BẢN CAM KẾT
I. TÁC GIẢ:
Họ và tên: Hà Thị Thanh Nga
Ngày tháng năm sinh: 20- 08- 1979
Đơn vị: Trường THPT Lê Quý Đôn
Điện thoại: 0313.551205 Di động: 0985754909
Email:
II. SẢN PHẨM:
BỒI DƯỠNG THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO HỌC SINH THPT KHI DẠY HỌC
THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945
III. CAM KẾT:
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân
tôi. Nếu có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hoặc toàn
bộ sản phẩm sáng kiến kinh nghiệm tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo về tính trung thực của
bản cam kết này.
Ngày 26 tháng 2 năm 2011
Người cam kết
Hà Thị Thanh Nga
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1.1. Sống và sáng tạo theo quy luật của cái đẹp là bản chất của con người. Nhưng cuộc
sống vốn đa dạng và phức tạp. Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến hoá vô cùng
giữa thực- hư, đẹp- xấu, cao cả- thấp hèn…Biết bao cái xấu xa, thấp hèn nhưng lại núp
trong cái đẹp, nguỵ trang bằng hình dáng lộng lẫy bề ngoài. Do đó, cái khó là làm sao
hướng dẫn và phát triển đúng đắn con đường đi đến cái đẹp đích thực, giúp con người
có khả năng lựa chọn và đánh giá đặc biệt nhạy cảm, chính xác trước cái đẹp, từ đó biết
sáng tạo ra cái đẹp muôn màu trong mọi hoạt động sống của mình. Chính vì vậy, việc
bồi dưỡng cho thanh thiếu niên một thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh trở thành một trong
những nhiệm vụ quan trọng của quá trình giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu khả năng bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh của các tác phẩm
văn chương.
- Thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945, chủ yếu là thơ của các tác giả tiêu biểu được
tuyển chọn vào chương trình Văn THPT.
- Các biện pháp bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh khi dạy học thơ lãng mạn
Việt Nam 1930-1945.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Phương pháp tổng hợp và nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp điều tra khảo sát và phân tích số liệu thống kê.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ BỒI DƯỠNG
THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO HỌC SINH THPT
KHI DẠY HỌC THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945
1.1. Thị hiếu và thị hiếu thẩm mỹ.
1.1.1. Thị hiếu:
Thị hiếu được hiểu theo nghĩa gốc là sự ngon miệng, sự ham thích (Schmecken). Ở
những cá nhân khác nhau, thị hiếu lại biểu hiện muôn hình vạn trạng, nó khiến người ta
lựa chọn những đối tượng khác nhau, phù hợp với sở thích của mình. Sự lựa chọn này
mang tính phổ biến và ổn định thành một xu hướng, một kiểu, một lối, một thói quen
riêng của từng người trong sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội.
1.1.2. Thị hiếu thẩm mỹ:
1.1.2.1. Định nghĩa:
Thị hiếu thẩm mỹ là một bộ phận cấu thành năng lực thẩm mỹ, là sở thích, khát
vọng của con người hướng tới cái đẹp, tới các phạm trù thẩm mỹ. Nó giúp con người
tiến sâu vào thế giới thẩm mỹ bằng những mẫn cảm đặc biệt và đạt tới những thói quen
trong thưởng thức và sáng tạo.Thị hiếu thẩm mỹ thường được hình thành, bồi dưỡng
dưới tác động của nghệ thuật.
1.1.2.2. Đặc điểm của thị hiếu thẩm mỹ:
người cổ vũ cho loại hình nghệ thuật hình thức chủ nghĩa hoặc tự nhiên chủ nghĩa.
Những tác phẩm nghệ thuật độc hại, kích thích hành vi tính dục và bạo lực xuất hiện
tràn lan và được nhiều người ưa chuộng như một thứ mốt thời thượng. Việc lựa chọn
những tác phẩm thuần giải trí thay cho những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao ngày
càng trở thành một xu hướng ổn định và có chiều hướng gia tăng trong xã hội. Bên
cạnh đó, những nét thị hiếu thẩm mỹ mang tính dân tộc có nguy cơ bị mất đi. Tình hình
này tác động không nhỏ đến thanh thiếu niên- lứa tuổi vốn nhạy cảm với cái mới, cái
lạ, thích khẳng định cá tính riêng nhưng vốn kinh nghiệm thẩm mỹ còn ít ỏi khiến các
em ít nhiều có những biểu hiện lệch lạc, thiếu lành mạnh trong thị hiếu thẩm mỹ như
thái độ lúng túng, sa đà, mất phương hướng trước những xu hướng thẩm mỹ khác nhau.
