Phân tích và bình giá chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo) để bồi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ cho học cho học sinh trung học p - Pdf 26


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ HOÀN

PHÂN TÍCH VÀ BÌNH GIÁ NHỮNG CHI TIẾT NGHỆ THUẬT
ĐẶC SẮC TRONG TÁC PHẨM “ĐÀN GHI TA CỦA LORCA”
(THANH THẢO) ĐỂ BỒI DƢỠNG CẢM XÚC THẨM MĨ
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGƢ VĂN HÀ NÔI -2010
3
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cám ơn sự nhiệt tình, lòng tâm huyết của các thầy
cô giáo đang công tác và giảng dạy trong khoa Sau đại học của trường Đại
Học Giáo Dục, Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Các thầy cô đã tạo điều kiện tốt
nhất cho chúng em được học tập, được nghiên cứu để mở mang kiến thức,
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Em xin chân thành cảm ơn thầy GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng. Thầy đã
hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá
trình nghiên cứu đề tài để em được học hỏi, được hiểu biết và hoàn thành luận
văn tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy, cô.
4

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

2.Lịch sử vấn đề…………………………………………….………… 2
3.Mục đích nghiên cứu………………………………………….……… … 9
4.Nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………….……… ….9
5.Phương pháp nghiên cứu…………………………………… ………… 10
6.Cấu trúc luận văn………………………………………………… …… 10
Chƣơng 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN ĐỂ GIẢI QUYẾT ĐỀ TÀI… 12
1.1. Khái niệm chung về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chương… 12
1.1.1. Chi tiết nghệ thuật đặc sắc một biểu hiện của sự sáng tạo trong
hình thức nghệ thuật riêng biệt của tác phẩm……………………………….15
1.1.2 Sự khác nhau giữa chi tiết nghệ thuật đặc sắc với điểm sáng
thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương……………………………… ………17
1. 2. Khái niệm chung về cảm xúc thẩm mĩ………………………………….20
1.2.1.Cảm xúc và cảm xúc thẩm mĩ………………………………………… 20
1.2.2.Cảm xúc thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương…………………… …26
1.3. Năng lực cảm xúc thẩm mĩ của học sinh THPT……………………… 29
1.3.1.Năng lực cảm xúc thẩm mĩ của học sinh THPT về cái đẹp nói chung
……………………………………………………………………………… 29
1.3.2.Năng lực cảm xúc thẩm mĩ của học sinh THPT về nghệ thuật và
trong tác phẩm văn chương……………………………….………………….32
Chƣơng 2.GIÁ TRỊ NỘI DUNG TƢ TƢỞNG VÀ HÌNH THỨC NGHỆ
THUẬT CỦA BÀI THƠ ĐÀN GHI TA CỦA LORCA (THANH
THẢO)………………………………………………………………………36
2.1. Giá trị nội dung tư tưởng của bài thơ……………………………… ….36
2.1.1.Phong cách nghệ thuật của Thanh Thảo biểu hiện qua bài thơ… ……36
2.1.2.Chủ đề tư tưởng của bài thơ……………………………….…… ……41

6
2.2. Giá trị hình thức nghệ thuật của bài thơ…………………………………42
2.2.1. Tìm hiểu hệ thống chi tiết nghệ thuật trong bài thơ………… ………43
2.2.2. Những chi tiết nghệ thuật đặc sắc có giá trị phản ánh cái đẹp trong

