Phương pháp giảng dạy loại bài thực hành trong giảng dạy phần Động vật học 7. - Pdf 27

Trường THCS Thị Trấn Sáng kiến kinh nghiệm
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: Phương pháp giảng dạy loại bài thực hành trong giảng dạy phần Động vật học
7.
Họ và tên: ĐẶNG NGUYỄN HUỲNH NHƯ
Đơn vị công tác: Trường THCS Thị Trấn.
1. Lí do chọn đề tài:
- Giúp học sinh học tốt các loại bài thực hành trong giảng dạy động vật học 7, góp phần
nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn ở Trường THCS Thị Trấn.
2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
- Đối tượng: Học sinh lớp 7A1, 7A3 Trường THCS THị Trấn.
- Một số phương pháp giảng dạy loại bài thực hành trong giảng dạy phần Động vật học
7.
- Phương pháp:
+ Phương pháp đọc tài liệu
+ Điều tra, đàm thoại
+ kiểm tra, đối chiếu, tổng hợp.
3. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Dạy theo hướng tích cực sáng tạo của học sinh.
4. Hiệu quả áp dụng:
- Khi thực hành, học sinh tiếp thu nhanh hơn, khắc sâu kiến thức, tạo được sự hứng thú
trong học tập, phát huy tính sáng tạo, chủ động tiếp thu tri thức.
- Kết quả kiểm tra của toàn khối 7 đạt điểm trung bình trở lên: 90%.
5. Phạm vi áp dụng:
- Áp dụng trong giảng dạy môn Sinh học 6, 7, 8, 9 ở Trường THCS Thị Trấn và áp
dụng ở các trường THCS trong Huyện,Tỉnh.
Thị Trấn, ngày 10 tháng 4 năm 2010.
Người thực hiện
ĐẶNG NGUYỄN HUỲNH NHƯ
GV: Đặng Nguyễn Huỳnh Như Trang 1
Trường THCS Thị Trấn Sáng kiến kinh nghiệm

và các phẩm chất đạo đức khác.
- Ngoài ra, trong thực hành, học sinh đứng ở vị trí nhà nghiên cứu. Qua đó, cùng với
tri thức, các em còn lĩnh hội được cả phương pháp nghiên cứu khoa học bộ môn. Đồng
thời, để đi đến kết quả đúng đòi hỏi học sinh phải có tính kiên nhẫn, tự lực, tính chính
xác và đôi khi cả óc sáng tạo. Kết quả là các em có sự say mê học tập và các năng khiếu
cá nhân được phát triển. Đối với trường THCS, môn Sinh học giúp học sinh tìm hiểu,
khám phá thế giới động vật đa dạng, phong phú. Cho nên thực hành giữ vai trò cực kỳ
quan trọng, buộc giáo viên phải nghiên cứu để giảng dạy đạt hiệu quả tốt, đó là vấn đề
“Phương pháp giảng dạy loại bài thực hành trong giảng dạy phần Động vật học 7” là rất
GV: Đặng Nguyễn Huỳnh Như Trang 2
Trường THCS Thị Trấn Sáng kiến kinh nghiệm
cần thiết đối với bản thân mỗi người giáo viên. Tuy có phần khó khăn trong giảng dạy
cũng như làm đề tài này nhưng chắc chắn, tôi sẽ có kinh nghiệm hơn trong quá trình
giảng dạy sau này. Đó là lí do tôi chọn đề tài.
II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Căn cứ vào đặc điểm tình hình và điều kiện cho phép tập trung nghiên cứu là học
sinh lớp 7A1, 7A3 trường THCS Thị Trấn Châu Thành, ngoài ra đối tượng tác động trực
tiếp là giáo viên bộ môn.
- Một số phương pháp giảng dạy loại bài thực hành trong giảng dạy phần Động vật
học 7.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Kiến thức môn Sinh học rất rộng, vì thời gian nghiên cứu hạn chế nên đề tài chỉ
nghiên cứu một số phương pháp giảng dạy loại bài thực hành trong giảng dạy phần
“Động vật học 7”, ở trên lớp 7A1, 7A3 năm học 2009-2010( từ tuần 1 đến tuần 20 ) của
trường THCS Thị Trấn Châu Thành
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đọc tài liệu:
- Sách tham khảo:
+ Động vật không xương sống, động vật có xương sống
+ Phương pháp mổ động vật

- Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số giáo viên chưa thật sự quan tâm đến vấn
đề này dẫn đến học sinh học tập chưa tốt vì:
+ Khâu chuẩn bị bài, dụng cụ, đồ dùng học tập chưa tốt.
+ Học sinh có ý thức học tập kém ngại tham gia thực hành.
+ Một số học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên thời gian dành cho công
việc học tập ít.
+ Do tác động của nền kinh tế thị trường nên một phần lớn giáo viên chưa thật sự
đầu tư chu đáo, chưa nhiệt tình trong công tác giảng dạy của mình, chưa tích cực đổi mới
phương pháp dạy học. Vì vậy, trong mỗi tiết học vẫn còn nhiều học sinh thụ động, chờ
đón kiến thức áp đặt từ giáo viên hoặc từ học sinh khá, giỏi của lớp.
- Vậy làm sao khắc phục những nguyên nhân trên, giúp cho học sinh học tốt trong
từng tiết, đặc biệt là các tiết thực hành, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Sinh ở
trường THCS? Đó là kim chỉ nam dẫn dắt, lôi cuốn tôi đến những phần sau của đề tài
này, đồng thời giúp tôi rút ra được những kết luận quan trọng và bổ ích.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
- Nghị quyết Trung ương 2(khóa VII) của Đảng khẳng định “Phải đổi mới phương
pháp dạy học, khắc phục lối truyền đạt kiến thức một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng
tạo của người học”. Việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay chính là việc dạy tốt và
học tốt theo hướng lấy người học làm trung tâm của quá trình dạy học. Muốn vậy, giáo
viên cần phải nắm vững và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong từng tiết
dạy của mình.
- Chỉ thị số 07/2002/CT-CT ngày 10 tháng 5 năm 2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây
Ninh về việc “Tổ chức thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông”.
- Kế hoạch số 27/PGD.ĐT- ĐTBD ngày 26 tháng 7 năm 2002 về việc “Tổ chức thực
hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông”.
2. Các quan niệm khác về giáo dục.
2.1 Tác dụng của phương pháp thực hành:
- Phương pháp thực hành là một trong những phương pháp dạy học khám phá có

hành vừa phù hợp với phương pháp mới, vừa phù hợp với đặc thù bộ môn, giúp học sinh:
+ Có được kỹ năng, kỹ xảo: quan sát, mổ, nhận xét, vẽ hình: khi mổ nhiều động vật
học sinh có được thao tác mổ nhanh, đẹp, chính xác, sử dụng đồ mổ một cách thành thạo,
qua mẫu mổ học sinh quan sát được các cơ quan, hệ cơ quan, thông qua sự khác biệt về
cấu tạo, học sinh thấy được sự tiến hóa, nguồn gốc của động vật giúp các em có kỹ năng
phân tích tổng hợp…
+ Khắc sâu kiến thức đã học: khi tự tay mình tiến hành thực hành thì bản thân các
em sẽ dễ hiểu và nhớ kiến thức lâu hơn.
+ Có được hứng thú học tập động vật học, thích tìm hiểu.Trong quá trình thực hành
chính mắt các em thấy được những điều mới lạ về giới động vật, làm “trỗi dậy” tính tò
mò, tìm hiểu, khám phá về động vật để chủ động tiếp thu tri thức và trở thành nhà nghiên
cứu nên có được sự hứng thú học tập.
+ Có năng lực tư duy, trí thông minh, sáng tạo: khi làm thực hành học sinh tự mình
quan sát, ghi chép, phán đoán kết quả và tự mình rút ra kết luận buộc các em phải tư duy,
suy nghĩ, từ đó phát triển thông minh, óc sáng tạo.
- Chính vì vậy, giáo viên phải tổ chức cho học sinh thực hành để các em tự mình
khám phá, tìm hiểu về giới động vật nhằm phát triển kỹ năng, kỹ xảo và tạo ra những con
người năng động, sáng tạo.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu
GV: Đặng Nguyễn Huỳnh Như Trang 5
Trường THCS Thị Trấn Sáng kiến kinh nghiệm
1.1. Tình hình học sinh
- Đa số học sinh rất thích tiến hành thực hành, khi tự tay mình tiến hành mổ động
vật các em có được kỹ năng: mổ chính xác, thực hiện thao tác nhanh, trình bày mẫu mổ
đẹp – khoa học, có niềm tin khoa học, nêu được cấu tạo cơ thể động vật vững chắc.
- Bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh có tính rụt rè, nhút nhát không chịu tham gia
tiến hành thực hành mà chỉ quan sát nên tiếp thu tri thức của các em chưa được vững
chắc, không có kỹ năng mổ, không biết cách trình bày mẫu mổ, thực hiện thao tác mổ
còn lúng túng khi giáo viên yêu cầu mổ dẫn đến: mổ chưa đạt, thao tác chậm, xác định