Ảnh hưởng của thứ thẩm mỹ lai căng, rẻ tiền, thiên về giá trị vật chất tác động đến các
em ngày càng lớn.
Do vậy, vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên
trở thành một nhiệm vụ vô cùng quan trọng nhưng không kém phần phức tạp của xã hội
và nhà trường.
1.2. Thị hiếu thẩm mỹ trong hoạt động tiếp nhận văn học của bạn đọc- học sinh:
1.2.1. Thị hiếu thẩm mỹ có vai trò quan trọng trong hoạt động tiếp nhận văn học
của bạn đọc- học sinh:
Trước hết, thị hiếu thẩm mỹ giúp người đọc phát hiện ra chiều sâu, giá trị nội tại
của tác phẩm văn chương. Không chỉ vậy, thị hiếu thẩm mỹ còn giúp người đọc tiếp
nhận đúng đắn các tác động của tác phẩm văn chương đồng thời giúp bạn đọc khắc
phục khoảng cách thẩm mỹ giữa tác phẩm văn chương và bạn đọc cũng như nâng cao
tầm đón nhận, mở rộng vốn ngôn ngữ cho bạn đọc.
1.2.2. Những điểm cần lưu ý trong quá trình bồi dưỡng thị hiếu thầm mỹ cho
học sinh khi dạy học Văn:
Quá trình bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh khi dạy học Văn phải chú
trọng bồi dưỡng cho các em năng lực ngôn ngữ, đặc biệt là khả năng cảm xúc, đánh
giá hết cái hay, cái đẹp của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm. Nhưng mặt khác, giáo
viên cũng cần ý thức được hoạt động tiếp nhận văn học trong nhà trường là hoạt
động có tính đặc thù của môi trường sư phạm để tổ chức tốt các hoạt động dạy học.
1.3.2.1. Tính đa dạng mà thống nhất của thị hiếu thẩm mỹ trong thơ lãng mạn Việt
Nam 1930-1945:
Thơ lãng mạn đã thay thế tiếng nói của cái tôi “vô ngã”, cái tôi vũ trụ bằng
tiếng nói của cái tôi cá nhân tràn đầy cảm xúc, tâm trạng, đòi giải phóng cá tính
sáng tạo. Không chấp nhận cái đẹp vĩnh hằng, bất biến, mang tính quy phạm, ước lệ
trong thơ cổ điển, các nhà thơ lãng mạn tìm đến cái đẹp muôn hình, muôn vẻ của
thế giới này, cái đẹp được phát hiện từ góc độ cá nhân, cá thể với nhiều tưởng
tượng, liên tưởng mới lạ, kỳ thú.
Trên cái nền chung có tính ổn định của thời đại, thị hiếu thẩm mỹ của mỗi một nhà
thơ lãng mạn giai đoạn 1930-1945 lại có những đặc điểm riêng. Nếu Thế Lữ đưa ta
phiêu du vào tiên cảnh, Lưu Trọng Lư đắm mình trong cõi mộng và Chế Lan Viên quay
về với quá khứ xa xăm, khóc thương cho dân tộc Chàm xấu số thì Xuân Diệu xây dựng
vườn địa đàng ngay chốn trần gian với những nguyện ước thật mãnh liệt, chân thành:
Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây đa quấn quýt cả mình xuân
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất.
(Thanh niên)
Là bạn thơ thân thiết của Xuân Diệu nhưng ngọn lửa thơ trong thơ Huy Cận không nồng
nàn, mãnh liệt mà âm ỉ cháy bởi chất chứa nỗi sầu vô tận: "Một chiếc linh hồn nhỏ.
Mang mang thiên cổ sầu".