có khả năng bồi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ, tư tưởng cao đẹp và nhiều tri thức
mới lạ cho học sinh. Bài thơ mới được chọn đưa vào trong chương trình Trung
học phổ thông được hai năm nhưng việc giảng dạy và học tập của giáo viên,
học sinh không dễ thành công bởi đây là tác phẩm được coi là khó dạy và khó
học. Nhìn chung học sinh vẫn cảm thấy khó hình dung, khó liên tưởng, tưởng
tượng với nhiều chi tiết, hình ảnh trong tác phẩm, chưa kể có những học sinh
còn cảm thấy xa lạ với tác phẩm.
Việc giảng dạy môn Văn trong nhà trường hiện nay còn nhiều vấn đề
cần suy ngẫm. Một trong số đó là hiện tượng khá phổ biến học sinh vô hồn, vô
cảm, lạnh lùng trong giờ học văn vì nhiều lí do khách quan và chủ quan. Biểu
hiện có những giờ học tác phẩm trữ tình buồn học sinh lại cười sảng khoái…
Học sinh không buồn vui, suy tư lắng đọng, trăn trở, không đồng cảm với
nhân vật trữ tình, với tâm tư tác giả. Nói chung nhiều học sinh không hề rung
động, không có cảm xúc khi học văn. Vì thế học sinh học xong rồi nhanh
chóng quên đi những gì vừa học.
Cảm xúc thẩm mỹ của học sinh Trung học phổ thông (THPT) có vai trò
rất quan trọng. Nó đem đến những rung động thẩm mỹ tạo hứng thú cho học
sinh say sưa khám phá, tìm hiểu tác phẩm. Nó có vai trò quan trọng đối với
hoạt động nhận thức của con người nói chung của học sinh nói riêng. Nhưng
trong giờ học tác phẩm văn học hiện nay rất nhiều giáo viên không chú trọng
điều này. Họ hoặc bỏ qua việc bồi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ cho học sinh trong
giờ học, hoặc chỉ thực hiện nó một cách qua loa. Điều này thể hiện rõ ngay
trong các khâu thiết kế giáo án cho giờ dạy. Trong cấu trúc bài soạn phần
Mục tiêu cần đạt, giáo viên thường chú ý : “ Giúp học sinh: về tri thức…cần
nắm chắc…,về kĩ năng cần hình thành …Nhìn chung mục đích chính hầu hết

2
giáo viên hướng tới cho giờ dạy nằm trong những từ ngữ: giúp học sinh hiểu,
giúp học sinh thấy được, biết cách, hình thành được…Giáo viên chủ yếu
hướng tới là giúp cho các em có kiến thức, biết khai thác tác phẩm theo đặc

bởi thể thơ, cấu trúc trùng điệp, âm hưởng tiếng đàn…Bên cạnh đó đặc sắc
của bài thơ còn là sự sáng tạo hình ảnh, những hình ảnh tượng trưng gợi nhiều
suy tưởng.
Trên tạp chí Văn học và tuổi trẻ -số 6/2009, tác giả Lê Thị Tú Anh đã
khai thác “Lời đè từ trong Đàn ghi ta của Lor-ca” trên góc độ tình yêu quê
hương xứ sở và lời đề từ là khát vọng cách tân nghệ thuật, cũng như sự hi sinh
chân chính của người nghệ sĩ hết mình vì nghệ thuật-F.G.Lorca. Bài viết ca
ngợi nhân cách cao đẹp của Lor-ca như hiện thân của khát vọng tự do và cách
tân nghệ thuật.
Trong chuyên đề dạy học ngữ văn 12 TS Lê Hường đã nghiên cứu khá
chi tiết về tác phẩm từ những hiểu biết về tác giả, đến việc chú thích các hình
ảnh, cách giảng dạy tác phẩm, hướng dẫn học sinh học bài.
Tác giả Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Lê Huân trong Thiết kế dạy Ngữ
Văn THPT-Nxb Giáo dục/ 2008 nghiên cứu một cách giảng dạy bài thơ.
“Một tìm tòi thú vị của Thanh Thảo” in trong tập “Thơ-điệu hồn và cấu
trúc” NXb Giáo Dục/2006 cũng là một phát hiện độc đáo của nhà nghiên cứu
văn học Chu Văn Sơn. Tác giả khám phá: Thanh Thảo vay mượn không ít vốn
liếng âm nhạc để đầu tư cho thơ mình. Tác giả nghiên cứu chất nhạc trong bài
thơ, thế giới thi liệu trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca gần gũi với những
thi ảnh trong thế giới nghệ thuật của Lorca, mạch triển khai trong thi phẩm là
hợp lưu của hai dòng tự sự và nhạc.
Trong sách Hướng dẫn thực hiện chương trình Sách giáo khoa lớp 12
môn Ngữ Văn- Nxb Giáo dục/2008, PGS_TS Lê Nguyên Cẩn có bài viết về
tác phẩm giúp cho giáo viên có những hiểu biết về quan niệm mĩ học của chủ
nghĩa tượng trưng và siêu thực để có thể cảm nhận bài thơ. Đồng thời tác giả

