BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Đồ án tốt nghiệp
CHƯƠNG TRÌNH
QUẢN LÝ ĐIỂM TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
GVHD : Thầy NINH XUÂN HẢI SVTH : NGÔ KIẾN THANH MSSV : CTH2- 010
LỚP : B2 CÀ MAU
GVHD: Thầy NINH XUÂN HẢI
SVTH:NGÔ KIẾN THANH MS : CTH2 – 010
Tháng 11/2004
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA Giáo Viên Hướng Dẫn
Đề tài:
CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ ĐIỂM TRƯỜNG THPT
Tp. Hồ Chí Minh, Ngày….tháng…. năm 2004
NGƯỜI NHẬN XÉT
(Ký tên và ghi rõ họ tên )
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA Giáo Viên Phản BiệnĐề tài
: CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ ĐIỂM TRƯỜNG THPT
PHẦN DÀNH CHO KHOA, BỘ MÔN
Người duyệt (chấm hồ sơ):
Đơn vị:
Ngày bảo vệ:
Điểm tổng quát:
Nơi lưu trữ đồ án:
1
CHƯƠNG 0 :LỜI MỞ ĐẦU
THPT, từ đó xây dựng một Web Site hổ trợ việc quản lý và xem điểm của học sinh
trên mạng Internet .
II.2. Nội dung :
Chương trình cho phép nhà quản trị quản lý, cập nhật các thông tin như : Lớp
học, môn học, hồ sơ học sinh và điểm, thống kê, báo cáo tình hình học tập của lớp
theo từng môn học, học kỳ và niên khóa .
2
Cho phép học sinh xem điểm của mình theo từng môn học, học kỳ. Học sinh
cũng có thể xem bảng điểm của lớp mình theo từng môn học.
II.3. Phương pháp tiếp cận :
Nghiên cứu và tìm hiểu các ngôn ngữ lập trình mới và chọn ra ngôn ngữ lập
trình hổ trợ mạnh cho môi trường mạng và có tính bảo mật cao. Nghiên cứu tìm hiểu
các kỹ thuật và công cụ tạo Web Site sinh động nhằm tạo ra giao diện đẹp mắt, dể tiếp
cận với người sử dụng.
Nghiên cứu các mô hình xử lý dạng khách/chủ (Client/Server), tìm hiểu về tình
hình phát triển Internet để chọn lựa giải pháp tốt nhất áp dụng vào đề tài.
II.4. Các phương pháp đã được sử dụng trong đề tài :
Sử dụng các tập tin .JSP kết hợp với các lệnh JavaScript để kết nối, thao tác
trên cơ sở dữ liệu và xử lý các thao tác của ngưởi sử dụng.
Sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server 2000 làm Database Server.
Sử dụng IIS (Internet Information Services) làm Web Server dựa trên hệ điều
hành Window xp.
Sử dụng ODBC Data Sources (32 bit) trong Window xp để kết nối cơ sở dữ
liệu.
II. Kiến trúc mạng của SQL Sever Trang 12
III. Các cấu hình cơ bản của SQL Server Trang 15
IV. Transact_SQL Trang 16
V. Kiến trúc của SQL Server Database Trang 17
Chương IV: JDBC VÀ VIỆC KẾT NỐI CƠ SỞ DỮ LIỆU Trang 20
I. Mở đầu Trang 20
II. Kết nối cơ sở dữ liệu Trang 20
1. Các trình điều khiển trong JDBC Trang 20
2. Sử dụng trình điều khiển JDBC kết nối cơ sở dữ liệu Trang 22
PHẦN B: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG
Chương I: KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ TÌM HIỂU BÀI TOÁN Trang 27
I. Phân tích hiện trạng Trang 27
II. Các chức năng quản lý Trang 29
III. Mô hình mạng của hệ thống Trang 30
Chương II: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG Trang 31
I. Mô hình chức năng Trang 31
1. Sơ đồ chức năng của sinh viên Trang 31
2. Sơ đồ chức năng của người quản trị Trang 31
II. Sơ đồ ngữ cảnh Trang 32
III. Mô hình xử lý DFD Trang 33
IV. Mô hình thực thể kết hợp ERD Trang 36
V. Chuyển từ mô hình ERD sang mô hình Quan hệ Trang 37
VI. Xác định các mối liên kết Trang 39
VII. Mô tả các ràng buộc Trang 40
CHƯƠNG I :
TÌM HIỂU
INTERNET- INTRANET- WORLD WIDE WEB
Internet, Intranet và World Wide Web ngày nay có mặt ở khắp nơi trên thế
giới. Những thuật ngữ như “siêu xa lộ thông tin ” đã trở thành những từ ngữ thông
dụng trên mọi phương tiện quảng cáo, truyền thông, truyền hình, báo chí…
I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MẠNG INTERNET:
Internetbắt nguồn từ mạng APARNET trực thuộc bộ quốc phòng Mỹ và
được mở rộng cho các viện nghiên cứu, sau này được phát triển cho hàng triệu
người cùng sử dụng như ngày hôm nay. Ban đầu các nhà nghiên cứu liên lạc với
nhau qua mạng bằng dịch vụ thư điện tử, sau đó phát sinh thêm một số mạng máy
tính như mạng Usernet, ngày nay là dịch vụ bảng tin điện tử. Mạng này được thiết
lập đầu tiên ở University of North Carolina mà qua đó người dùng có thể gửi và đọc
các thông điệp theo các đề tài tự chọn. Ơ Việt Nam thì Mạng Trí Tuệ Việt Nam của
công ty FPT là mạng đầu tiên được xây dựng theo dạng bảng tin điện tử.
Các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới tham gia vào hệ thống thông tin mở
này, những người dùng với mục đích thương mại và công chúng cũng tham gia vào
hệ thống này thông qua các nhà cung cấp dịch vụ Internet. Vì thế gây ra sự phát
triển bùng nổ thông tin liên lạc toàn cầu qua máy tính. Đó là mạng Internet ngày
nay.
Internetcó thể tạm hiểu là liên mạng gồm các máy tính kết nối với nhau theo
một nhgi thức và một số thủ tục chung gọi là TCP/IP (Transmission Control
Protocol/Internet Protocol). Mỗi máy tính trên mạng có một địa chỉ IP tương ứng.
Để liên lạc giữa máy này với máy kia bạn có thể sử dụng địa chỉ IP của máy hay tên
Server được nối với nhau trên Internet, mỗi Server có địa chỉ riêng bắt đầu bằng
http://
Ngày nay nhiều công ty và trường học đã thiết kế một loại Internet cục bộ mang
tên là Intranet, mỗi phòng ban hoặc mỗi nhân viên cao cấp sẽ có riêng cho mình
một Home page (trang chủ) và tất cả các Home page đều tập trung ở một nơi gọi là
Web Server (là máy quản trị Web ). Nếu các mạng cục bộ Intranet này được kết nối
với các mạng cục bộ khác với các nước trên thế giới thông qua đường dây điện
thoại được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ Internet thì chúng ta sẽ hình
thành được một hệ thông gọi là Internet. Lúc bây giờ một người sử dụng có thể truy
cập vào các trang Home page bất kỳ trên một Web Server nào trên thế giới thông
qua các siêu liên kết văn bản.
Trang web hoạt động như thế nào ?
Dịch Vụ Word Wide Web:
Có nhiều phần mềm có thể làm dịch vụ Word Wide Web như Microsoft
Internet Information Server (chạy trên Windows NT Server ) hoặc Frontpage98
Server Extension (chạy trên Windows 95 và Windows NT ). Cơ chế hoạt động của
Web Server :
Dịch vụ Web xây dựng theo mô hình Client/Server (khách/chủ ), trong đó
Web Browser đóng vai trò là Client gửi các yêu cầu dưới dạng URL đến Server.
Web Server trả lời bằng cách trả về một trang HTML. Trang HTML có thể là một
trang Web tĩnh, tức là nội dung của nó đã có dạng xác định và được lưu trên Web
Site, hoặc một trang Web động (nội dung không xác định trước ) mà Server tạo ra
tại thời điểm Client yêu cầu trả lời cho yêu cầu của Client, hoặc một trang liệt kê
các files và folder trên Web Site.
Bảng sau đây ví dụ các địa chỉ URL khac nhau:
Protocol Domain Name Path
Http:// www.Hcmttt.Edu.Vn /gioithieu.HtmHttpps://
www.Com.com/catalo/orders.Htm(Secure HTTP)
Gopher://gopher.College.Com / research/satronomy/index.HtmWeb Server
trả lời yêu cầu của Web Browser:
Web Server sẽ trả một trang HTMLvề cho Web Browser, các trang HTML
thuộc một trong ba kiểu sau:
III.1.Trang Web tĩnh:
Là những trang HTML được chuẩn bị sẵn. Web Server chỉ đơn giản là lấy
trang này gửi về cho Web Browser mà không gọi thi hành một chương trình hay
một Script nào khác Người dùng yêu cầu một trang Web tĩnh bằng cách nhập vào
một chuỗi URL hoặc Click chuột vào một siêu liên kết trỏ tới URL.
III.2.Trang Web Động:
CHƯƠNG II :
TÌM HIỂU NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH JSP
(JAVA SERVER PAGES)
Công nghệ Java Server Pages (viết tắt là JSP) là công nghệ Java dựa trên
nền J2EE để xây dựng những ứng dụng chứa nội dung trang Web động như :
HTML,DHTML, XHTML và XML. Công nghệ JSP có khả năng tạo ra những trang
Web với nội dung linh hoạt có vai trò quan trọng trong việc phát triển các ứng dụng
Web.
Một trang JSP (.JSP) là một trang HTML hay XML trong đó có chứa mã
Java, phần HTML chịu trách nhiệm về việc định dang văn bản, mã chương trình
xen lẫn trong văn bản dùng để diễn đạt các thao tác xử lý dữ liệu hoặc nối kết với cơ
sở dữ liệu (Database). Trang Web truyền thống (dùng HTML) được trình chủ Web
gửi ngay đến cho máy khách (Client) khi có yêu cầu , còn các trang JSP phải chạy
qua một guồng máy (Engine) riêng biệt ở đó phần mã chương trình được tách ra
Trang JSP khi chạy, mã Java sẽ được biên dịch thành JavaServlet và servlet
này chạy trên máy ảo Java (JVM) ở phía máy chủ (Web Server). Mã Java được biên
dịch khi máy khách truy xuất trang JSP lần đầu tiên. Tập tin .jsp có cấu trúc giống
như tập tin .html truyền thống, nhưng khác ở chỗ là tập tin .jsp có xen lẫn mã Java.
Mã Java được tách biệt với phần HTML thông thường bằng cặp dấu <% và %>.
I.CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA JSP
Công nghệ JSP gắn liền với Servlet. Mã Java trong trang JSP được biên dịch
thành Servlet khi trình duyệt phía khách (Client) truy xuất trang JSP lần đầu tiên.
Quá trình diễn ra như sau: mã Java được tách ra khỏi nội dung bình thường của
trang JSP, tạo thành mã nguồn của Servlet. Kết quả xử lý của Servlet được thay vào
chỗ biểu thức JSP trong trang Web ban đầu (trang Web mà trình duyệt nhận được là
trang HTML thuần tuý ).
II. NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT CỦA CÔNG NGHỆ JAVA SERVER PAGE (JSP )
+ Tận dụng được sức mạnh của ngôn ngữ lập trình Java:
Do nền tảng của JSP dựa trên Java nên JSP cũng tận dụng được các ưu điểm
trên. JSP cung cấp một phương pháp rất mạnh để xử lý yêu cầu từ Client, cũng như
những ưu việt trong chế độ an toàn, chống rò rỉ bộ nhớ (memory leak) và hỗ trợ chế
độ xử lý đa tuyến đoạn (multithreading ).
+ Quá trình phát triển, triển khai và duy trì phát triển ứng dụng Web trở nên
dễ dàng và nhanh chóng
JSP đã làm đơn giản hoá và tăng tốc quá trình phát triển ứng dụng Web.
Thay cho việc phải viết một chương trình Java, giờ đây người ta chỉ cần tạo một
trang HTML, thêm các thẻ tựa XML (XML - like tags) và nếu cần thiết sử dụng
những công cụ quen thuộc khi thực hiện những xử lý phức tạp.
III.MÔ HÌNH ỨNG DỤNG DÙNG CÔNG NGHỆ JAVA SERVER PAGES (JSP)
Một trang JSP sẽ được sử lý bởi một JSP Engine(được cài đặt trên Web
Server hay Application Server hỗ trợ công nghệ JSP ). JSP Engine nhận yêu cầu từ
Client đến trang JSP và phát sinh những phản hồi từ trang JSP nhận về Client.
Những trang JSP được biên dịch thành JavaServlets. JavaServlets là một sự
mở rộng của Java chuẩn. Do đó các nhà phát trển có thể truy xuất đến môi trường
ứng dụng Java đầy đủ với tất cả các sức mạnh và sự linh động vốn có của họ Java.
Khi một trang JSP được gọi lần đầu tiên nếu chưa tồn tại sẽ được biên dịch
thành một Servlet class và được lưu trữ trong bộ nhớ của Server. Điều này cho phép
sự hồi đáp nhanh chóng đối với những yêu cầu tiếp theo đến trang này.
Trang JSP có thể sử dụng trong nhiều kiến trúc khác nhau và cũng có thể kết
hợp với các Protocol, Components khác nhau. Một vài mô hình có thể có.
III.1.Mô hình ứng dụng đơn giản
Trong một ứng dụng đơn giản Browser sẽ trực tiếp gọi trang JSP. Đến lượt
trang này lại phát sinh một yêu cầu (có thể thông qua JDBC để nhận thông tin từ
Database) nhằm tạo ra kết quả đáp ứng yêu cầu của Browser. Sau đó tạo ra trang
HTML chuẩn và gửi trả trang này về cho Browser.
JSP. Trang JSP sẽ truy cập nội dung động của Bean và gởi kết quả (dữ liệu HTML)
về cho Web Browser. Phương pháp này tạo nên nhiều tàhnh phần có thể dùng lại và
chia sẽ giữa nhiều ứng dụng.
III.3. Kết hợp với Enterprise JavaBean
Trang JSP cũng có thể hoạt động như một tầng giữa trong kiến trúc
Enterprise JavaBean. Trong trường hợp này trang JSP tương tác nhiều tài nguyên
dựa vào thành phần Enterprise JavaBean.
Thành phần Enterprise JavaBean quản lý việc truy cập đến những tài nguyên, cung
MaHS do Client gửi đến Server.
IV.3. Đối tượng out: Dùng để xuất các thông tin ra màn hình của trang
duyệt. Thay vì với màn hình ở chế độ console, Java sử dụng đối tượng out của lớp
System. Ơ đây - với scriptlet Java- sử dụng đối tượng out để có tác động giống như
việc hiển thị văn bản giống như Web. Đây là đối tượng của lớp
javax.servlet.jsp.Writer. Với các hàm clear(), clearBufer(), flush(), getBffer(),
getRemaining().
Ví dụ: out.print(“Chào các bạn !”); //câu lệnh này sẽ xuất ra màn hình câu :
Chào các bạn !
IV. 4. Đối tượng session: Là một phiên làm việc giữa trình duyệt và Web
Server. Phiên làm việc tính từ thời điểm mở trình duyệt cho đến lúc đóng trình
duyệt.
Biến session là biến tồn tại trong một phiên làm việc. Do đó khi truy xuất các
trang trong một phiên làm việc thì biến session là một biến dùng chung. Bằng cách
dùng biến session ta không cần gửi dữ liệu đi từ trang này sang trang khác bằng
biến hidden. Để tạo biến session Java cung cấp đối tượng session có các phương
thức sau
public void setAttribute(String name, Object value)// tạo biến session tên là
name, giá trị là value.
public Object getAttribute(String name)// lấy giá biến session tên name. Nếu
giá trị không tồn tại sẽ trả về null.
public void removeAttribute( String name)// hủy biến session tên name
invalidate() //hủy tất cả biến session.
IV.5. Đối tượng application: là biến dùng chung cho mọi phiên làm việc.
Tất cả các trang ở mọi phiên làm việc khác nhau đều có thể truy cập đến
application. Java cung cấp đối tượng application để quản lý các biến application.
Đối tượng application cũng có các phương thức giống như session.
IV.6. Đối tượng cookie: Là biến được lưu trữ ở máy client trong khi biến
session và application được lưu trữ ở server. Biến cookie cũng giống như biến
session. Tức là mặc định chỉ tồn tại trong một phiên làm việc. Các phương thức để
IV.9. Đối tượng Exception: Đối tượng này chỉ tồn tại trong trang xử lý lổi
(error pagers). Nó dùng để tham chiếu đến nguyên nhân gây ra lổi mà trang error có
liên quan.
CHƯƠNG III :
GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ SQL SERVER 2000
I.GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ SQL SERVER 2000:
Microsoft SQL Server 2000 là một công cụ thiết kế và xây dựng cơ sở dữ
liệu có tính thực thi cao. Nó cho phép thích ứng theo qui mô đi từ một mạng cục bộ
LAN (local area network) ở phòng ban cơ quan xí nghiệp nâng dần lên mạng diện
rông WAN (wide area network) của một số tổng công ty với nhiều chi nhánh trên
toàn quốc hoặc trên toàn thế giới. SQL Server duy trì một số tập tin CSDL (cơ sở
dữ liệu) cốt lõi dành cho những ứng dụng tự tạo sử dụng ngôn ngữ lập trình triển
khai như : ASP, JSP, Visual Basic, Visual C++…
SQL Server là một hệ thống CSDL Window 32 bit, nên tận dụng được những
lợi ích do việc hội nhập chặt chẽ của hệ điều hành Windows NT đem lại. Với những
CSDL qui mô nhỏ, SQL Server có thể chạy trên những hệ điều hành Win 9x với
dung lượng RAM tối thiểu 32 MB. Đối với những CSDL qui mô lớn, SQL Server
có thể tận dụng sự hổ trợ của Win NT.
Đồ án tốt nghiệp CT Quản lý điểm trường THPT
Trang 11
Đây là hệ quản cơ sở dữ liệu mạnh có tính mở, đáng tin cậy, là hệ thống theo
OLE DB
Application
ODBC
Application
DB
Library
Transac-
SQL
SQL Server SQL Server
liệu dựa trên kỹ thuật gọi là COM. Nó hổ trợ những ứng dụng được
viết để sử dụng OLE DB hoặc những giao diện đối tượng dữ liệu (
data object interface) sử dụng OLE DB như ADO chẳng hạn : OLE
DB được thiết kế để làm việc với cơ sở dữ liệu quan hệ, cũng như với
những nguồn dữ liệu không mang tính quan hệ.
OLE DB sẽ sử dụng một Provider để có thể thâm nhập vào
một số nguồn dữ liệu ( data source) đặc biệt nào đó. Những Provider
dùng cho SQL Server, Oracle, Jet ( CSDL Access) và ODBC được
cung cấp cùng với SQL Server. Nếu dùng OLE DB Provider for
ODBC có thể dùng OLE DB để thâm nhập vào bất cứ nguồn dữ liệu
ODBC nào.
Giao diện ODBC : Giao diện ODBC là loại giao diện gọi hàm API.
Nó trực tiếp truy xuất nghi thức TDS (Tabular Data Stream) của SQL
server và chịu hỗ trợ những ứng dụng hoặc cấu thành được viết dùng
ODBC hoặc những giao diện đối tượng cơ sở dữ liệu sử dụng ODBC
như DAO hoặc RDO chẳng hạn. ODBC được thiết kế để chỉ làm việc
với những CSDL quan hệ. ODBCsử dụng một trình đạo diễn (driver)
để có thể thâm nhập vào một nguồn dữ liệu đặc biệt nào đó.
Các Giao Diện Data Object: nhìn chung giao diện data object dễ
dàng hơn là database API nhưng có thể không trưng ra nhiều chức
năng như API. ADO(AciveX Data Object) là giao diện Data object
dùng với OLE DB, còn RDO (Remote data Object) là giao diện data
object dùng với ODBC.
- ActiveX Data object (ADO): ADO bao trọn những API của
OLE DB trong mô hình dữ liệu đơn giản hơn giúp giảm đi công sức
triển khai ứng dụng cũng như chi phí bảo trì. ADO có thể được dùng
từ mô hình kịch bản đối tượng trên Visual Basic,Visual C++, Visual
Foxpro 6,Active server Pages vàInternet Explore.
Đồ án tốt nghiệp CT Quản lý điểm trường THPT
Open Data Server: Cung cấp một giao diện như : thư viện mạng
server (server network library) và SQL server engine (MSSQL
Server). Cấu thành này giải quyết những đầu nối mạng, chuyển yêu
cầu của Client cho SQL Server để xử lý rồi trả về bất kỳ kết quả gì
cho SQL Server Client. ODS tự động nghe tất cả các server network
library được cài trên server.
MSSQL Server: Gồm những dịch vụ lo quản lý tất cả các tập tin
thuộc thành phần SQL server database. Nó chịu trách nhiệm xử lý các
câu lệnh SQL cũng như cấp phát các nguồn lực hệ thống.
SL Server Agent: SQLServer Agent là dịch vụ hoạt động phối hợp
với MSSQL server cho phép thực hiện những công tác như: quản lý
báo động (*alert management), thông tri (notification), thi hành “công
MSDTC
SQL Server Agent
MSSQL Server
Open data server