phương pháp giảng dạy các bài khái niệm trong chương trình hoá 11 ban cơ ban - Pdf 24

iSáng kiến kinh nghiệm
SỞ GD - ĐT TỈNH QUẢNG NINH
TRUNG TÂM HN – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN UÔNG BÍ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CÁC BÀI KHÁI NIỆM TRONG
CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC 11 BAN CƠ BẢN
Họ và tên : Cao Văn Sáng
Giáo viên : Hoá học
Trường : Trung tâm HN – GDTX Uông Bí
Năm học 2008 2009
GV : Cao Văn Sáng - TTGDTX Uông bí
1
iSáng kiến kinh nghiệm
ĐỀ TÀI
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CÁC BÀI KHÁI NIỆM TRONG CHƯƠNG
TRÌNH HOÁ 11 BAN CƠ BAN
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ :
1, lí do chọn đề tài
a. các bài về khái niệmchiếm tỉ lệ khá lớn trong chương trình hoá 11
b. khi học nhưng bài hoặc những phần về khái niệm học sinh rất khó khăn
trong việc nắm bắt kiến thức vì những bài này thường rất tổng quát, trừu tượng đòi
hỏi học sinh phải có tư duy logic vì vậy việc tìm những phương pháp giảng dậy
phù hợp với đối tượng học sinh nhằm giúp các em dễ nắm bắt kiến thức những bài
về khái niệm là nhiệm vụ khá khó khăn , vì vậy tôi chọn đề tài này nhằm giúp các
em dễ nắm bắt kiến thức , rèn luyện tư duy , biết vận dụng những kiến thức đã học
về chất cụ thể để xây dựng kiến thức mới về khái niệm , đống thời biết dùng kiến
thức đã học của những bài khái niệm soi sáng những kiến thức của những bài về
chất cụ thể . Đây là một trong những con đường rèn luyện tư duy đồng thời tạo
hứng thú học tập bộ môn cho học sinh
2, Mục đích , nhiệm vụ của đề tài :
a. Đối với giáo viên :

sức tìm tòi học hỏi của giáo viên mới có thể hiểu hết được.
Khi thiết kế bài soạn và thực tiễn giảng dạy trên lớp, phải luôn luôn phối kết
hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học tích cực nhằm dẫn dắt học sinh đi từ
trực quan sinh động như: hiện tượng thí nghiệm hoá học, hiện tượng xảy ra trong
đời sống tự nhiên, băng hình v v từ kiến thức đã biết, từ các ví dụ cụ thể để
học sinh tự tổng hợp, khái quát hoá đi đến kết luận và hình thành khái niệm, nội
dung kiết thức mới. Một số phương pháp dạy học tích cực thường được kết hợp áp
dụng vào các bài giảng , cụ thể là:
1. Dạy học vấn đáp, đàm thoại :
- Vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để
học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó học sinh lĩnh
hội nội dung bài học.
- Đây là phương pháp mà dù ít hay nhiều thì hầu như bài giảng nào chúng ta
cũng áp dụng.
Ví dụ 1: khi dạy về Hiện tượng điện li trong phần 1 giáo viên cho học sinh
quan sát các thí nghiệm khi cho dụng cụ đo điện lần lượt vào các cốc đựng NaCl
rắn, khan; NaOH rắn, khan; dung dịch NaCl; dung dịch NaOH; dung dịch HCl;
dung dịch saccarozơ . Sau đó giáo viên dùng hệ thống câu hỏi gợi mở dẫn dắt học
sinh đi đến kết luận :
- Các chất rắn, khan đều khômg dẫn điện
- Các dung dịch axit, bazơ, muối đều dẫn điện
Ví dụ 2: Khi dạy công thức cấu tạo phân tử hợp chất hữu cơ , giáo viên dùng
bảng phụ đã chuẩn bị trước một số công thức cấu tạo dạng khai triển và dạng
GV : Cao Văn Sáng - TTGDTX Uông bí
3
iSáng kiến kinh nghiệm
thu gọn , cho học sinh quan sát , giáo viên dùng hệ thống câu hỏi gợi mở , học
sinh dẽ dàng rút ra kết luận :
- Công thức cấu tạo biểu diễn thứ tự và cách thức liên kết ( liên kết đơn, liên
kết bội ) của các nguyên tử trong phân tử