4
của bài viết cũng nêu nên cách cảm thụ về bài thơ giúp cho giáo viên có thêm
một kênh tiếp nhận.
Một số luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục thuộc khoa Ngữ Văn -

- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp, khái quát hoá lí luận
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm (điều tra, phỏng vấn, phương pháp
chuyên gia…)
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1. Những tiền đề lí luận để giải quyết đề tài.
Chương 2. Giá trị nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của bài thơ
Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)
Chương 3. Thể nghiệm kết quả nghiên cứu qua thiết kế dạy học bài thơ
Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)

6
CHƢƠNG 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN ĐỂ GIẢI QUYẾT ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm chung về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn chƣơng
Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của nhà văn, kết tinh năng lực
sáng tạo, khám phá đời sống và những cảm xúc nghệ thuật của nhà văn. Tác
phẩm văn học chính là sự nhận thức của nhà văn về cái đẹp và phản ánh đời
sống thông qua các hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật sẽ thể hiện
được quan điểm, tư tưởng, tài năng, nhân cách của nhà văn. Hình tượng nghệ
thuật được dệt nên bằng các chi tiết nghệ thuật lớn nhỏ.
Như vậy có thể nói chi tiết nghệ thuật chính là những yếu tố, thành tố
góp phần xây dựng nên các hình tượng nghệ thuật. Trong triết học chi tiết
được gọi là: “Bộ phận để làm nên cái toàn thể”. Trong tác phẩm văn học
cái toàn thể chính là hình tượng nghệ thuật được thống nhất trọn vẹn về nội
dung và hình thức. Hình tượng nghệ thuật được tạo nên bởi các chi tiết
nghệ thuật. Cụ thể đó chính là những hình ảnh, câu, những nhãn tự, thần
cú ,chúng nằm trong mối quan hệ đan xen tạo nên sự phong phú, sinh
động cho nội dung tác phẩm.

phần thể hiện rõ tư tưởng cơ bản của tác phẩm hay không. Bất luận một chi
tiết đặc sắc nào dầu cho có khúc triết và ưu mĩ tới đâu, nhưng nếu như nó
không phục vụ cho sự phản ánh một cách hoàn toàn nhất tư tưởng cơ bản của
tác phẩm thì nó sẽ làm tổn hại đến nghệ thuật tính của tác phẩm”. Việc xây
dựng nhân vật, hoàn cảnh, môi trường, phong cảnh trong nghệ thuật đều tuân
theo nguyên tắc lựa chọn đó. Nhà văn sẽ miêu tả các đối tượng ấy bằng
những đường nét, màu sắc, âm thanh, hình dáng, thuộc tính mà họ cho là quan
trọng nhất, ý nghĩa nhất và bỏ qua những gì họ cho là không quan trọng, nhằm
phục vụ cho ý tưởng nghệ thuật và góp phần xây dựng thành công hình tượng
nghệ thuật. Một tác phẩm hay thường đọng lại trong tâm trí người đọc là
những ấn tượng khó phai về hình tượng nghệ thuật mới lạ, về những hình ảnh
khó quên, những chi tiết nghệ thuật độc đáo Nhưng để cảm nhận hết được vẻ

8
đẹp phong phú của chi tiết nghệ thuật cần tìm hiểu chúng trong tính toàn vẹn
thống nhất của tác phẩm nghệ thuật.
Chi tiết nghệ thuật có thể là hình ảnh thơ, có khi là cách ngắt nhịp câu
thơ hoặc có khi chỉ là một từ. Có những chi tiết về màu sắc, âm thanh, đồ vật,
đường nét, Chi tiết có thể là những hình ảnh như: cỏ xanh, bến xuân, mưa
xuân, nước, trời, mưa bụi, con đò gối đầu ngủ trên bãi cát trong bài “Bến đò
xuân đầu trại” và “ Cuối xuân tức sự” của Nguyễn Trãi. Có những chi tiết tạo
hình chỉ ra sự việc, thể hiện tình cảnh, miêu tả rõ sự vật như: Một mẹ ba con,
đứa bé ôm trong lòng Hay chi tiết tâm lí “Mấy con vẫn cười đùa, biết đâu
lòng mẹ xót” trong “Những điều trông thấy” của Nguyễn Du. Chi tiết màu sắc
rất đáng chú ý trong số các chi tiết nghệ thuật trong Truyện Kiều. Tỷ lệ một số
màu trên tổng số màu được nhắc đến ước tính như sau: Vàng kim: 30,25;
Hồng(đào, thắm): 30.25:Xanh:10,8: vàng:6,60: Bạc:7,6 [41, tr 84-91].Thông
qua bảng màu ta thấy trong sáng tác nghệ thuật của mình nhà văn chủ yếu sử
dụng những sắc màu sang trọng, tươi sáng, yêu đời. Con số thống kê không
cho biết màu sắc cụ thể của cảnh vật, nhưng cho biết cách cảm thụ chung của

