ứng với yêu cầu.
- Tiếp xúc phải các vật dẫn điện không có tiếp đất, dịch thể dãn điện, tay quay hoặc các phần
khác của thiết bị điện.
- Bố trí không đầy đủ các vật che chắn, rào lưới ngăn ngừa việc tiếp xúc bất ngờ với bộ phận
dẫn điện, dây dẫn điện của các trang thiết bị.
- Thiếu hoặc sử dụng không đúng các dụng cụ bảo vệ cá nhân: ủng, găng, tay cách điện, thảm
cao su, giá cách điện.
- Thiết bị điện sử dụng không phù hợp với điều kiện sản xuất.
10.3. Các biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn điện
a/ Các quy tắc chung
Để đảm bảo an toàn điện cần phải thực hiện đúng các quy định:
- Phải che chắn các thiết bị và bộ phận của mạng điện để tránh nguy hiểm khi tiếp xúc bất ngờ
vào vật dẫn điện.
- Phải chọn đúng điện áp sử dụng và thực hiện nối đất hoặc nối dây trung tính các thiết bị điện
cũng như thắp sáng theo đúng quy chuẩn.
- Nghiêm chỉnh sử dụng các thiết bị, dụng cụ an toàn và bảo vệ khi làm việc.
- Tổ chức kiểm tra vận hành theo đúng các quy tắc an toàn.
- Phải thường xuyên kiểm tra dự phòng cách điện của các thiết bị cũng như của hệ thống điện.
Qua kinh nghiệm cho thấy, tất cả các trường hợp xảy ra tai nạn điện giật thì nguyên nhân chính
hầu như không phải là do thiết bị không hoàn chỉnh, cũng không phải do phương tiện bảo vệ an toàn
chưa đảm bảo mà chính là do vận hành sai quy định, trình độ vận hành kém, sức khỏe không đảm
bảo. Vì vậy để vận hành an toàn cần phải thường xuyên cần phải thường xuyên kiểm tra sửa chữa
thiết bị, chọn cán bộ kỹ thuật, mở các lớp tập huấn chuyên môn, phân công trực đầy đủ .
Muốn thiết bị được an toàn đối với người làm việc và những người xung quanh, cần tu sửa
chúng theo kế hoạch đã định, khi sửa chữa phải theo đúng quy trình vận hành. Ngoài các công việc
phương pháp là những yếu tố quyết định để cứu sống nạn nhân. Thí nghiệm và thực tế cho thấy rằng
từ lúc bị điện giật đến một phút sau nếu được cứu chữa ngay thì 90% trường hợp cứu sống được, để 6
phút sau mới cứ chỉ có thể cứu sống 10%, nếu để từ 10 phút mới cấp cứu thì rất ít trường hợp cứu
sống được.
Khi sơ cứu người bị nạn cần thực hiện hai bước cơ bản: Tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện sau
đó làm hô hấp nhân tạo.
Tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện:
Nếu nạn nhân chạm vào điện hạ áp, cần nhanh chóng cắt nguồn điện (tại các vị trí cầu dao, áp tô
mát, cầu chì…). Nếu không thể cắt nhanh nguồn điện được thì dùng các vật cách điện như sào, gậy
tre, gỗ khô… để gạt dây điện ra khỏi nạn nhân. Nếu nạn nhân nắm chặt vào dây điện, cần phải đứng
trên các vật cách điện (bệ gỗ, tấm cách điện…) để kéo nạn nhân ra hoặc đi ủng cách điện hoặc dùng
găng tay cách điện để gỡ nạn nhân ra. Trong trường hợp cần thiết có thể dùng kìm cách điện, dao
hoặc rìu có cán gỗ khô để cắt hoặc chặt đứt dây điện.
Nếu nạn nhân bị chạm hoặc bị phóng điện từ thiết bị có điện áp cao thì không thể đến cứu ngay
trực tiếp mà cần phải đi ủng, dùng gậy, sào cách điện để tách người bị nạn ra khỏi phạm vi có điện.