Giữa lúc các nhà thơ lãng mạn say sưa với cái đẹp mới mẻ từ trời Tây đưa lại, Nguyễn
Bính vẫn nặng lòng với “hồn xưa đất nước”. Thi sĩ đến với ta bằng tiếng thơ “chân
quê”, phảng phất phong vị ca dao, dân ca. Hồn thơ ấy chỉ “ưa sống trong tình quê mà ít
chú ý đến cảnh quê” :
Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
(Tương tư)
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
(Tống biệt hành- Thâm Tâm)
Tuy có lúc đau buồn, sầu mộng nhưng nhìn chung, thơ lãng mạn Việt Nam 1930-
1945 vẫn ánh lên vẻ đẹp của tình yêu cuộc sống, yêu con người tha thiết. Thơ Hàn Mặc
Tử là tinh hoa của một tâm hồn khát khao được sống, được hoà nhập với cuộc đời, với
con người nhưng lại gặp một chuỗi đau thương, bất hạnh. Tiếng thơ sầu đau “ảo não”
của Huy Cận cũng chẳng qua “là trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ
yêu sự sống”.
Thành tựu nổi bật nhất của thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 về phương diện hình
thức nghệ thuật là sự cải tạo lại một cách căn bản “thơ trữ tình tiếng Việt từ câu thơ
“điệu ngâm” sang câu thơ “điệu nói”.
Đọc thơ lãng mạn, ta được tiếp xúc với vẻ đẹp của hình ảnh thơ mới lạ, độc đáo, hấp
dẫn. Do huy động nhiều giác quan và hoà trộn các giác quan trong cảm nhận thế giới,
các nhà thơ lãng mạn sáng tạo ra nhiều hình ảnh thơ tân kì:
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn
(Huyền diệu- Xuân Diệu)
Mặt khác, thơ lãng mạn 1930-1945 rất giàu có về nhạc điệu. Nhạc điệu trong thơ lãng mạn
là nhạc điệu của cảm xúc, của ngữ điệu người, giọng điệu người. Chính điều này đã phá
vỡ cấu trúc câu thông thường của thơ cổ điển. Mỗi dòng thơ không còn là một đơn vị cú
pháp độc lập mà chảy tràn sang nhau bởi hiện tượng vắt dòng hoặc đột ngột bị tách làm
đôi:
Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt
(Lời kỹ nữ- Xuân Diệu)
Kiểu câu cũng rất đa dạng: xuất hiện nhiều câu hỏi, câu cảm thán, câu hỏi tu từ, câu
nghị luận, câu nghi vấn, câu cầu khiến…
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
(Tiếng thu- Lưu Trọng Lư)
nhiều cùng với sự hiểu biết về nghệ thuật ngày càng gia tăng sẽ nâng cao trình độ và
năng lực thẩm mỹ của các em, giúp các em dần dần hình thành khả năng đặc biệt nhạy
cảm với cái đẹp trong nghệ thuật và cuộc sống. “Thói quen phân tích và lĩnh hội một
cách chín chắn những hiện tượng nghệ thuật làm cho thị hiếu phát triển, phong phú,
thêm hoàn thiện, tinh vi” (V.R.Rađumnưi- Bàn về thị hiếu nghệ thuật. NXB Văn hoá
nghệ thuật, H,. 1962). Đến đây, ta càng hiểu thêm ý nghĩa sâu sắc, có tính khái quát cao
trong câu nói của Mác: “Tác phẩm nghệ thuật và mọi sản phẩm cũng thế có thể tạo ra
công chúng sính nghệ thuật, biết thưởng thức cái đẹp. Cho nên, sản xuất không những
sản xuất ra đối tượng cho chủ thể mà còn sản xuất ra chủ thể cho đối tượng” (Nhiều tác
giả -Lý luận văn học. NXB Đại học sư phạm 2002)
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO HỌC SINH
THPT KHI DẠY HỌC THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945
2.1. Khảo sát thị hiếu thẩm mỹ của học sinh THPT khi học thơ lãng mạn 1930-
1945.
2.1.1. Mục đích khảo sát:
Chúng tôi tiến hành khảo sát thị hiếu của học sinh THPT khi học thơ lãng mạn
1930-1945 nhằm mục đích nắm được trình độ phát triển thị hiếu thẩm mỹ của các em để
xác lập cơ sở thực tiễn của đề tài.
2.1.2. Đối tượng, địa bàn, phương pháp khảo sát:
- Địa bàn: trường THPT Lê Quý Đôn- Hải Phòng.
- Đối tượng: học sinh lớp 11. Cụ thể như sau: hai lớp cơ bản D, hai lớp Tự nhiên,
hai lớp cơ bản A. Tổng số: 6 lớp (303 học sinh).
