A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu:
Kiểm tra đánh giá đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
đào tạo và giảng dạy tại nhà trường. Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều
chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục của nhà trường.
Kiểm tra, đánh giá là một quá trình được tiến hành một cách có hệ thống, được
thực hiện thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình dạy học. Đánh giá không chỉ
căn cứ vào các bài kiểm tra thường kỳ mà phải đánh giá cả quá trình học tập, đánh
giá không chỉ dựa vào kiến thức mà còn phải đánh giá kỹ năng và cao hơn là đánh
giá năng lực, không chỉ giáo viên có đánh giá học sinh mà học sinh có quyền được
đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá bản thân. Nhưng để thực hiện đổi mới kiểm tra,
đánh giá trước hết cần hiểu một khái niệm cơ bản trong kiểm tra, đánh giá:
+ Kiểm tra: là xác định kết quả học tập của học sinh qua mỗi giai đoạn thực
hiện kế hoạch giáo dục.
+ Đánh giá: là xác nhận trình độ, khả năng thực hiện và đạt được mục tiêu
học tập của học sinh, ở các múc độ: Nhận biết, thông hiểu và vận dụng.
Việc kiểm tra đánh giá có tác dụng kích thích sự cố gắng thi đua trong học tập
giữa các cá nhân học sinh trong lớp và giữa các lớp với nhau. Kiểm tra đánh giá
một cách nghiêm túc, chính xác giúp học sinh nâng cao ý thức trách nhiệm, tự giác
trong học tập, ý vươn lên, củng cố niềm tin trong học tập. Chính vì vậy sau mỗi giờ
lên lớp giáo viên cần đánh giá kết quả học tập của học sinh, để kiểm tra xem giờ
lên lớp đó có đạt được mục tiêu đề ra hay không, từ đó điều chỉnh việc tổ chức hoạt
động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh cho phù hợp.
Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi
mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới
quản lý…. Nếu thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá
trình, giúp phát triển năng lực người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nê tích
cực hơn rất nhiều. Quá trình đó sẽ nhắm đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng
hứng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vào
lòng học sinh sự tự tin, niềm tin “người khác làm được mình cũng sẽ làm được”…
Điều này vô cùng quan trọng để tạo ra mã số thành công của mỗi học sinh trong
sinh trong cả quá trình học tập, nhiều khi còn chưa phân loại được
học sinh.
- Việc cho điểm không thống nhất giữa giáo viên trong cùng một tổ
chuyên môn, một trường và giữa các trường còn khá phổ biến.
Điểm yếu khác trong đánh giá học sinh hiện tại là đánh giá (chấm điểm) mà
không có sự phản hồi cho học sinh. Cô chấm bài kiểm tra, thường chỉ cho điểm
hoặc chỉ phê “sai”, “làm lại” hay chỉ viết ký hiệu sai hay ký hiệu đúng chứ chưa
giải thích được rõ cho học sinh biết tại sao sai, sai như thế nào. Một số giáo viên
chấm bài có sự phản hồi nhưng phản hồi không đủ, phản hồi tiêu cực, không mang
tính xây dựng (Ví dụ, giáo viên phê: làm sai, làm ẩu, không hiểu…) làm học sinh
2
mất niềm tin, không có động lực để sửa lỗi, làm cho người học chán nản… Khi
phản hồi của giáo viên đối với bài làm của học sinh mang sắc thái xúc cảm âm tính,
tiêu cực, có thể làm học sinh xấu hổ, mất tự tin.
Một trong những điểm yếu nữa là hiện nay, giáo viên sử dụng hầu như rất
hạn chế các hình thức đánh giá mới, hiện đại, phần lớn những đánh giá giáo viên
đang sử dụng có tính truyền thống: dựa vào viết luận, làm các bàì tập như kiểm tra
15 phút, 1 tiết…, và thông qua một số câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận mà chính
giáo viên cũng không rõ mình định đánh giá kỹ năng hay năng lực gì ở học sinh.