phận nhỏ, những thành tố, những yếu tố nghệ thuật góp phần xây dựng nên
hình tượng nghệ thuật. Chi tiết nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc thể
hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Vì thế sự hiện diện của chúng trong
phẩm văn học đều tuân theo quy tắc lựa chọn nhất định.
1.1.1. Chi tiết nghệ thuật đặc sắc một biểu hiện của sự sáng tạo trong hình
thức nghệ thuật riêng biệt của tác phẩm
Nếu coi chi tiết nghệ thuật là thành tố không thể thiếu để xây dựng hình
tượng nghệ thuật và sự lựa chọn chi tiết nghệ thuật cần tuân theo quy tắc nhất
định nhằm đảm bảo được tính nghệ thuật của tác phẩm thì chi tiết nghệ thuật
đặc sắc trong tác phẩm văn học phải là những chi tiết nghệ thuật độc đáo nhất,
mới lạ nhất có khả năng làm nên sự thành công và ấn tượng cho hình tượng
nghệ thuật. Chi tiết nghệ thuật đặc sắc là những chi tiết được nhà văn dụng
công nhiều nhất. Chúng là những chi tiết mà ở đó các ý nghĩa độc đáo, tài
năng nghệ thuật của tác giả được bộc lộ. Chúng là những chi tiết tập trung

10
cao nhất chất lượng thẩm mĩ hiện trên văn bản, mách bảo, mời gọi mọi người
thưởng thức tìm hiểu, khám phá.
Một tác phẩm văn học có thể có nhiều chi tiết nghệ thuật nhưng không
nhiều chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam
Cao có rất nhiều chi tiết nghệ thuật. Trong số những chi tiết nghệ thuật đồ sộ
ấy của tác phẩm những chi tiết được coi là đặc sắc chỉ có thể là: Cái lò gạch
cũ xuất hiện trong cuộc đời Chí Phèo và xuất hiện trong đầu của Thị Nở sau
khi Chí Phèo chết, chi tiết bát cháo hành, tiếng chửi của Chí Phèo, hình ảnh
ánh trăng trong tác phẩm, chi tiết Chí Phèo đòi lương thiện: “Tao muốn làm
người lương thiện!” … Những chi tiết nghệ thuật đặc sắc sẽ quy tụ quanh nó
những chi tiết nghệ thuật khác của tác phẩm. Chi tiết nghệ thuật đặc sắc là
những chi tiết chứa đựng nhiều ý nghĩa. Chúng làm nên sự độc đáo, mới lạ
cho tác phẩm. Chi tiết bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn
Nam Cao là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Bát cháo hành giản dị, quen

với một tác phẩm và cần thiết được chú ý, tìm hiểu trong một giờ dạy học tác
phẩm văn chương.
1.1.2. Sự khác nhau giữa chi tiết nghệ thuật đặc sắc và điểm sáng thẩm mĩ
Chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm văn học tồn tại dưới nhiều
hình thức có thể là hình ảnh, âm thanh, sắc màu, câu văn, câu thơ. Chúng
được dụng công, được trau chuốt, vì thế chúng tạo nên những vẻ đẹp của tác
phẩm góp phần xây dựng vẻ đẹp cho hình tượng nghệ thuật. Chúng là biểu
hiện của sự sáng tạo trong hình thức nghệ thuật riêng biệt của tác phẩm.
Chúng hội tụ nhiều ý nghĩa của tác phẩm. Chúng là đầu mối của những mạch
thẩm mĩ trong tác phẩm. Sẽ có nhiều người nghĩ rằng chi tiết nghệ thuật đặc
sắc chính là điểm sáng thẩm mĩ, nhưng có người lại nghĩ hai khái niệm này
hoàn toàn khác nhau.Thực chất chúng có những nét tương đồng và khác biệt.
Chúng ta có thể nói điểm sáng thẩm mĩ trong tác phẩm văn học chính là chi
tiết nghệ thuật đặc sắc nhưng không thể nói Chi tiết nghệ thuật đặc sắc là
Điểm sáng thẩm mĩ. Điểm sáng thẩm mĩ chính là chi tiết nghệ thuật nhưng là
chi tiết nghệ thuật đặc sắc nhất, độc đáo nhất, ấn tượng nhất trong số những