- Phương pháp khảo sát: Sử dụng phiếu điều tra với câu hỏi như sau:
Câu 1: So với thơ trung đại, thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930-1945 đem lại cho em
những ấn tượng mới mẻ như thế nào về nội dung và nghệ thuật?
- Nội dung:
- Nghệ thuật:
Câu 2: Em có thích học thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930-1945 không? Vì sao?
Có Bình thường Không
nghệ thuật
42/303 13,86
Phù hợp với tâm
trạng, tính cách
74/303 24,42
Bồi dưỡng tâm hồn 25/303 8,25
Bình thường
Không cảm thụ được
hết cái hay, cái đẹp
của tác phẩm
33/303 10,89
Không phù hợp với
tính cách
23/303 7,59
Không thích học văn 14/303 4,62
Không thi ban C 32/303 10,56
Không thích thơ 9/303 2,97
Không thích
Nội dung xa rời thực
tế
3/303 0,99
Không phù hợp với
xã hội hiện nay
2/303 0,66
Không thi ban C 6/303 5.28
Khó hiểu 25/303 8,25
Thiếu tinh thần dân
tộc
1/303 0,33
Giáo viên dạy chưa
1930-1945 (chiếm 46,53%). Lý do chủ yếu khiến các em yêu thích bộ phận văn học này
Tác giả
yêu thích
Lý do Số học sinh Tỷ lệ(%)
Ấn tượng về
cuộc đời
32/303 10,56
Nội dung thơ
hay
84/303 27,72
Hình thức nghệ
thuật đặc sắc
53/303 17,49
Thơ dễ hiểu, dễ
thuộc
68/303 22,44
Thơ có nội dung
và nghệ thuật
đặc sắc
66/303 21,78
vì nội dung của các tác phẩm phù hợp với tâm tư, tình cảm, tâm trạng của các em.
(74/141 em = 53,48%). Điều này cũng dễ hiểu vì lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi vị
thành niên, thích khám phá, ưa hiểu biết và đặc biệt có một tâm hồn đầy mơ mộng, dễ
xúc cảm. Đây là một cơ sở rất thuận lợi để tiến hành việc bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ
cho các em khi dạy bộ phận thơ ca này. Trong số các em yêu thích thơ lãng mạn 1930-
1945, có những em đã xuất phát từ giá trị nội dung, nghệ thuật và khả năng vun đắp tâm
hồn của các tác phẩm để đưa ra lý do của mình. Như vậy, ở các em này đã có sự phát
triển nhất định về thị hiếu thẩm mỹ. Nếu chúng ta có biện pháp giáo dục phù hợp thì
chẳng những góp phần nâng cao thị hiếu thẩm mỹ của các em mà còn thúc đẩy quá trình
bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ nhanh đi đến đích bởi các em đó sẽ là những tấm gương
chưa nhiều. Nhìn chung, khả năng tiếp nhận của học sinh chưa tốt. (số liệu ở bảng 3:
mức độ trung bình và yếu: 231/303 =76,23% và bảng 5: mức độ trung bình và yếu:
234/303 = 77,22%). Số liệu ở bảng 2 (lý do các em có đọc thêm hoặc không đọc thêm
thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945) và bảng 4 (lý do yêu thích tác giả) khẳng định thêm
nhận định nêu trên của chúng tôi. Phần lớn những nhận xét về tác phẩm của các em còn
nặng về cảm tính, chủ quan, ít xuất phát từ giá trị nội dung và nghệ thuật. Không những
thế, khả năng diễn đạt của nhiều em còn rất vụng về.
Kết quả khảo sát và việc phân tích số liệu thống kê cho thấy: nhiệm vụ cấp bách là
phải dạy cho học sinh cách đọc hiểu văn bản, từ đó, dần dần hình thành cho các em khả
năng tự tiếp nhận các tác phẩm văn học. Kết quả là, các em biết lựa chọn các tác phẩm
ưu tú để thưởng thức và làm giàu có thêm đời sống tâm hồn của chính mình đồng thời
có khả năng đánh giá chính xác cái đẹp trong cuộc sống, nâng cao năng lực sáng tạo
theo quy luật của cái đẹp. Nói cách khác, phải xây dựng các biện pháp để bồi dưỡng cho
học sinh một thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, phát triển.
Trước khi đề xuất các biện pháp, chúng tôi xin đưa ra một số nguyên tắc sau:
2.2. Những nguyên tắc của việc xác lập các biện pháp bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ
khi dạy học thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945.