Khi giáo viên chưa đa dạng hóa các kiểu đánh giá sẽ làm cho hoạt động học tập trở
nên nhàm chán, sẽ khó phát triển các năng lực bậc cao ở người học (như năng lực
giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo…). Trong khi đó, yêu cầu của đổi mới
kiểm tra đánh giá là phải áp dụng đa dạng các hình thức đánh giá: đánh giá bằng
trắc nghiệm, bằng kiểm tra viết kiểu tự luận, vấn đáp… đánh giá thông qua sản
phẩm, qua thuyết trình/trình bày; thông qua tương tác nhóm, thông qua các sản
phẩm của nhóm…, đánh giá bằng các tình huống bài tập, các hình thức tiểu luận,…
thì giáo viên chưa làm được.
Từ thực trạng trên, để việc kiểm tra đánh giá đạt hiệu quả tốt hơn và để đáp
ứng được mục tiêu giáo dục, tạo nên sự công bằng trong đánh giá tôi đã mạnh dạn
đưa ra đây đề tài:
không cho điểm kém, đưa ra những lời phê nhẹ nhàng hoặc đánh giá bằng những
nhận xét có tính xây dựng, hướng học sinh đến việc sửa lỗi (VD: không nhận xét:
“viết xấu/viết ẩu… viết lại” mà thay bằng: “viết chưa đẹp… cần luyện tập nhiều
hơn”. Thứ hai giáo viên cần để hoạt động kiểm tra đánh giá diễn ra trong suốt quá
trình dạy học, khi bắt đầu dạy và học giáo viên cần nói cách thức kiểm tra đánh giá
thế nào để cho học sinh chủ động đáp ứng yêu cầu kiểm tra đánh giá. Thứ ba, kiểm
4
tra đánh giá diễn ra dưới rất nhiều hình thức, dưới dạng trò chơi, các bài tập về nhà,
bài luận ngắn,… để đánh giá tập trung được các năng lực thành phần hay những kỹ
năng thành phần. Ví dụ: kỹ năng khám phá tìm kiếm thông tin, kỹ năng xử lý
thông tin, năng lực đưa ra những lời nhận xét, năng lực đánh giá lẫn nhau, năng
lực sáng tạo, năng lực nghĩ về cách suy nghĩ… Tóm lại người ta tìm ra những kỹ
năng, năng lực bộ phận cấu thành nên sự thành công cho người học trong tương lai
để lồng vào các bài kiểm tra, bài thi, bài tập về nhà hay thể hiện qua sản phẩm của
người học. Và giáo viên cần đa dạng hóa tối đa các hình thức đánh giá như đánh
giá bằng nhận xét “tích cực” (còn gọi là “kỷ luật không nước mắt”), đánh giá qua
sản phẩm của chính học sinh… đánh giá xác thực (sử dụng các tình huống có tính
mục đích, mô phỏng từ thực tiễn cuộc sống…) cho phép những cái đó thay thế
hoặc bổ sung vào các hình thức đánh giá hiện đang áp dụng kiểu như bài kiểm tra
15 phút, kiểm tra miệng.
Ngoài ra trong kiểm tra đánh giá cũng cần được tiến hành công khai, kết quả
phải được công bố kịp thời để học sinh có thể tự đánh giá, phân loại trong quá trình
học tập, từ đó học sinh có thể hiểu và quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, từ
đó học sinh có thể biết và quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong học tập. Muốn vậy phải
có những phương pháp đánh giá và kĩ thuật đánh giá thích hợp, cần kết hợp nhiều
phương pháp đánh giá cho phù hợp với từng nội dung học tập, để học sinh bộc lộ
các năng lực bản thân.
2. Những căn cứ để kiểm tra đánh giá:
Để việc kiểm tra đánh giá có hiệu quả phải dựa vào một số các căn cứ sau:
- Nội dung kiểm tra phải căn cứ mục tiêu cụ thể của từng phần, từng
hoặc trắc nghiệm khách quan
+ Kiểm tra thường xuyên:
Mục đích của hình thức này nhằm xác định mức độ hình thành kiến thức, kĩ
năng của học sinh, giúp học sinh thực hiện các bài tập đúng thời gian có hiệu qảu
và tập thói quen làm việc độc lập và ý thức học tập thường xuyên của học sinh.