Đồng thời báo cho người quản lý đến cắt điện trên đường dây. Nếu người bị nạn đang làm việc ở
đường dây trên cao, dùng dây dẫn nối đất làm ngắn mạch đường dây cần tiến hành nối đất trước sau
đó ném dây lên làm ngắn mạch đường dây, đồng thời có biện pháp đỡ nạn nhận khi rơi ngã nếu
người bị nạn ở trên cao.
Làm hô hấp nhân tạo:
Ngay sau khi tách được người bị nạn ra khỏi bộ phận mang điện, đặt nạn nhân ở chỗ thoáng mát,
cởi các phần quần áo bó thân (như cúc cổ, thắt lưng…), lau sạch máu, nước bọt và các chất bẩn rồi
thao tác theo trình tự sau:
- Đặt nạn nhân nằm ngửa, kê gáy bằng vật mềm để đầu ngửa về phía sau.
- Kiểm tra khí quản nạn nhân có thông suốt hay không và lấy các dị vật ra. Nếu hàm bị co cứng
phải mở miệng bằng cách để tay áp vào phía dưới của góc hàm dưới, tỳ ngón cái vào mép hàm để
đẩy hàm dưới ra.
- Kéo ngửa mặt nạn nhân về phía sau sao cho cằm và cổ trên một đường thẳng đảm bảo cho
không khí vào được dễ dàng. Đẩy hàm dưới về phía trước đề phòng lưỡi rơi xuống đóng thanh quản.
- Mở miệng và bịt mũi nạn nhân, người cấp cứu hít hơi và thổi mạnh vào miệng nạn nhân (đặt
- Nhóm 2: Các yếu tố có hại liên quan đến tâm sinh lý LĐ như:
+ LĐ thể lực nặng nhọc;
+ Tư thế LĐ gò bó;
+ Các stress về tâm lý, xã hội;
+ Căng thẳng thần kinh giác quan nhịp điệu làm việc;
+ Tính đơn điệu của công việc; thời gian LĐ, nghỉ ngơi không hợp lý,…
11.2. BỆNH NGHỀ NGHIỆP
- Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện LĐ có hại của nghề nghiệp tác động tới NLĐ.
Bệnh có thể xảy ra cấp tính hoặc từ từ. Một số BNN không chữa khỏi và để lại di chứng. BNN có thể
phòng tránh được.
Như vậy, kết quả tác động của các tác hại nghề nghiệp lên cơ thể NLĐ gọi là BNN
Bệnh nghề nghiệp rất nguy hiểm vì nhiễm từ từ vào cơ thể mà người lao động không hay biết, đến
khi có triệu chứng thì đã nặng, khó chữa.
12. Khái niệm, tác hại và biện pháp phòng ngừa vi khí hậu xấu.
Vi khí hậu tại nơi làm việc là trạng thái lý học của không khí trong một không gian thu hẹp của
nơi làm việc, bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt, tốc độ chuyển động của không khí. Các yếu tố
của điều kiện vi khí hậu phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với sinh lý của con người. Các
yếu tố vi khí hậu phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý LĐ của con
người. Vượt qua giới hạn này là vi khí hậu không thuận lợi, sẽ gây ảnh hưởng tới tâm lý, sức khoẻ và
khả năng LĐ của con người.
Tác hại của vi khí hậu xấu
Điều kiện vi khí hậu có thể ảnh hưởng tới các quá trình sinh học trong điều hoà nhiệt độ của
cơ thể và có thể gây bệnh tật cho người lao động khi mà các phản ứng sinh lý sinh hóa bị rối loạn.
- Tác hại khi làm việc ở nhiệt độ cao:
+ Sự tuần hoàn máu mạnh hơn, tần suất hô hấp tăng, sự thiếu hụt ôxi tăng nên đòi hỏi sự cố gắng
cao của cơ thể để giữ cân bằng nhiệt.
+ NLĐ mất nhiều mồ hôi: Lao động nặng mất 6 - 7 lít nước/ca nên sau ngày làm việc trọng
lượng cơ thể có thể bị sút 2 – 4 kg. Đồng thời với việc mất nước, cơ thể mất một lượng muối khoáng.