2.2.1. Phải phát huy vai trò chủ thể học sinh- chủ thể thưởng thức thẩm mỹ:
Để thực hiện nguyên tắc này, giáo viên phải đóng vai trò định hướng, tổ chức
hướng dẫn quá trình tiếp nhận văn học của học sinh trên cơ sở hiểu rõ tâm sinh lý lứa
tuổi, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu thẩm mỹ cùng toàn bộ vốn kinh nghiệm thẩm mỹ của
các em. Từ đó, mọi biện pháp đều phải chú ý hướng vào học sinh, vì học sinh, vừa giải
phóng tiềm năng sáng tạo trong nhận thức, vừa kịp thời uốn nắn những lệch lạc, sai lầm
của các em trên con đường đến với chân lý nghệ thuật.
2.2.2. Phải coi văn bản văn học là chủ thể tác động, góp phần bồi dưỡng, nâng
cao thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho học sinh THPT:
Chỉ bằng con đường "giải mã" văn bản, người đọc mới có thể nắm bắt được giá trị
thẩm mỹ của tác phẩm, "chiều sâu ý vị nhân sinh" mà tác giả đã gửi gắm vào đó bằng
tất cả tài năng và tâm huyết của mình. Quá trình tiếp xúc thường xuyên với các tác
phẩm văn học ưu tú không những làm cho con người trở nên sành sỏi về mặt nghệ thuật
trăn trở cũng như thái độ, tình cảm và phong cách nghệ thuật của nhà thơ.
Ví dụ:
Yêu cầu học sinh đọc lướt và nêu cảm nhận của em về bài thơ "Vội vàng" của
Xuân Diệu.
Tiếp theo là hình thức đọc kỹ. Đây là cách đọc thật tỉ mỉ, chính xác từng câu, từng
ý, là sự quan sát tập trung, theo dõi sát sao từng từ và từng dòng ngữ nghĩa trầm lắng
trong đó người đọc sẽ vượt qua biên giới các từ và phóng chiếu lên bộ não một thế giới
nghệ thuật toàn vẹn mà mỗi từ, mỗi câu, mỗi chi tiết chỉ có giá trị chức năng bộ phận.
Bằng cách đọc này, người đọc sẽ tìm ra mối liên hệ giữa các ý và kết cấu của tác phẩm
để thực sự thâm nhập vào thế giới cảm xúc của cái tôi trữ tình, phát hiện ra vấn đề nhân
sinh mà tác giả gửi gắm. Bởi thế, đây là hình thức đọc bắt buộc đối với tất cả các văn
bản văn học, nhất là văn bản thơ.
Bên cạnh đó, giáo viên có thể yêu cầu học sinh đọc có bổ sung- một hình thức đọc
phù hợp với các tác phẩm thơ. Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ thơ được cấu tạo đặc
biệt, nó không có tính liên tục và tính phân tích như ngôn ngữ văn xuôi mà có tính nhảy
vọt, tính gián đoạn tạo thành những "khoảng trống" giàu ý nghĩa. Vì thế, thơ sử dụng
nhiều phép tu từ ẩn dụ, nhiều tỉnh lược, nhiều định ngữ. Ngôn từ trong thơ thường phá
vỡ logic kết hợp thông thường để tạo thành những kết hợp mới theo nguyên tắc lạ hoá.
"Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử là một ví dụ tiêu biểu. Những phát hiện mới mẻ
cũng như những ngộ nhận đáng tiếc của người đọc trong thời gian qua đều bắt nguồn từ
sự đột biến mạnh của tư duy thơ "nhảy cóc". Khổ 1: cảnh vườn tược, khổ 2: cảnh sông
nước, khổ 3: hình ảnh khách đường xa. Ba khổ thơ tưởng chừng như rời rạc, không có
mối liên hệ logic nào. Từ ngữ trong bài "Tống biệt hành" được cấu tạo theo nguyên tắc
dồn nén, nhiều tỉnh lược, giữa các dòng thơ có nhiều khoảng trống cũng tạo nên những
ám ảnh bí ẩn không dễ lý giải. Vì thế, người đọc phải bằng vốn kinh nghiệm, vốn sống,
vốn hiểu biết của mình khoả lấp những "chỗ trống" mà do yêu cầu của thể loại, tác giả
không nói hết, từ đó phát hiện thêm những lớp "hàm ngôn" đằng sau lớp "hiển ngôn".