Hình thức kiểm tra này được sử dụng trong suốt quá trình học tập môn học và
thường sử dụng các phương pháp như quan sát, vấn đáp, viết, bài tập
+ Kiểm tra định kì:
Mục đích nhằm xác định mức độ chính xác cảu kết quả kiểm tra thường
xuyên và đánh giá chất lượng dạy – học của giáo viên và học sinh. Hình thức kiểm
tra này được sử dụng trong quá trình dạy học nhưng chỉ được thực hiện sau khi kết
thúc một chương, một phần hay sau một học kì. Số lần kiểm tra được qui định
trong phân phối chương trình môn học. Phương pháp thường dùng chủ yếu hiện
nay là kiểm tra vấn đáp, viết, bài tập vận dụng
+ Kiểm tra tổng kết:
6
Là hình thức kiểm tra được sử dụng sau khi môn học đã được thực hiện hết
một giai đoạn, một học kì hay toàn bộ chương trình. Trước khi kiểm tra tổng kết
thường có giai đoạn ôn tập. Phương pháp thường sử dụng là viết
4. Các phương pháp kiểm tra đánh giá.
+ Kiểm tra lí thuyết: Hiện nay phổ biến là kiểm tra vấn đáp ( kiểm tra thường
xuyên, kiểm tra miệng, kiểm tra thực hành) và kiểm tra viết ( Kiểm tra 15 phút,
kiểm tra 1 tiết, học kì). Trong kiểm tra viết thường kết hợp các câu hỏi tự luận với
câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
Bản chất của kiểm tra bằng khách nghiệm khách quan là giao cho học sinh
những câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong các phiếu, bài kiểm tra đã được in sẵn;
học sinh làm ngay vào phiếu hay bài kiểm tra đó. Các dạng câu hỏi thường dùng là:
- Câu hỏi nhiều lựa chọn
- Câu hỏi đúng – sai
- Câu hỏi điền khuyết
- Tổ trưởng đánh giá giờ thực hành của tổ viên , giáo viên đánh giá tổ
trưởng (áp dụng cho hoạt động thực hành theo vị trí tổ - nhóm lớn)
5. Tỉ lệ kết hợp các câu tự luận và trắc nghiệm khách quan.
Do đặc thù môn học có tính ứng dụng thực tiễn cao và nội dung môn học có
nhiều kiến thức mang tính tình huống do đó tỉ lệ câu hỏi tự luận và trắc nghiệm
khách quan trong kiểm tra 15 phút nên là 50/50, trong kiểm tra 45 phút nên là
25/75 đến 40/60. Cụ thể:
- Đối với đề 15 phút: 1 câu tự luận (5điểm) và 2 đến 3 câu trắc nghiệm (5
điểm)
- Đối với đề 45 phút: 1 đến 2 câu tự luận (3 điểm); 1 câu điền khuyết (1
đến 2 điểm); 1 câu nhiều lựa chọn nhưng có 4 ý nhỏ ( 2 điểm); 1 câu
ghép đôi (1,5 đến 2 điểm); 1 câu đúng sai (1,5 đến 2 điểm)
Thời gian để hoàn thành mỗi câu tự luận khoảng 10 -15 phút, mỗi câu trắc
nghiệm từ 5 – 8 phút (mỗi ý nhỏ từ 1 đến 1,5 phút).
II. Các biện pháp thực hiện.
1. Qui trình biên soạn đề kiểm tra:
* BƯỚC 1: Xác định mục đích và mục tiêu của đề kiểm tra
+ Xác định mục đích, yêu cầu đề kiểm tra: là phương tiện để xác định mức
độ đạt được hệ thống mục tiêu môn học cần đạt cảu học sinh, qua đó đánh giá kết
8
quả học tập sau khi học sinh đã học xong một phần, một chương, một học kì hay
toàn bộ chương trình một lớp, một cấp học nào đó.
+ Xác đinh các mục tiêu cần: Người biên soạn đề kiểm tra cần liệt kê đủ các
mục tiêu giảng dạy để làm căn cứ so sánh, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Ví dụ :
Kiểm tra 1 tiết: Chương V (Công nghệ 8)
Truyền và biến đổi chuyển động
Căn cứ để xác định mục đích kiểm tra:
- Giáo viên căn cứ vào Chương trình Giáo dục phổ thông môn Công nghệ để
xác định mức độ mục tiêu cần đạt được (trang 48, Chương trình giáo dục phổ thông
2. Đề kiểm tra trắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan)
- Ưu điểm:
+ Có thể bao quát được phạm vi rộng kiến thức của môn học.