Mất nước không được bù đắp kịp thời sẽ dẫn đến những rối loại chuyển hóa muối và nước, gây ra rối
loại các chức năng sinh lý của cơ thể như: đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, gây trở ngại nhiều cho
Các biện pháp cải thiện điều kiện vi khí hậu xấu
Biện pháp kỹ thuật:
- Cải tiến kỹ thuật, cơ giới hóa và tự động hóa các khâu sản xuất mà NLĐ phải làm việc trong
điều kiện nhiệt độ cao.
- Cách ly nguồn nhiệt bằng phương pháp che chắn. Nếu có điều kiện làm lán di động có mái che
để chống nóng.
- Bố trí thông gió tự nhiên và nhân tạo để tạo ra luồng không khí thường xuyên nơi SXKD, đồng
thời phải có biện pháp chống ẩm để NLĐ dễ bốc mồ hôi, cụ thể:
+ Thiết kế nơi làm việc: Khi thiết kế trần nhà tối thiểu phải cao 3 - 3,5 m, đối với nhà nhiều
tầng thì tăng chiều cao mỗi tầng. Thông gió nóc là một giải pháp chống nóng tốt. Tăng chiều cao
phòng trên cơ sở đảm bảo 25 – 30 m
3
khí /1 người /1 giờ và còn làm giảm nhiệt độ, giảm bức xạ
nhiệt.
+ Nên chọn hướng nhà thích hợp vì hướng nhà là một trong những biện pháp quan trọng hàng
đầu để bảo vệ nhà hàng khỏi bị nóng. Tốt nhất nên chọn hướng Nam hoặc Đông Nam, tránh hướng
Tây vì hướng này mang lại một lượng tối đa nhiệt của mặt trời trong những ngày nóng nhất. Nhà
hướng Nam có nhiệt độ thấp hơn nhà hướng Tây 2 - 3
0
C. Cần dùng tường và mái đủ độ dày, có lớp
phân cách và làm bằng vật liệu có trị số biên độ dao động nhiệt thấp nhất, có hệ số hàm nhiệt cao
như gạch, bê-tông và cần dùng rèm che ngăn nắng trực tiếp chiếu vào phòng. Nên dùng sơn tường
có màu sáng vì màu sơn trắng chỉ hấp thụ 15 - 20% nhiệt, màu vàng hấp thụ 30 - 50% nhiệt, màu
tối hấp thụ 100%; có đủ diện tích cửa sổ, cửa trời tạo điều kiện thông gió tốt.
+ Nơi làm việc dùng cửa bằng kính nên dùng loại kính có phản quang, màu mát dịu. Nếu chỉ sử
dụng loại kính bình thường hay tạo ra sự ngột ngạt và có khả năng xuất hiện “hiệu ứng nhà kính” tạm
thời, làm cho nơi làm việc trở nên nóng bức, ngột ngạt hơn.
+ Song song với các biện pháp trên, nơi làm việc cần trồng nhiều cây xanh vì cây xanh làm
giảm cường độ bức xạ nhiệt, làm giảm nhiệt độ không khí xuống 1,5 – 2
0
- Tiếng ồn là tác hại nghề nghiệp khi cường độ của chúng vượt quá giới hạn tiêu chuẩn cho phép.
- Các đặc trưng của tiếng ồn là các thông số vật lý như cường độ, tần số, phổ tiếng ồn và các thông số
sinh lý như mức to, độ cao.
- Tác hại gây ra bởi tiếng ồn phụ thuộc vào cường độ và tần số của nó.
Tác hại của tiếng ồn
- Khi chịu tác động của tiếng ồn, độ nhạy cảm của thính giác giảm xuống, ngưỡng nghe tăng lên. Khi
rời môi trường tiếng ồn đến nơi yên tĩnh, độ nhạy cảm có khả năng phục hồi lại nhanh, nhưng khả
năng phục hồi đó chỉ có một hạn độ nhất định.