dưới dạng 10
-a
mol/lít, cho học sinh thảo
luận xem pH của dung dịch đó bằng bao nhiêu và từ đó học sinh sẽ tự phát hiện ra
quy ước tính số đo pH và hình thành khái niệm pH.
Ví dụ 3: Khi dạy thuyết cấu tạo hoá học, như luận điểm 1 chẳng hạn, chúng
tôi cho học học sinh đi từ ví dụ cụ thể (cấu tạo, tính chất) của đimetyl ete và ancol
etylic, hướng dẫn để học sinh so sánh về thành phần cấu tạo, thứ tự liên kết, công
thức phân tử, tính chất, qua đó học sinh tự rút ra kết luận và khái quát thành luận
điểm 1.
Có rất nhiều bài giảng áp dụng được phương pháp này
-Ví dụ 4: Khi dạy xong phần chất điện li mạnh , chất điện li yếu, giáo viên nêu
vấn đề: Các em hãy cho biết Ca(OH)
2
là chất điện li mạnh hay chất điện li yếu ?
Tại sao?
Sau khi học sinh thảo luận , tranh luận , giáo viên gọi đại diện các nhóm trình
bầy quan điểm rồi cho học sinh làm thí nghiệm :
Cho khoảng 10g Ca(OH)
2
vào cốc nước, khấy đều rồi để yên một lúc, cho
họcsinh nhận xét độ tan của Ca(OH)
2
. Học sinh dễ dàng nhận xét: Ca(OH)
2
ít
tan tromg nước. Sau đó cho học sinh thử tính dẫn điện của dung dịch
GV : Cao Văn Sáng - TTGDTX Uông bí
4
iSáng kiến kinh nghiệm

giáo viên.
Qua quá trình giảng dạy , việc kết hợp các phương pháp dạy học tích cực và
khai thác tối đa các giáo cụ trực quan như mô hình, bảng phụ, thí nghiệm là rất
quan trọng , nhất là đối với học viên GDTX có chất lượng học tập không cao , tư
duy hoá học thấp . Ví dụ khi dạy phần công thức cấu tạo phân tử hợp chất hữu cơ ,
sau khi giáo viên kết hợp dùng bảng phụ (trang 96 SGK ) với hệ thống câu hỏi gợi
mở giúp học sinh nắm được khái niệm công thức cấu tạo và các loại công thức cấu
tạo thì dùng mô hình cấu tạo phân tử dạng đặc biểu diễn cấu trúc phân tử hợp chất
CH
3
_
CH
2
_
CH
2
OH trong không gian , học sinh dễ dàng nhận ra mạch Cacbon trong
phân tử có dạng hình gấp khúc chứ không phải dạng thẳng . Đồng thời giáo viên
dùng phương pháp dạy học nêu vấn đề cho học sinh tìm hiểu SGK để giải quyết
các vấn đề sau :
- Hoá trị của các nguyên tố C , H , O trong phân tử hợp chất hữu cơ
GV : Cao Văn Sáng - TTGDTX Uông bí
5
iSáng kiến kinh nghiệm
- Các loại liên kết trong phân tử hợp chất hữu cơ
- Nguyên tắc viết công thức cấu tạo phân tử hợp chất hữu cơ.
Khi các vấn đề trên lần lượt được giải quyết , GV dùng các câu hỏi gợi mở
giúp học sinh hiểu Thuyết cấu tạo hoá học và viết đúng được công thức cấu tạo
hợp chất hữu cơ. GV áp dụng phương pháp hợp tác nhóm nhỏ , cho các nhóm viết
các công thức cấu tạo các hợp chất: C

d. Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng hơn , hiểu sâu hơn , vận dụng được kiến
thức đã học để tìm hiểu những bài về chất cụ thể
2. Những khó khăn , hạn chế khi làm đề tài:
a. Đối tượng học viên có chất lượng học tập thấp nên khả năng tự nghiên cứu , tự
học còn hạn chế
b. Những bài về khái niệm thường có tính khái quát cao , khó sử dụng được thí
nghiệm .
c. Đề tài này không phải là phương pháp độc đáo mà chỉ là kinh mghệm của bản
thân qua quá trình giảng dạy
d. Chương trình SGK 11 mới đổi mới được 2 năm nên quá trình làm đề tài chắc
chắn có nhiều sai sót
3. Định hướng phát triển và kiến nghị :
- Qua thực tiễn 2 năm giảng dạy áp dụng đề tài này bản thân thấy học sinh có
hướng thú học tập bộ môn hơn , tư duy hoá học có tiến bộ hơn, các bài giảng về
chất đỡ khô khan , học sinh dễ tiếp thu, dễ nhớ
GV : Cao Văn Sáng - TTGDTX Uông bí
6
iSáng kiến kinh nghiệm
- Cần tiếp tục nghiên cứu để tìm được phương pháp độc đáo , đặc trưng cho các bài
giảng về khái niệm , mang lại hiệu quả cao nhất
- Đề nghị trung tâm tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy học để việc dạy và
học đạt kết quả cao hơn
- Nội dung của đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót , rất cần sự nghiên cứu , giúp
đỡ, đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp
4. Tài liệu tham khảo :
- Hướng dẫn dạy học hoá học 11 (Lê Xuân Trọng – Chủ biên )
- Sách giáo khoa , sách giáo viên hoá học 11 đang dạy và học trong chương trình
Uông Bí ngày 20 tháng 5 năm 2009
Người viết đề tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status