Ngoài ra, hình thức đọc đặc biệt có hiệu quả trong việc khám phá thế giới hình
tượng để nắm được chiều sâu tư tưởng của tác phẩm thơ là hình thức đọc có định hướng
mục đích. Học sinh sẽ đọc một đoạn thơ, một dòng thơ hoặc một số câu thơ theo yêu
động tiếp nhận văn học của học sinh nói riêng, việc đọc phải tiến hành nhiều lần.
Trước tiên, công việc này được thực hiện ở nhà, khi học sinh soạn bài. Lần đọc
này chính là bước làm quen với tác phẩm bằng hứng thú tự nhiên. Những cảm xúc tươi
mát, nguyên sơ, trong lành của lần tiếp xúc đầu tiên này có khả năng khơi gợi liên
tưởng, tưởng tượng, giúp học sinh thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Thậm chí, đôi khi, bằng sự mách bảo của trực giác, của linh cảm, các em có thể phát
hiện thấy những khía cạnh riêng tư, sâu thẳm nhất của thi phẩm. Nếu học sinh chịu khó
đọc kỹ ở khâu này, các em sẽ trả lời tốt những câu hỏi hướng dẫn học bài- tiền đề cần
thiết của giờ học đạt hiệu quả cao ở trên lớp.
Quan trọng hơn, việc đọc phải được tiến hành trên lớp. Xuất phát từ việc không
hiểu rõ bản chất của hoạt động đọc, nhiều giáo viên làm việc này một cách chiếu lệ, đại
khái. Thậm chí, có giáo viên chỉ thực hiện việc đọc ở đầu giờ học nhằm khơi gợi không
khí cho quá trình phân tích tác phẩm. Lý luận và thực tiễn dạy học đều cho thấy rằng
hoạt động này phải tiến hành nhiều lần, trong suốt giờ học. Đọc để duy trì bầu không
khí văn chương cho lớp học, tạo ra cuộc giao tiếp thực sự giữa nhà thơ và người đọc.
Mỗi lần đọc là một nấc thang mới trong nhận thức, đánh giá và thưởng thức tác phẩm.
Mặt khác, hoạt động đọc trên lớp cũng nhằm khắc phục tình trạng học sinh không đọc
tác phẩm ở nhà do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả nguyên nhân chủ quan và nguyên
nhân khách quan.
Việc đọc được tiến hành khi bắt đầu giờ học để tạo không khí tiếp nhận tác phẩm
cho cả lớp, giúp các em nắm được mạch vận động cuả cảm xúc, hoà nhập với tâm trạng
của cái tôi trữ tình trong tác phẩm.
Trong quá trình phân tích, cắt nghĩa, lý giải văn bản, giáo viên đọc và đặc biệt huy
động nhiều học sinh đọc tác phẩm: đọc từng đoạn, đọc một số câu thơ để khơi gợi
cảm xúc, khơi gợi suy nghĩ, để tìm tòi và phân tích những trọng điểm nghệ thuật. Quá
trình đọc đi đọc lại nhiều lần gắn với những yêu cầu cụ thể và ngày càng cao của giáo
viên giúp các em cảm và hiểu được cái hay, cái đẹp của hình tượng thơ, có được những
phát hiện mới mẻ về tác phẩm.
Không những thế, việc đọc được tiến hành khi kết thúc giờ học để gây ấn tượng
hoàn chỉnh về tác phẩm đồng thời nâng cao cảm nhận của học sinh, khơi gợi một "chân
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu.
Trong lúc những đau đớn , bất hạnh ấy của cuộc đời giằng xé thể xác và tâm hồn,
Hàn Mặc Tử nhận được bức bưu ảnh chụp phong cảnh sông nước có thuyền và bến kèm
theo mấy lời thăm hỏi của Hoàng Cúc. Bức ảnh gọi về những kỷ niệm đẹp đẽ, cùng mối
tình đơn phương với cô thiếu nữ xứ Huế, từ đó khơi nguồn thi hứng cho bài thơ "Đây
thôn Vĩ Dạ". Việc tạo dựng hoàn cảnh ra đời của tác phẩm sẽ tạo tâm thế "nhập cuộc"
cho học sinh, thiết lập dòng liên tưởng cảm xúc, giúp các em dễ dàng thâm nhập vào thế
giới hình tượng của tác phẩm để hiểu được tình yêu cuộc sống mãnh liệt nhưng đầy uẩn
khúc của nhà thơ, lý giải được dạng liên kết vừa đứt đoạn vừa nhất quán của mạch thơ,
mạch cảm xúc. Nhưng chỉ giới hạn bài thơ trong hoàn cảnh riêng tư của thi sĩ thì chưa
đủ. Để nâng cao ý nghĩa và giá trị thời đại, giáo viên cần giúp học sinh hình dung lại
hoàn cảnh đau thương, đầy bế tắc của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước cách mạng.