+ Hạn chế chép bài hoặc trao đổi khi làm bài.
+ Dễ chấm bài, có thể chấm bài bằng phương tiện hiện đại.
+ Độ chính xác phụ thuộc vào chất lượng đề, không phụ thuộc nhiều
vào chủ quan của giáo viên.
- Hạn chế:
+ Chưa phù hợp với thói quen của giáo viên khi ra đề kiểm tra.
+ Người làm bài có thể đoán kết quả không cần căn cứ khoa học.
+ Khó ra đề, nhất là đề dạng “mở” để học sinh vận dụng.
+ Dễ kiểm tra kiến thức, khó kiểm tra kỹ năng, khó đánh giá tính sáng
tạo trong việc vận dụng kiến thức.
3. Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan:
Mỗi hình thức ra đề kiểm tra tự luận hay trắc nghiệm đều có ưu điểm và hạn
chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lý các hình thức sao cho phù hợp với nội
dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh
giá kết quả học tập của HS chính xác hơn.
Kết hợp giữa tự luận và trắc nghiệm sẽ tận dụng được những ưu điểm của cả
hai hình thức. Nếu đề kiểm tra kết hợp hai hình thức thì nên có nhiều đề khác nhau
hoặc cho HS làm bài kiểm tra phần trắc nghiệm khách quan độc lập với việc làm
bài kiểm tra phần tự luận.
10
* BƯỚC 3: Thiết lập ma trận đề kiểm tra
Thiết lập hệ số điểm, tỷ lệ điểm giữa trắc nghiệm và tự luận từ đó lập ra ma
trận đề kiểm tra. Việc quyết định số lượng câu hỏi cho từng mục tiêu tuỳ thuộc vào
mức độ quan trọng của mục tiêu đó, thời gian làm bài kiểm tra và số điểm quy định
cho từng mạch kiến thức, từng mức độ nhận thức. Cụ thể như sau:
- Xác định số điểm cho từng mạch kiến thức được căn cứ vào số tiết qui
định trong phân phối chương trình, mức độ quan trọng của mỗi phần
hành đèn ống
huỳnh quang.
0.5 0.5 1
0.5 1 1.5
Tổng 3 4 3 4.0 6.0
Trong bảng trên, mức độ nhận biết, thông hiểu vận dụng được xác định trọng
số điểm là 3:4:3 từ đó giáo viên có thể suy ra được số câu hỏi trong từng ô và trong
số điểm trong từng ô tương ứng.
11
* BƯỚC 4: Biên soạn câu hỏi theo ma trận
Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo nguyên tắc: loại câu hỏi, số
câu hỏi và nội dung câu hỏi do ma trận đề quy định, mỗi câu hỏi TNKQ chỉ kiểm
tra một lần hoặc một vấn đề, khái niệm.
Thiết kế câu hỏi: Căn cứ vào mục tiêu đã được xác định giáo viên thiết kế
nội dung, hình thức, lĩnh vực kiến thức và mức độ nhận thức cần có ở học sinh qua
từng câu hỏi và toàn bộ bài kiểm tra.
* BƯỚC 5: Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm
Việc xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm đối với bài kiểm tra
cần đảm bảo các yêu cầu:
- Nội dung phải đảm bảo tính khoa học và chính xác. Cách trình bày
cần phải cụ thể, chi tiết nhưng ngắn gọn và dễ hiểu, phù hợp với ma trận đề
kiểm tra.
- Cần hướng tới xây dựng bản mô tả các mức độ đạt được để học sinh có
thể tự đánh giá được bài làm của mình
Xây dựng đáp án và biểu chấm điểm: Theo qui định của bộ giáo dục và đào
tạo khi xây dựng biểu điểm theo thang điểm 10, gồm 11 bậc, từ điểm 0 đến điểm
10, có thể cho điểm lẻ đến 0,5. Khi xây dựng biểu điểm cần chú ý:
+ Biểu điểm với hình thức tự luận: Xây dựng theo thang điểm trên, theo
nguyên tắc chung đang thực hiện.
