1. KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ TRIỂN KHAI
NHIỀU CHƯƠNG TRÌNH GDTX NĂM 2013
2. ĐẶT VẤN ĐỀ:
2.1. Tầm quan trọng của vấn đề
- Quản lý nói chung được gọi là một "nghề " thì quả là một "nghề " khó.
Quản lý giáo dục, với đặc thù và tính xã hội rộng lớn mà sản phẩm là CON
NGƯỜI nên đã là rất khó thì quản lý giáo dục thường xuyên (GDTX) với những
đặc trưng riêng của ngành học lại càng khó hơn.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, gần 30 năm tiến hành
công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục và đào tạo với vị trí "là quốc sách hàng
đầu" đã và đang tích cực đổi mới, chủ động phấn đấu để hoàn thiện nền giáo dục
nước nhà với chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông (trong đó có
GDTX) những năm qua, tiếp tục đổi mới giáo dục mầm non, giáo dục chuyên
nghiệp hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của xã hội thời
kỳ CNH.HĐH đất nước và hội nhập thế giới vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh.
Nói GDTX "còn khó hơn" là bởi vì, bản thân GDTX- theo Luật giáo dục
2005- đã là một hệ thống giáo dục xuyên suốt các cấp học, bậc học (từ mẫu giáo
đến đại học và cả thạc sĩ, tiến sĩ) bao gồm cả các chương trình giáo dục phổ
thông (GDPT) và các chương trình giáo dục nghề nghiệp, chuyên nghiệp trong
hệ thống giáo dục quốc dân. Mặt khác, về tổ chức, biên chế và hoạt động của
GDTX lại theo cơ chế "mở" nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội và nhu cầu học
tập của mọi đối tượng: Những người muốn học, những người cần học và cả
những người phải học vì công việc Nói cách khác, quản lý GDTX là quản lý
một ngành học có tính độc lập tương đối, đòi hỏi tính chủ động, năng động, sáng
tạo cao của mỗi người cán bộ quản lý và cả bộ máy quản lý của một cơ sở giáo
dục.
Nâng cao chất lượng là mục tiêu, là đích cuối cùng; Đổi mới toàn diện để
có các điều kiện cần, đủ tối thiểu (vật chất) và tạo được động lực (tinh thần) cho
đội ngũ nhà giáo, những người làm giáo dục đẩy mạnh phong trào thi đua "hai
1
quyết định, chiến lược con người là chiến lược hàng đầu và giáo dục phải trở
thành quốc sách của mọi quốc sách. Đặc biệt, từ những năm đầu tiến hành công
cuộc đổi mới (Đại hội VI) đến nay, Đảng ta liên tục thể hiện quan điểm nhất
quán về giáo dục qua các kỳ Đại hội (VII-X) tập trung là Nghị quyết TW2 (khoá
VIII) và Nghị quyết chuyên đề đánh giá tình hình và kết quả thực hiện NQTW2
(khoá IX-X). Từ Đại hội VII và Hội nghị BCH TW7 (khoá IX), Đảng ta đã phát
động phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng cả nước thành một xã hội học
tập". Hơn 10 năm qua, cùng với cơ chế, chính sách đầu tư của nhà nước, phong
trào đã đi vào cuộc sống một cách mạnh mẽ, đạt được nhiều kết quả.
- Để thực hiện đường lối, các quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành
Luật giáo dục 1998, sửa đổi Luật 2005 và tiếp tục điều chỉnh, bổ sung tại kỳ họp
lần thứ VI- Quốc hội khoá 12. Chính phủ đã ban hành các quyết định phê duyệt
"Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010", đề án xây dựng xã hội học tập
2005-2010, cụ thể chủ trương xã hội hoá các lĩnh vực phục vụ công ích (trong
đó có giáo dục), đề án dạy và học Ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân,
kế hoạch tổng thể phát triển nhân lực về CNTT đến 2015 định hướng đến 2020
Cùng với các chương trình, mục tiêu quốc gia về phổ cập giáo dục các cấp, đào
tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn và đào tạo nghề, trung cấp, CĐ đến
ĐH.