Trong thời điểm đó, tình yêu cuộc sống đi kèm với cảm nhận về sự bấp bênh, hư ảo của
hạnh phúc và tình yêu là nỗi đau chung của các thi sĩ lãng mạn. Đó là lý do vì sao bài
thơ sớm tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu ở người đọc ngay tại thời điểm nó ra đời.
Đang sống ở Hà Tĩnh gió Lào nóng bức, lần đầu tiên ra thủ đô, Xuân Diệu đã cảm
nhận rất rõ cái nắng thu, lá thu, gió thu, trời thu Hà Nội. Bài thơ "Đây mùa thu tới" đã ra
đời trong niềm xúc động, sự say mê, rạo rực, háo hức của một người đang tìm tòi, khám
phá vẻ đẹp rất đặc trưng của mùa thu đất kinh thành.
2.3.3. Bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh qua hoạt động so sánh, đối
chiếu:
So sánh văn học là một phương cách hữu hiệu để rèn luyện, bồi dưỡng thị hiếu
thẩm mỹ cho học sinh. So sánh được dùng để làm nổi bật một vài chi tiết nào đó của tác
phẩm đồng thời để thấy chỗ giống nhau, khác nhau nhằm soi sáng sự kế thừa truyền
thống và những đổi mới của tác giả trong các tác phẩm hoặc đánh giá những chuyển
biến cũng như tài năng biến hóa phong phú của một số cây bút trong những tác phẩm
viết chung một đề tài, hay chọn lựa chung một hình ảnh ở nhiều góc độ khác nhau. Mặt
khác, việc hướng dẫn và luyện cho học sinh so sánh khi dạy học tác phẩm văn chương
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
Nhớ đôi mắt đương nhìn anh đăm đắm.
Khác với Xuân Diệu, khúc dạo "Tương tư" của Nguyễn Bính e thẹn và bâng quơ
hơn nhiều. Nó gửi gắm qua những địa danh vu vơ, phiếm chỉ mà hết sức quen thuộc,
gần gũi: "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông" để rồi được bao bọc trong cảnh quê, tình quê
đằm thắm mà dung dị. Nhớ thương thì đầy ăm ắp nhưng chỉ lặng lẽ, âm thầm trong trăn
trở, băn khoăn: "Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này; Biết cho ai hỏi ai người biết cho?".
Cuối cùng, nỗi tương tư được khép lại bằng khát khao về hạnh phúc lứa đôi qua hình
ảnh trầu cau. Nhưng cách bỏ lửng trong việc tổ chức lời thơ: "Cau thôn Đoài nhớ trầu
không thôn nào" lại hé mở cho người đọc thấy một tương tư tưởng tượng, một mong
hão, mơ hờ. Nếu quên ghi tên tác giả, người đọc dễ lẫn đây là một bài ca dao bởi giọng
quê, chất quê thuần phác, chan chứa nghĩa tình mà hết sức rụt rè, ý nhị.
Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng kiểu so sánh đối lập khi tiến hành bồi dưỡng thị
hiếu thẩm mỹ cho học sinh qua các tác phẩm văn chương. Kiểu so sánh này được áp
dụng đối với các tác phẩm cùng đề tài nhưng khác giai đoạn, khác cách thể hiện cảm
xúc để giúp học sinh nhận ra đặc trưng thi pháp của những thời đại khác nhau, nhất là
những dấu hiệu bản chất của văn học trung đại và văn học hiện đại.
Ví dụ:
So sánh cảnh thu và tình thu trong bài thơ "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu và bài
"Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến.
Cả hai bài thơ đều sử dụng những thi liệu quên thuộc để vẽ lên bức tranh thu: bầu
trời, vầng trăng, chùm hoa, cánh chim…nhưng cách xử lý đề tài, cách miêu tả cảnh vật
hoàn toàn khác nhau, phản chiếu cái nhìn của hai thời đại: trung đại và hiện đại. Cảnh