để làm căn cứ tìm tri thức mới.
 Thực hành củng cố minh họa:
- Sau khi học xong về lý thuyết, học sinh tiến hành thực hành để kiểm tra lý thuyết,
đào sâu và khắc sâu kiến thức.
GV: Đặng Nguyễn Huỳnh Như Trang 6
Trường THCS Thị Trấn Sáng kiến kinh nghiệm
Ví dụ: Mổ giun đất, dựa vào kiến thức đã học quan sát cấu tạo trong xác định tên, vị
trí của các hệ cơ quan trên mẫu mổ.
2.2. Các hình thức tổ chức thực hành
- Tùy tình hình dụng cụ thí nghiệm, nội dung và yêu cầu cụ thể của từng loại thực
hành mà ta có thể tổ chức thực hành với 2 hình thức:
 Thực hành đồng loạt:
- Chia lớp thành từng nhóm, các nhóm cùng hoàn thành một nội dung thực hành với
những dụng cụ và thời gian như nhau. Sau khi hoàn thành nội dung thực hành, các nhóm
báo cáo kết quả từ đó rút ra kiến thức.
- Hình thức tổ chức theo nhóm và tiến hành đồng loạt có những ưu điểm và khuyết
điểm sau:
+ Ưu điểm:
 Giúp học sinh đỡ lúng túng.
 Giáo viên dễ chỉ đạo, dễ kiểm tra kết quả, thuận lợi trong việc uốn nắn những
sai sót chung của cả lớp.
 Các nhóm tranh luận lẫn nhau, bổ sung cho nhau, vì vậy kết quả chính xác hơn.
+ Nhược điểm:
 Không phát huy hết khả năng tự học của học sinh.
 Có những học sinh chỉ ngồi cho “có mặt”, nhất là những em lười biếng, thụ
động.
 Thực hành riêng rẻ:
- Lớp chia thành các nhóm, các nhóm này làm những nội dung thực hành khác nhau
trong cùng khoảng thời gian. Sau đó, các nhóm lần lượt quay vòng nối tiếp nhau để hoàn
thành toàn bộ nội dung trong thực hành. Các nhóm báo cáo kết quả thực hành, rút ra kiến