- Trên cơ sở đó, Bộ giáo dục và đào tạo ban hành các quyết định: Tổ chức
và hoạt động của các loại hình trường lớp trong và ngoài công lập cho cả hệ
thống giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Riêng GDTX là:
+ Quyết định số 01/2007/QĐ.BGD&ĐT ngày 02/01/2007 ban hành "Quy
chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên".
+ Quyết định số 44/2008/QĐ.BGD&ĐT ngày 30/7/2008 ban hành "Quy
chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp-Hướng nghiệp".
(TTKTTH.HN)
+ Quyết định số 07/2002/QĐ.BGD&ĐT ngày 19/3/2002 "Quy định về
hình thức tự học có hướng dẫn trong các Trung tâm GDTX".
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm GDTX (10/1993). Đầu năm 1996,
4
theo ch o ca tnh, Trung tõm lm ỏn chuyn Trung tõm GDTX thnh
Trung tõm KTTH.HN.DN (Quyt nh s 564/Q.UB ngy 16/3/1996 ca
UBND tnh). Vi chc nng, nhim v mi. Tuy vy, Trung tõm xỏc nh vn
tip tc duy trỡ, phỏt trin cỏc chng trỡnh GDTX lm c s, iu kin v nn
tng cho phỏt trin ng thi thc hin hot ng GDLHN. Tuy nhiờn, gn 20
nm qua vi s phỏt trin nhanh, mnh ca khoa hc v cụng ngh nht l cụng
ngh thụng tin. Xu th hi nhp ton cu ũi hi ngun nhõn lc cht lng cao
cho s nghip CNH.HH t nc. Nhng ch trng v xó hi hoỏ mt s lnh
vc hot ng xó hi, trong ú cú GD&T.
Theo hng a dng loi hỡnh trng lp theo nguyờn lý "Nh nc v
nhõn dõn cựng lm", h thng trng chuyờn nghip c nõng cp hot ng
theo phng chõm a ngnh, a ngh. Mt khỏc l, chng trỡnh quc gia v
ph cp tiu hc (PCTH), ph cp THCS ỳng tui ang giai on nhng
nm cui v ang thc hin chng trỡnh PCTrH. i tng cú nhu cu nõng
cao trỡnh vn hoỏ ngy cng gim bi ch trng phõn lung v hiu qu ca
hot ng GDL.HN. Thc trng trong nhng nm hc 2005-2013 v s lng
GDTX (THPT).
Năm học
Tổng số
học viên
Hs THCS
lên
Ngời
lao động
So sánh %
2005-2006 1138 720 418 100
2006-2007 966 653 313 84,9
phỏp lut i vi CB.VC v nhng iu ng viờn khụng c lm.
Luụn bit lng nghe, tip thu, hc tp v tớch lu kinh nghim cú phm
cht, t cht cn thit ca ngi cỏn b qun lý. Tip tc rốn luyn v k nng
lónh o, tp hp c sc mnh ca tp th s phm v cựng b mỏy qun lý
trong Trung tõm vn hnh ng b, thng nht cao. Vi ý thc nõng cao trỏch
nhim cỏ nhõn ph trỏch.
Trờn c s thc hin nghiờm tỳc nguyờn tc tp trung dõn ch, nguyờn tc
tp th lónh o, cỏ nhõn ph trỏch, bn thõn s phi nõng cao ý thc, tinh thn
trỏch nhim cựng vi tp th qun lý, tp th lónh o Trung tõm trin khai thc
hin nhng nhim v v gii phỏp ch yu sau:
5.2.1. Tng cng cụng tỏc giỏo dc chớnh tr, lónh o t tng:
- Quỏn trit ng li, cỏc quan im, chớnh sỏch ca ng v phỏp lut
ca nh nc v v trớ, vai trũ ca GD-T v GDTX núi riờng trong cụng cuc
CNH.HH thi k hi nhp v yờu cu ca xó hi, mi cỏn b qun lý, cỏn b
6
lãnh đạo phải cùng với tập thể lãnh đạo làm cho tập thể sư phạm chuyển biến, có
nhận thức đúng, đầy đủ yêu cầu về đổi mới toàn diện hoạt động GDTX trước sự
vận động của trong và ngoài ngành là điều kiện quyết định sự tồn tại, ổn định,
tiếp tục phát triển. Trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý tài chính, đầu tư các
điều kiện dạy - học, thực hiện đa dạng nội dung, chương trình học tập theo tinh
thần "dạy cái xã hội cần". Mặt khác, phải chú trọng tìm và áp dụng các giải pháp
đảm bảo sự ổn định, từng bước nâng cao chất lượng dạy - học, là đổi mới
phương pháp dạy - học, ứng dụng CNTT hợp lý, hiệu quả; đổi mới công tác
kiểm tra, đánh giá.
- Tiếp tục làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền giáo dục, làm chuyển
biến nhận thức về GDTX, lợi ích của hoạt động đồng thời thực hiện các chương
trình GDPT và giáo dục nghề nghiệp, các chương trình nâng cao kỹ năng sống
và hội nhập tạo được sự đồng thuận trong nhân dân trực tiếp là học sinh, học
viên và cha mẹ học sinh.
5.3. Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục:
Trước mắt, dễ nhận thấy là những khó khăn, thách thức, cản trở đối với
GDTX còn nhiều cả khách quan và chủ quan, cả về lý luận và thực tiễn theo xu
thế phát triển. Mặt khác, cũng cần thấy rõ thời cơ và điều kiện mới mà chỉ có
GDTX để phát huy thế mạnh đó là: Nhu cầu nguồn nhân lực được đào tạo, qua
đào tạo, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ để thực hiện các
chương trình "thay thế", "bổ sung", nền kinh tế hội nhập đòi hỏi người lao động
cần có trình độ giao tiếp quốc tế (phổ thông và kỹ thuật). Biết nắm bắt thời cơ,
điều chỉnh định hướng cho phát triển trong những năm tới là điểm mấu chốt rất
quan trọng.
- Đổi mới tư duy về GDTX: Trên cơ sở tiếp tục duy trì ổn định và phát
triển BTTH các cấp thực hiện mục tiêu "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực "
làm nền tảng.
- Triển khai đồng bộ các giải pháp phối hợp trong và ngoài Trung tâm,
giữ vững, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục là điều kiện để khẳng định
thương hiệu, làm thay đổi nhận thức của dư luận xã hội; tạo động lực và niềm
tin cho người học.
8
- Triển khai thực hiện đa dạng chương trình, nội dung, cách thức tổ chức
học tập, tạo điều kiện, cơ hội học tập cho mọi đối tượng có nhu cầu theo phương
châm "cần gì học nấy". Trong đó cần chú trọng vai trò của Trung tâm GDTX
cấp huyện (thành phố) về nghiệp vụ tổ chức và hoạt động của Trung tâm HTCĐ
(xã, phường) trên địa bàn nhằm khẳng định vai trò, vị trí và tác dụng của cả hệ
thống GDTX.
- Tăng cường mở rộng hợp tác, phối hợp với Phòng GD&ĐT, tranh thủ
vai trò quản lý nhà nước về GDTX và các trường chuyên nghiệp trong và ngoài
địa bàn phát triển đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, đào tạo liên thông theo
các quy định của pháp luật. Thực hiện chủ trương của tỉnh, Trung tâm khẩn
trương hoàn thiện các điều kiện đào tạo nghề ngắn hạn để thực hiện từ 2013.
hệ thống GDTX.
5.5. Công tác quản lý người học:
- GDTX là một ngành học phong phú, đa dạng về đối tượng, độ tuổi, nội
dung, chương trình và hình thức học tập. Rõ ràng là hiện tại đã và đang thực
hiện nhiều chương trình và đề án mới. Bởi vậy trước hết, những người làm
GDTX, người học theo chương trình GDTX cần có sự chuyển biến rõ về nhận
thức và hành động cụ thể. Tuyên truyền trong dư luận xã hội xoá đi nhận thức
chưa đúng về BTVH, những mặc cảm, khoảng cách giữa GDCQ và GDTX để
có động cơ, thái độ học tập đúng; Phấn đấu không ngừng để có kết quả học tập
tốt cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ, đáp ứng được các yêu cầu phát triển đất
nước thời kỳ CNH.HĐH và hội nhập quốc tế.
- Lấy chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục làm tiêu chí đánh giá hoạt
động của cả thầy và trò. Bởi vậy, cần thiết phải xây dựng những quy định cụ thể
tăng cường trật tự, kỷ cương hoạt động giáo dục trước hết là kỷ cương dạy - học.
Đồng thời tiếp tục có nhiều hình thức, nội dung được tổ chức và có tổ chức
trong phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" thông qua
đổi mới hoạt động giáo dục ngoài giờ, xây dựng các mối quan hệ trong và ngoài
Trung tâm thật tốt, làm cho môi trường sư phạm, môi trường học đường thực sự
lành mạnh, phát huy vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của người học.
Những hoạt động này vừa có ý nghĩa giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, kỹ
năng sống vừa có tác dụng hạn chế, đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn XH xâm nhập vào
10
trường học và học sinh, học viên; làm cho hoạt động giáo dục thế hệ trẻ và sự
nghiệp giáo dục cho mọi người thực sự là sự nghiệp của toàn xã hội.
- Bằng các biện pháp quản lý và giáo dục, chú trọng nhiệm vụ công tác
kiểm tra, đánh giá đảm bảo cho kết quả hoạt động giáo dục mang tính khách
quan, công bằng, chính xác trên cơ sở thực hiện đúng quy trình dân chủ, công
khai, minh bạch các nội dung, điều kiện thực hiện nhiệm vụ và kết quả giáo dục.
6. Kết quả nghiên cứu:
tiến bộ sau những năm thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ.CP; Tiếp tục rút kinh
nghiệm, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo
cơ chế: Phân cấp, phân quyền, dân chủ và phương thức: Tương tác, đa chiều, lấy
nhiệm vụ chính trị của đơn vị làm trọng tâm. Trên cơ sở thực hiện tốt nguyên tắc
tập trung dân chủ, thực hiện chế độ thủ trưởng (trong đơn vị và bộ phận) vừa
nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, vừa phát huy cao năng lực, trí tuệ của
cả tập thể sư phạm, tính năng động, sáng tạo của mỗi một thành viên trong
Trung tâm.
- Về giải pháp quản lý:
+ Triển khai thực hiện đổi mới toàn diện công tác quản lý tạo bằng được
mối quan hệ gắn bó, cùng có trách nhiệm giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
Trong đó chú trọng quản lý hiệu quả hoạt động của đội ngũ giáo viên gắn với
chất lượng hoạt động dạy - học, xây dựng môi trường giáo dục thân thiện và cải
cách hành chính, trước hết là cải cách thủ tục hành chính.
+ Lấy đổi mới hoạt động tài chính làm khâu đột phá. Bởi vì, hoạt động tài
chính của đơn vị vừa tạo ra các điều kiện vật chất vừa tạo động lực tinh thần cho
đội ngũ. Do đó, một ban lãnh đạo và người đứng đầu vừa nắm vững thực trạng,
vừa có tính chiến lược sẽ biết đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để khắc phục
khiếm khuyết, hạn chế trong hiện tại và đón thời cơ thuận lợi. Triệt để tiết kiệm,
có tính toán trong quá trình kiên cố - chuẩn - hiện đại theo tiêu chí xanh-sạch-
đẹp. Mặt khác, phải biết phấn đấu để không những thực hiện đầy đủ, kịp thời,
đúng chế độ chính sách theo quy định của pháp luật mà còn phải nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ- trên cơ sở đánh giá đúng Tuy nhiên trong
điều kiện hiện tại (còn nhiều bất cập về cơ chế và thực tế) cần thực hiện tốt chế
12
độ "công khai, minh bạch" tạo được sự đồng thuận cao, đảm bảo đoàn kết, thống
nhất nội bộ đã là cố gắng rất lớn. Trước mắt giữ ổn định an sinh nội bộ để từng
bước có mức tăng trưởng về thu nhập.
+ Tiếp tục đẩy mạnh phong trào tự học, tự bồi dưỡng và công tác bồi
các chương trình: Ngoại ngữ, tin học, đào tạo nghề các cấp độ cho đa dạng
chương trình, nội dung và lựa chọn hình thức tổ chức học tập phù hợp đối
tượng: Vừa học vừa làm, tự học có hướng dẫn (người lao động, cán bộ cơ sở),
tập trung (học sinh độ tuổi phổ thông) phấn đấu để có được từ 15-20% học sinh
TN.THCS theo học chương trình GDTX-THPT hàng năm.
- Đầu tư có trọng điểm, tăng cường cải thiện CSVC.KT dạy học cho cả
văn hoá, tin học, ngoại ngữ và đào tạo nghề các cấp độ (đồng thời với quá trình
chuẩn hoá các phòng học nghề phổ thông) vừa là điều kiện, vừa là động lực cho
nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo.
- Đến 2015: có từ 20 phòng học, trong đó có ít nhất 30% phòng học nghề,
phòng học bộ môn đạt chuẩn (hoặc cận chuẩn). Duy trì thường xuyên có từ 8-12
lớp/400-500 học viên tiếng nước ngoài (tập trung là tiếng Anh, tiếng Trung) các
cấp độ; 8-11 lớp/200-300 học viên Tin học, phấn đấu thực hiện được 35-45%
chỉ tiêu tỉnh giao cho Uông Bí về đào tạo nghề ngắn hạn/năm. Mở rộng hình
thức đào tạo nghề và học văn hóa (theo chương trình GDTX).
6.3 . Về chất lượng:
Trước mắt những bất cập, khó khăn về các điều kiện dạy - học đã được
giải quyết tương đối tốt: Cơ sở vật chất đảm bảo cho công tác dạy và học, đội
ngũ giáo viên văn hóa đến cuối năm học đủ mỗi môn quy định có 01 người.
Mặc dù cũng còn có những khó khăn giáo vièn nghề chưa đạt chuẩn đào
tạo; giáo viên nhiều người mới vào nghề, kinh nghiệm còn ít. Học sinh ý thức
động cơ thái độ còn hạn chế, sự quan tâm của gia đình cũng ở mức độ.
Với quyết tâm đoàn kết, vượt khó tập thể cán bộ, giáo viên Trung tâm
hình thức đào tạo đã có chuyển biến giữa học nghề cùng với học văn hóa ( bậc
THPT). Giáo viên nhiệt tình giảng dạy hết lòng vì học sinh. Một bộ phận học đã
có những chuyển biến tích cực về nhận thức động cơ thái độ học tập. Kết quả
học tập những năm gần đây có phần nâng cao, nhất là tỉ lệ học sinh học lực khá.
14
7. Kết luận:
15
phấn đấu, đồng lòng vượt qua những khó khăn, thách thức trước mắt, tiếp tục
nâng cao trình độ, năng lực sáng tạo trước thời cơ, vận hội mới.
Uông Bí, ngày 10 tháng 4 năm 2013
Người viết sáng kiến kinh nghiệm
Lê Văn Tài
16