12
chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Điểm sáng thẩm mĩ là những chi tiết hội tụ cái
hay, cái đẹp ở cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Trong khi đó
chi tiết nghệ thuật đặc sắc có thể chỉ đặc sắc ở phương diện nội dung hoặc đặc
sắc ở phương diện hình thức nghệ thuật. Điểm sáng thẩm mĩ còn có khả năng
tập trung biểu hiện nội dung tư tưởng của toàn tác phẩm. Điểm sáng thẩm mĩ
là một vẻ đẹp, một ánh sáng rực rỡ, nổi bật nhất trong tác phẩm. Nếu trong tác
phẩm chi tiết nghệ thuật được dụng công, được trau chuốt thì điểm sáng thẩm
mĩ là những yếu tố nghệ thuật được trau chuốt nhiều nhất, được dụng công
nhiều nhất. Chúng trở thành biểu tượng của tinh hoa ngôn ngữ. Và chúng
được gọi bằng những cái tên như thần tự, nhãn tự, nhãn cú. Chúng chính là
linh hồn, thần thái của tác phẩm. Điểm sáng thẩm mĩ làm nên cái thần của tác
phẩm. Nó thường hội tụ những yếu tố: sự súc tích, cô đọng, sự nổi bật, ấn

thường là những yếu tố nghệ thuật được cấu tạo ngắn gọn, súc tích. Ví như
chữ “độc” trong bài thơ Nguyệt Dạ của Đỗ Phủ. “Khuê trung chỉ độc
khan”(Trong phòng khuê chỉ có một người đứng nhìn). Thơ Đường vẫn hay
dùng chữ “độc”, một chữ có khả năng làm nổi bật mối quan hệ khác biệt hoặc
đối lập giữa các sự vật. Song dùng thành công nhất phải nói là Đỗ Phủ. Chữ
“độc” trong bài vừa có tác dụng làm nổi bật hình ảnh cô độc của vợ Đỗ Phủ,
vừa làm nổi bật lòng nhớ thương, sự ái ngại của nhà thơ [28, tr 216]. Điểm
sáng thẩm mĩ thường chỉ xuất hiện trong sáng tác thơ. Có điểm sáng thẩm mĩ
trong câu thơ, trong bài thơ. Điểm sáng thẩm mĩ thường là chìa khoá của bài
thơ, nó mang âm hưởng riêng, sắc thái riêng. Ví như câu thơ sau trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du: “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Điểm sáng thẩm
mỹ trong câu nằm ở chữ “ngây”. Trong trường ca Việt Bắc của Tố Hữu chữ
“mình, ta” xuyên suốt tác phẩm và trở thành điểm sáng thẩm mỹ. Chúng giàu
giá trị biểu tượng, chúng chất chứa những ân tình của người ra đi- Cán bộ
cách mạng và người ở lại-Đồng bào Việt Bắc. Chữ “Từ ấy” có sức nặng trong
bài thơ “Từ ấy”, chỉ sự phân chia hai thời kì trong cuộc đời tác giả, cách cảm
nghĩ của Tố Hữu từ ấy trở đi là một quãng đời khác. “Từ ấy” hân hoan niềm
vui sướng, “Từ ấy”có một con đường thênh thang rộng mở, đầy ý nghĩa. Chi