- Vẽ hình: là yêu cầu phổ biến đối với hầu hết bài thực hành động vật, song đa số
học sinh chưa biết cách vẽ theo tiêu chuẩn của bản vẽ khoa học. Vì vậy giáo viên cần lưu
ý:
+ Vẽ hình phải trung thực: chỉ vẽ những gì các em thấy khi quan sát trên vật thật.
+ Hình vẽ phải đúng tỉ lệ tương đối giữa các phần của con vật hoặc bộ phận của
một hệ cơ quan.
+ Nên vẽ bằng bút chì đen.
+ Hình vẽ không quá bé, các đường chú thích phải song song nhau và mũi tên đánh
dấu quay vào các cơ quan để đảm bảo tính chính xác, nếu hình vẽ có nhiều chú thích có
thể dùng kí hiệu 1, 2, 3,…và ghi chú thích theo các số đo dưới hình vẽ ngay ngắn thẳng
hàng để hình vẽ sáng và đẹp.
2.4. Các khâu công việc cụ thể khi tổ chức dạy một bài thực hành:
- Khâu chuẩn bị:
+ Giáo viên lập kế hoạch bài giảng. Trong đó xác định rõ: mục đích, yêu cầu, hình
thức thực hành, cách tổ chức, dụng cụ, mẫu vật, nội dung và phương pháp.
+ Xác định rõ học sinh phải chuẩn bị những gì, nhận định rõ nội dung nào phải làm
trước.
- Khâu tiến hành thực hành:
+ Tổ chức thực hành:
 Giáo viên chia nhóm( 6-8 em), kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh.
 Giáo viên giới thiệu dụng cụ được sử dụng trong giờ thực hành, nêu yêu cầu
của tiết thực hành.
+ Tiến hành thực hành:
 Giáo viên hướng dẫn cách tiến hành thực hành một cách cụ thể, rõ ràng, có
tranh ảnh, mẫu vật kèm theo để minh họa.
 Hướng dẫn học sinh viết thu hoạch: Giáo viên đặt ra hệ thống câu hỏi gợi mở
để học sinh dựa vào đó viết thu hoạch.
 Học sinh tiến hành thực hành: Học sinh thực hiện đúng theo sự hướng dẫn của
giáo viên. Giáo viên quan sát, theo dõi gíúp đỡ, động viên học sinh.
 Học sinh báo cáo kết quả thực hành: đại diện nhóm báo cáo kết quả, nhóm khác

năng tiếp thu tri thức của học sinh.
+ Bài thực hành khảo sát:
 Khi hướng dẫn cách tiến hành thực hành: Giáo viên sử dụng phương pháp giảng
giải để thuyết trình về cách tiến hành, hướng dẫn học sinh vận dụng thông tin trong SGK,
hình vẽ, kiến thức liên quan ở các chương và các bài để hoàn thành bài thực hành bằng
các câu hỏi định hướng.
 Khi học sinh tiến hành thực hành: Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt thảo luận
nhóm để: mổ, quan sát, xác định, nhận biết các bộ phận, cơ quan của mẫu mổ, hoàn thành
phiếu học tập, vẽ hình.
 Khi tổng kết: Giáo viên yêu cầu các nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm,
nhóm khác nhận xét, bổ sung, rút ra kiến thức mới, giáo viên tổng kết lại cấu tạo của các
hệ cơ quan.
 Khi củng cố: Giáo viên đặt ra hệ thống câu hỏi để kiểm tra khả năng tiếp thu bài
mới, khắc sâu kiến thức thực hành để học sinh vận dụng vào bài lý thuyết có hiệu quả,
chính xác, từ đó chất lượng bộ môn được nâng lên.
III. NỘI DUNG VẤN ĐỀ
GV: Đặng Nguyễn Huỳnh Như Trang 9
Trường THCS Thị Trấn Sáng kiến kinh nghiệm
1. Vấn đề đặt ra:
- Với nội dung chương trình SGK Sinh học 7( phần Động vật học 7) gồm rất nhiều
bài thực hành. Các bài thực hành này giữ vai trò rất quan trọng trong dạy và học môn
Sinh học 7. Tuy nhiên, việc giảng dạy các loại bài thực hành có đạt hiệu quả cao hay
không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, quan trọng là giáo viên phải vận dụng phương
pháp nào, giải pháp nào để giúp học sinh học tốt. Trong quá trình công tác, bản thân tôi
luôn cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu nhiều hướng khác nhau, vận dụng nhiều phương pháp
và giải pháp khác nhau nhưng do phạm vi đề tài được giới hạn nên tôi chỉ trích dẫn ra đây
một số kinh nghiệm mà bản thân tôi thấy có hiệu quả để chứng minh cho giả thuyết đã
đưa ra.
2. Giải pháp nghiên cứu vấn đề:
2.1. Tình hình học sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status