- Dưới tác động kéo dài của tiếng ồn, thính lực giảm đi rõ rệt và phải sau một thời gian khá lâu sau
khi rời nơi ồn, thính giác mới phục hồi trở lại. Nếu tác động của tiếng ồn lặp đi, lặp lại nhiều lần,
thính giác không còn khả năng phục hồi hoàn toàn về trạng thái bình thườmg được. Sự thoái hóa dần
dần sẽ phát triển thành những biến đổi có tính chất bệnh lý gây ra bệnh nặng tai và điếc.
- Tiếng ồn có cường độ trung bình và cao sẽ gây kích thích mạnh đến hệ thống thần kinh trung ương;
sau một thời gian dài, có thể dẫn tới hủy hoại sự hoạt động của đầu não với những biểu hiện như đau
đầu, chóng mặt, cảm giác sợ hãi hay bực tức, trạng thái tâm thần không ổn định, trí nhớ giảm sút,
- Tiếng ồn ảnh hưởng xấu đến hệ thống tim mạch, gây rối loạn nhịp tim; làm cho hệ thần kinh bị
căng thẳng liên tục có thể gây ra bệnh cao huyết áp.
- Người tiếp xúc với tiếng ồn quá lâu, có thể bị mệt mỏi, ăn uống sút kém, không ngủ được; nếu kéo
dài sẽ dẫn đến suy nhược thần kinh và cơ thể.
Các biện pháp chống ồn
- Loại trừ nguồn phát sinh ra tiếng ồn: Dùng quá trình SX không tiếng ồn thay cho quá trình SX
có tiếng ồn; làm giảm cường độ tiếng ồn phát sinh từ máy và động cơ; giữ cho máy ở trạng thái hoàn
thiện; siết chặt bulông, đinh vít, tra dầu mỡ thường xuyên.
- Cách ly tiếng ồn và hút âm: Chọn vật liệu cách âm để làm nhà cửa; làm nền nhà bằng cao su, cát,
nền nhà phải đào sâu, xung quanh nên đào rãnh cách âm rộng 6 – 10cm.
- Lắp đặt các thiết bị giảm tiếng động của máy: bao phủ chất hấp thụ sự rung động ở các bề mặt
rung động phát ra tiếng ồn bằng vật liệu có ma sát lớn; lắp bộ phận tiêu âm trong một số máy.
- Dùng các phương tiện bảo vệ cá nhân
Phòng hộ cá nhân thu được hiệu quả tức thời và nhiều khi rất tốt cho những người bắt buộc
phải tiếp xúc với tiếng ồn. Chỉ đơn giản là dùng nút bông nút tai ở người lao động, người đi máy
với da và niêm mạc: Bụi bám vào da làm sưng lỗ chân lông gây viêm da, bám vào
niêm mạc gây viêm niêm mạc; đặc biệt, một số loại bụi len, nhựa đường có thể gây dị ứng da.
+ Đối với mắt: Bụi bám vào mắt gây ra các bệnh về mắt như viêm màng tiếp hợp, viêm giác
mác. Nếu bụi nhiễm siêu vi trùng mắt hột có thể gây bệnh mắt hột; bụi kim loại có cạnh sắc nhọn khi
bám vào mắt làm xây xát hoặc thủng giác mạc, làm giảm thị lực của mắt; bụi vôi bắn vào mắt gây
bỏng mắt.
+ Đối với tai: Bụi bám vào các ống tai gây viêm tai, nếu bụi nhiều quá có thể làm tắc ống tai.
+ Đối với bộ máy tiêu hóa: Bụi vào miệng gây viêm lợi, sâu răng. Các loại bụi hạt to nếu sắc
nhọn gây ra xây xát niêm mạc dạ dày, viêm loét hoặc gây rối loạn tiêu hóa.