14
tiết nghệ thuật đặc sắc có ở các thể loại tự sự, trữ tình và kịch nhưng điểm
sáng thẩm mỹ thường chỉ có trong thơ. Trong thơ trữ tình sự vận động của
cảm xúc và suy nghĩ bao giờ cũng được triển khai xoay quanh một điểm sáng
thẩm mĩ từ đấy soi rọi cho toàn bài, và cũng từ đấy tiếp nhận và quy tụ mọi
cảm xúc và suy tưởng. Phát hiện và phân tích điểm sáng trong bài thơ là thích
hợp với đặc điểm của chủng loại trữ tình vì thực chất trong mỗi sáng tác trữ
tình đều có một trọng điểm về tư tưởng và cảm xúc từ đấy quy định mọi sự
vận động của thơ. Nắm được tâm điểm của bài thơ, người đọc có thể hiểu rõ
cấu tạo của bài thơ có vững chắc, cân đối và phát triển hợp lí không. Điểm
sáng thẩm mĩ có thể là chi tiết nghệ thuật đặc sắc nhưng chi tiết nghệ thuật

xuất hiện đơn giản trước tác động của thế giới tự nhiên và cuộc sống con
người. Nó được hình thành ngay cả khi con người không phải hiểu rõ, không
phải đánh giá, suy xét các phản ứng và thuộc tính của đối tượng tác động.
Cảm xúc thường là những phản ứng tâm lí mang tính thuần tuý bản năng ví
dụ: Đứa trẻ sợ hãi khi có tiếng động mạnh, hay sợ hãi khi có ai đó dọa nạt,
hay vui mừng khi ai đó âu yếm, nâng niu… Cảm xúc của con người với tư
cách là một hiện tương tâm lí đã tham gia rất nhiều vào qua hệ sinh học, quan
hệ vật lí, quan hệ thực dụng. Khi ta ăn ngon ta tắm mát ta xúc cảm. Trong
quan hệ đạo đức người ta cũng xúc động trước một tấm gương tốt và căm ghét
kẻ xấu xa. Trong quan hệ thực dụng cũng vậy nếu người ta thỏa mãn nhu cầu
ăn, mặc, ở thì niềm sung sướng sẽ dâng tràn…
Cảm xúc có vai trò rất quan trọng. Theo thuyết “Ba não” thì cảm xúc
của con người có vai trò tác động tới ý thức sáng suốt của con người hoặc
kích thích phản ứng tiêu cực, bản năng của con người. Cảm xúc là cơ sở của
tình cảm. Tình cảm được hình thành do quá trình tổng hợp hóa, động hình
hóa, khái quát hóa những cảm xúc cùng loại. Ví như khi ta gặp một người lạ
ta thấy cảm giác thân quen dường như đã gặp ở đâu đó, lời nói của họ khiến ta
ấm lòng, cách cư xử của học trước tình huống của cuộc sống khiến ta thấy
cảm phục…những cảm xúc đó trong ta hội tụ lại đem đến tình cảm yêu mến

16
người ta mới gặp. Tình cảm được xây dựng từ những cảm xúc nhưng khi đã
được hình thành thì tình cảm lại được thể hiện qua các cảm xúc đa dạng và chi
phối các cảm xúc. C.Mác nói : “ Con người khẳng định mình không chỉ trong
tư duy, mà còn trong thế giới vật chất bằng tất cả các xúc cảm”. Cảm xúc chi
phối những phản ứng của con người, chi phối cách tư duy của con người với
khách thể tác động. Cảm xúc có vai trò quan trọng.
Cảm xúc làm cho sự biểu hiện của chủ thể trước khách thể trở nên sinh
động hơn, ý nghĩa hơn. Cảm xúc là chất keo gắn kết giữa chủ thể cảm xúc với
mọi sự vật hiện tượng trong thế giới. Có thể nói không có sự tham gia của