+ Biểu điểm với hình thức trắc nghiệm khách quan: Điểm toàn bài (10 điểm)
Câu 1: Thế nào là vật liệu cách điện? Nêu đặc điểm và ứng dụng của nó? (4
điêm)
Câu 2: Cho biết số liệu kĩ thuật của thiết bị sau: 220V – 45W . Giải thích ý
nghĩa của số liệu kĩ thuật đó? (2 điểm )
Đề số 2: Bài kiểm tra 15 phút
I. Phần trắc nghiệm ( 4 điểm)
Câu 1: Vật liệu nào dưới đây là vật liệu dẫn điện ?(1 điểm)
A. Nước tinh khiết.
B. Nhựa đường.
C. Thuỷ ngân.
D. Kim loại đồng nhôm.
Câu 2: Vật liệu nào dưới đây là vật liệu cách điện ? (1 điểm)
A. Hợp kim Nike - crôm
B. Dung dịch Axit.
C. Nhựa đường.
D. Thuỷ ngân.
Câu 3: Chọn các từ hoặc cụm từ trong bảng dưới đây điền vào chỗ trống (……….)
trong các câu sau để được câu đúng. (2 điểm)
Vật liệu dẫn điện Đường sức từ trường Dòng điện
Điện quang Điện cơ Điện nhiệt
A. Vật liệu mà dòng điện chạy qua gọi là ………………
B. Vật liệu không cho ……………… vật liệu cách điện.
C. Vật liệu mà ………………. chạy qua gọi là vật liệu dẫn từ.
D. Có 3 loại đồ dùng điện trong gia đình : Đồ dùng …………… ;
E. đồ dùng……………… ; đồ dùng………………….
II. Tự luận: (6 điểm)
14
Câu 1: Thế nào là vật liệu dẫn điện? Nêu đặc điểm và ứng dụng của nó? (4
điêm)
Câu 2: Cho biết số liệu kĩ thuật của thiết bị sau: 220V – 60W . Giải thích ý
(3) và các bản vẽ liên quan đến thiết kế và thi
công các công trình kiến trúc và xây dựng gọi là
(4)
Câu 6 : Hãy nối mỗi cụm từ ở cột A với mỗi nội dung ở cột B để nêu lên trình tự
đọc bản vẽ nhà.
A Cột nối B
1. Khung tên 1 nối với …. a) Kích thước chung, kích thước từng bộ
phận
2. Hình biểu diễn 2 nối với …. b) Số phòng, số cửa đi, số cửa sổ…
3. Kích thước 3 nối với …. c) Tên gọi ngôi nhà, tỉ lệ bản vẽ
4. Các bộ phận 4 nối với …. d) Vật liệu, công dụng của ngôi nhà
e) Tên gọi hình chiếu, tên gọi mặt cắt.
II. Phần tự luận ( 6 điểm)
Hãy vẽ các hình cắt (ở vị trí chiếu đứng ) và hình chiếu bằng của các vật thể sau.
Vẽ theo kích thước đã cho trên hình vẽ.
16
bản vẽ lắp, bản vẽ nhà, bản vẽ cơ khí, bản vẽ chi tiết, bản vẽ xây dựng, bản vẽ kỹ thuật
Đề số 4: Bài kiểm tra viết 1 tiết
I. Phần trắc nghiệm khác quan ( 4 điểm)
Khoanh tròn chữ cái đứng trước câu trả lời mà em cho là đúng.
( Từ câu 1 đến câu 5)
Câu 1: Kẹp vật cần dũa sao cho vạch cần dũa cách mặt êtô từ:
A. 10 - 25 mm C. 10 - 20 mm
B.15 - 20 mm D. 15 - 25 mm
Câu 2: Thước cặp dùng để :
A. Đo độ dài của trục, thanh.
B. Đo đường kính trong, ngoài và chiều sâu lỗ với kích thước không lớn lắp.
C. Đo góc và chiều sâu lỗ.
18
Đề số 5: Bài kiểm tra viết 1 tiết
I. Phần trắc nghiệm ( 4điểm)
Hãy khoanh tròn vào chữ cái đứng trước mỗi câu trả lời mà em cho là đúng
nhất: Từ câu 1 đến câu 4 ( 2điểm)
Câu 1: Vật liệu nào dưới đây là vật liệu cách điện ?
E. Hợp kim Nike - crôm
F. Dung dịch Axit.
G. Nhựa đường.
H. Thuỷ ngân
Câu 2: Dựa trên cơ sở nào người ta phân loại đèn điện ?
A. Cấu tạo của đèn điện.
B. Nguyên lí làm việc của đèn điện.
C. Màu sắc ánh sáng của đèn điện.
D. Các chất bên trong của bóng đèn.
Câu 3: Bàn là điện là đồ dùng điện loại gì ?
A. Loại điện - nhiệt.
B. Loại điện - quang.
C. Loại điện - cơ.
D. Kết hợp loại điện - cơ và điện-nhiệt.
Câu 4: Máy sấy tóc là đồ dùng điện loại gì ?
E. Loại điện - nhiệt.
F. Loại điện - cơ.
G. Loại điện - quang.
H. Kết hợp loại điện - cơ và điện - nhiệt.
19
Câu 5 (1 điểm): Hãy nối mỗi cụm từ ở cột A với mỗi cụm từ ở cột B để được câu
đúng.
A Cột nối
B
- Điều hoà không khí 220V- 200W, mỗi ngày sử dụng 8 giờ.
Biết rằng mỗi kWh giá 700 đồng.
20
III. Kết quả nghiên cứu
1. Kết quả đạt được:
Sau khi áp dụng đề tài này tại truờng THCS Thanh Xuân Nam trong năm
học 2012 -2013 tôi đã thu được kết quả như sau:
+ 100% số học sinh có hứng thú học tập bộ môn.
+ 95% học sinh chủ động nghiên cứu tìm tòi kiến thức.
Chính vì vậy mà chất lượng được nâng cao. Qua kết quả bài kiểm tra học kì 2, chất
lượng môn công nghệ của khối 8 đã đạt được như sau:
Lớp Sĩ số
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
8A1
46 33
71.74
13
28.26
0
0.0
0
8A2
37 24
64.86
9
24.32
4
10.81
0
38 33
86.84
5
13.16
0
0.0
0
8A2
38 26
68.42
10
26.32
2
5.26
0
8A3
38 24
63.16
11
28.95
3
7.89
0
8A4
31 21
67.74
7
22.58
3
9.68
cần sử dụng chuẩn kiến thức, kỹ năng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện dạy
học cụ thể.
Như vậy, để thiết lập ma trận đề và ra đề kiểm tra cần phải có một ngân hàng
câu hỏi cho từng bài, từng chương, từng khối lớp học.
22
C- KẾT LUẬN CHUNG
Trong nhà trường, hoạt động dạy học là trung tâm để thực hiện nhiệm vụ
chính trị được giao, thực hiện sứ mệnh “trồng người”. Hoạt động dạy học chỉ đạt
hiệu quả cao khi tạo lập được môi trường sư phạm lành mạnh, bầu không khí thân
thiện, phát huy ngày càng cao vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Do
đó, phải đưa nội dung chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới
kiểm tra – đánh giá nói riêng thành trọng tâm. Cũng trong mối quan hệ đó, bước
phát triển của cuộc vận động và phong trào thi đua này sẽ tạo động lực thúc đẩy
quá trình đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra – đánh giá đạt được
mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Gần đây, nhiều đề thi, đề kiểm tra đã bắt đầu có những câu mà học sinh không
phải học thuộc quá nhiều và có xu hướng thể hiện được những năng lực cá nhân
của học sinh tốt hơn, không học tủ được, không cần ôn luyện nhiều. Đề thi mở giúp
học sinh khám phá, phát hiện sự vật hiện tượng theo cách nhìn mới, sáng tạo… tập
trung chủ yếu vào các kỹ năng tìm kiếm xử lý thông tin, kỹ năng phát hiện, giải
quyết vấn đề, kỹ năng đưa ra những nhận xét bình luận và nói lên những độc đáo,
sáng tạo của bản thân.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi, chắc chắn không tránh
khỏi những thiếu sót, do vậy kính mong các đồng nghiệp góp ý bổ sung để cùng
nhau đưa chất lượng bộ môn nói riêng và chất lượng học sinh nói chung lên tầng
cao hơn, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hà Nội, ngày 08 tháng 03 năm 2014