+ Đối với bộ máy hô hấp: Vì bụi chứa trong không khí nên tác hại lên đường hô hấp là chủ
yếu. Bụi trong không khí càng nhiều thì bụi vào phổi càng nhiều. Bụi có thể gây ra viêm mũi, viêm
khí phế quản,
Khi hít phải loại hạt bụi rất bé có kích thước từ 0,1 - 5µm thì sẽ có 70 - 80% lượng bụi đi vào phổi và
ở trong các phế nang làm tổn thương phổi hoặc gây bệnh bụi phổi.
Biện pháp phòng và chống bụi
a. Biện pháp kỹ thuật
+ PP cơ khí hóa quá trình SX để NLĐ ít tiếp xúc với bụi; che đậy các bộ phận phát sinh nhiều bụi
bằng vỏ che, từ đó đặt ống hút thải bụi ra ngoài để phòng bụi trong công tác xay, nghiền, sàng, bốc
dỡ các loại vật liệu hạt rời hoặc dễ sinh bụi.
+ PP khử bụi bằng cơ khí và điện như: buồng lắng bụi bằng PP ly tâm, lọc bụi bằng điện, khử bụi
bằng máy siêu âm, dùng các lưới lọc bụi bằng PP ion hóa tổng hợp.
+ BP SX ướt hoặc SX trong không khí ẩm nếu ĐK cho phép hoặc có thể thay đổi kỹ thuật thi công.
+ Sử dụng hệ thống thông gió tự nhiên và nhân tạo, rút bớt độ đậm đặc của bụi trong không khí bằng
các hệ thống hút bụi, hút bụi cục bộ trực tiếp từ chỗ bụi được tạo ra. Thường xuyên tổng vệ sinh nơi
làm việc để giảm lượng bụi trong môi trường SX.
b. BP về tổ chức
+ Bố trí các xí nghiệp, xưởng gia công, phát ra nhiều bụi, xa các vùng dân cư, các khu vực nhà ở.
Công trình nhà ăn, nhà trẻ đều phải bố trí xa nơi SX phát sinh ra bụi.
+ Đường vận chuyển các nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm mang bụi phải bố trí riêng
+ Rung cục bộ do một bộ phận thân thể NLĐ trong thao tác công việc sử dụng các dụng cụ cầm tay
chạy bằng khí nén tiếp xúc với một bộ phận của máy, thiết bị hoạt động tạo thành rung một bộ phận
cơ thể NLĐ gọi là rung cục bộ. Rung cục bộ xuất hiện ở tay, ngón tay khi làm việc với cưa máy, búa
máy, máy đánh bóng. Rung gây ra chứng bợt tay, mất cảm giác, ngoài ra gây thương tổn huyết quản,
thần kinh, khớp xương, cơ bắp, xúc giác và lan rộng, thâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương,
hệ tuần hoàn nội tiết.
+ Cả hai loại rung trên tùy theo mức độ đều gây tổn thương xương, khớp, rối loạn tim mạch. Nếu
chấn động vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây BNN.
- Làm thay đổi hoạt động của tim, gây ra di lệch các nội tạng trong ổ bụng, làm rối loạn sự hoạt động
của tuyến sinh dục nam và nữ.
- Nếu bị lắc xóc và rung động kéo dài, có thể làm thay đổi hoạt động chức năng của tuyến giáp trạng,
gây chấn động cơ quan tiền đình và làm rối loại chức năng giữ thăng bằng của cơ quan này.
- Rung động kết hợp với tiếng ồn làm cơ quan thính giác bị mệt mỏi quá mức dẫn đến bệnh điếc nghề
nghiệp.
- Rung động lâu ngày gây nên các bệnh đau xương khớp, làm viêm hệ thống xương khớp. Đặc biệt
trong ĐK nhất định có thể phát triển gây thành bệnh rung động nghề nghiệp.
Các biện pháp phòng chống tác hại của rung động
- Về BP kỹ thuật
+ Thay các bộ phận máy thiết bị phát ra rung động.
+ Kiểm tra thường xuyên và sửa chữa kịp thời các chi tiết máy bị mòn và hư hỏng hoặc gia công các
chi tiết máy đặc biệt để khử rung.
+ Nền và bệ máy phải bằng phẳng và chắc chắn.