cũng chẳng thể có cảm xúc thẩm mĩ.
Cảm xúc thẩm mĩ khác cảm xúc thông thường bởi nó là cảm xúc tinh
thần, là nỗi xúc động, là niềm vui tinh thần, nó luôn gắn bó với tình cảm đạo
đức và nhận thức của con người. Sự hiện diện của nó là kết quả của một hoạt
động có mục đích hết sức vô tư-hoạt động thẩm mĩ, là hoạt động không nhằm
theo đuổi một mục đích thực dụng vật chất trực tiếp nào, nó không bị bản
năng nào đè nén, dẫn dắt. Nó là kết quả của một quá trình hoạt động tích cực
và thống nhất của tất cả các yếu tố thuộc ý thức thẩm mĩ, của cả con tim lẫn
khối óc, cả cảm xúc, tình cảm lẫn trí tuệ. Trong mỗi cảm xúc thẩm mĩ đều có
sự chi phối trực tiếp của các bộ phận hợp thành khác của ý thức thẩm mĩ như
thị hiểu thẩm mĩ, quan điểm thẩm mĩ, lí tưởng thẩm mĩ. Chính vì thế cảm xúc
thẩm mỹ dễ đem đến sự đồng cảm, sự cảm hoá trong mối quan hệ giữa con
người với con người.
Cảm xúc thì có thể có ở nhiều thực thể sống mà hệ thần kinh phát triển
nhưng cảm xúc thẩm mĩ chỉ có ở con người. Chỉ có con người mới có khả
năng cảm nhận hết xao động tinh tế của cái đẹp trong tự nhiên và trong xã hội
loài người: Một bông hoa đẹp, một buổi sáng trong trẻo tinh khôi Cảm xúc
thẩm mĩ chính là cảm xúc nhân văn mà nền tảng là sự rung động về cái đẹp.
Cảm giác sinh học của con người đã tồn tại hơn 3 triệu năm nhưng cảm xúc
thẩm mĩ chỉ mới hình thanh khoảng 30 ngàn năm. Như vậy có nghĩa cảm xúc
thẩm mĩ là loại cảm xúc quý phái của con người. Nó đòi hỏi một quá trình rèn

18
luyện lâu dài mới có được. Tương tác giữa con người với nhau làm nảy sinh
các cảm xúc thẩm mỹ mang tính xã hội, tức là đạo đức. Việc hoàn thiện
những mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên làm nảy sinh các cảm xúc
thẩm mỹ nghệ thuật. Như thế, cảm xúc thẩm mỹ thực ra bao trùm cả đạo đức
lẫn nghệ thuật.
Biểu hiện của cảm xúc thẩm mĩ rất phong phú bởi khách thể thẩm mĩ
vô cùng đa dạng. Có thể là sự thích thú hân hoan trước cái đẹp; là nỗi xót

dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ cho hình tượng nghệ thuật. Cảm xúc thẩm mĩ được coi
là “Đặc điểm quan trọng nhất của của tài năng nghệ thuật”. Bởi bên cạnh một
lí trí phát triển, người nghệ sĩ cũng cần hơn ai hết một tâm hồn giàu cảm xúc.
Trong cảm thụ và thưởng thức nghệ thuật, cảm xúc thẩm mĩ là điều
kiện không thể thiếu, bởi nó giúp cho chủ thể có được niềm thích thú, say sưa
khám phá những cái hay, cái đẹp của tác phẩm, nhưng giá trị thẩm mĩ đích
thực của tác phẩm.
Cảm xúc thẩm mĩ có ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ đến quá trình
hình thành và phát triển con người hoàn thiện, hài hoà cả thể chất lẫn nhân
cách. Một mặt những khoái cảm, cảm xúc thẩm mĩ mà con người thu nhận
được trong các hoạt động thẩm mĩ có tác dụng điều hoà, làm cân bằng các
trạng thái tâm sinh lí của con người. Mặt khác các rung động cảm xúc thẩm
mĩ luôn là cơ sở, làm nền tảng cho các hành vi đạo đức, bởi “Suy cho tới cùng
chúng cũng gắn bó với khát vọng đem lại lợi ích cho nhân loại , với đấu tranh
cho sự tiến bộ của cuộc sống”(Nguyên lí mĩ học Mac-Lênin). Sự tác động của
cảm xúc thẩm mĩ đến quá trình hoàn thiện nhân cách con người được thể hiện
chủ yếu thông qua chức năng thanh lọc về mặt tình cảm của nó. Bielinxki đã
diễn đạt rất hay về chức năng nói trên của cảm xúc thẩm mĩ. Ông viết: “Cảm
xúc về cái kiều diễm là điều kiện làm nên phẩm giá con người, phải có nó mới
có được trí tuệ, phải có nó nhà bác học mới cất mình lên tới những tư tưởng
tầm cỡ thế giới, mới hiểu được bản chất và các hiên tượng trong tính thống
nhất của chúng; phải có nó người cộng sản mới có thể hiến dâng cho tổ quốc
cả những hoài vọng cá nhân lẫn những lợi ích riêng tư của mình; phải có nó

Trích đoạn Biện phỏp phõn tớch, bỡnh giỏ những chi tiết nghệ thuật đặc sắc của Giải thớch thiết kế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status