+ Cách ly những thiết bị phát ra độ rung lớn bằng những rãnh xung quanh móng máy.
+ Thay sự liên kết cứng giữa nguồn rung động và móng của nó bằng liên kết giảm rung khác để giảm
sự truyền rung của máy xuống móng.
- Về BP tổ chức SX
+ Chia nhiều ca kíp để san sẻ mức độ tiếp xúc với rung động cho NLĐ
+ Bố trí thời gian nghỉ giữa ca dài không tiếp xúc với rung động.
- Về phòng hộ cá nhân
+ Phòng hộ cá nhân có tác dụng làm giảm trị số biên độ dao động truyền đến cơ thể khi có rung động
sẽ xảy ra TNLĐ, đồng thời làm giảm NSLĐ và chất lượng sản phẩm.
- Độ chiếu sáng quá chói:
+ Cường độ chiếu sáng quá lớn hoặc bố trí chiếu sáng không hợp lý sẽ dấn đến tình trạng lóa
mắt làm cho nhức mắt, do đó làm giảm thị lực của NLĐ.
+ Hiện tượng chiếu sáng chói lóa buộc NLĐ phải mất thời gian để cho mắt thích nghi khi
nhìn từ trường ánh sáng thường sang trường sang trường ánh sáng chói và ngược lại sẽ làm giảm sự
thụ cảm của mắt, làm giảm NSLĐ, tăng phế phẩm và TNLĐ.
Các PP chiếu sáng trong SX
Trong SX thường lợi dụng 3 loại ánh sáng: tự nhiên, nhân tạo và hỗn hợp. Ở mỗi nơi làm việc, tùy
thời gian khác nhau mà sử dụng 1 trong 3 loại ánh sáng trên. Trong tất cả các trường hợp đều nên lợi
dụng ánh sáng tự nhiên vì rẻ tiền nhất và có ảnh hưởng tốt đối với con người.
a. Chiếu sáng tự nhiên
+ Có thể theo các cách: chiếu sáng qua cửa trời hoặc cửa sổ lấy ánh sáng trên cao; chiếu sáng qua cửa
sổ tường ngăn hoặc kết hợp 2 hình thức trên.
+ Đặc điểm của ánh sáng tự nhiên: thay đổi trong phạm vi rất lớn, phụ thuộc vào thời gian trong
ngày, mùa trong năm và thời tiết. Trong một thời gian ngắn, độ chiếu sáng tự nhiên có thể thay đổi
khác nhau vài lần, cho nên độ chiếu sáng trong phòng không nên đặc trưng và quy định bởi đại lượng
tuyệt đối như đối với chiếu sáng nhân tạo.
b. Chiếu sáng nhân tạo
+ Chiếu sáng nhân tạo có thể là chiếu sáng chung, cục bộ và kết hợp.
+ Trong ĐK SX, để cho ánh sáng phân bố đều chỉ nên tổ chức chiếu sáng chung hoặc kết hợp; không
được chiếu sáng cục bộ vì: sự tương phản giữa những chỗ quá sáng và chỗ tối làm cho mắt mệt mỏi,
giảm NSLĐ, có thể gây ra chấn thương.
Nguồn sáng nhân tạo có thể là đèn dây tóc, đèn huỳnh quang, đèn đặc biệt và đèn hồ quang điện.
- Đèn dây tóc có độ chói quá lớn gây ra tác dụng lóa mắt. Để loại trừ tác dụng đó, người ta dùng chao
đèn (loại chiếu thẳng đứng, phản chiếu và khuếch tán).
- Đèn huỳnh quang được sử dụng rộng rãi trong một số lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là nơi cần
phân biệt màu sắc hoặc yêu cầu độ chính xác cao. Đèn huỳnh quang có ưu điểm: phân tán ánh sáng
tốt, ít chói hơn đèn dây tóc vài lần và hầu như xóa được ánh sáng đèn và gần như ánh sáng tự nhiên;
tiêu thụ ít điện, phát quang tốt và thời gian sử dụng được lâu hơn. Đèn huỳnh quang có nhược điểm: