MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ trang 2
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ trang 4
1. Cơ sở lý luận trang 4
2. Thực trạng của vấn đề trang 4
3. Các biện pháp để tiến hành giải quyết trang 6
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm trang 11
PHẦN III. KẾT LUẬN. trang 12
1
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bậc tiểu học có một vị trí và nhiệm vụ hết sức quan trọng và đã chỉ ra định
hướng chiến lược phát triển giáo dục là: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, giáo dục
đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, giáo dục là sự nghiệp của toàn
Đảng toàn dân. Giáo dục trong giai đoạn mới là một nền giáo dục đa dạng, lành
mạnh và phát triển bền vững. Đây là bậc học đặt nền móng cho việc hình thành nhân
cách ở học sinh, cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên - xã hội, trang
bị các phương pháp, kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Bồi dưỡng tình cảm vµ phát huy tình cảm thói quen và đức tính tốt của con người
Việt Nam. Các môn học ở tiÓu học đều có mối quan hệ với nhau, hỗ trợ cho nhau.
Trong 9 môn học cùng với Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng. Môn Toán
giúp học sinh tiểu học phát triển tư duy lôgíc bồi dưỡng và phát triển những thao tác
trí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực như trìu tượng hoá khái quát hoá, so
sánh Nó rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải
quyết vấn đề Giúp học sính phát triển trí thông minh, tư duy học tập linh hoạt, sáng
tạo đặc biệt giải toán có lời văn có một vị trí rất quan trọng trong trương trình toán ở
phổ thông. Vì vậy cần rèn cho các em phương pháp học tập đúng đắn phù hợp và
nhất là kĩ năng, phương pháp giải các bài toán có lời văn.
Trước tình hình đổi mới của đất nước, thực tế ở các trường tiểu học việc bồi
dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề còn hạn chế. Nhất là việc nắm bắt những
phương pháp giảng dạy từng bộ môn. Một số giáo viên thật sự chưa thiện tâm với
nghề nghiệp, kinh nghiệm giảng dạy còn ít, tiếp thu cái mới trong việc cải tiến
a. Đặc điểm tình hình:
Trường tiểu học Gia Cẩm là một trường nằm ở trung tâm thành phố Việt Trì. Phía
trước cổng trường nhìn ra con đường quốc lộ số 2, thuận tiện cho việc qua lại.
Tổng số cán bộ công nhân viên: 52 đồng chí là giáo viên, trong đó có 46 đồng
chí là giáo viên nữ, 3 đồng chí làm công tác quản lý, 37 Đảng viên và
10 đoàn viên.
Tổng số học sinh : 1390 em chia thành 32 lớp.
Riêng khối 3: 263 em chia thành 6 lớp.
b. Thuận lợi:
- Địa bàn của trường gần trung tâm thành phố, vì vậy việc tiếp cận thông tin nhanh,
kịp thời.
- Trường có đội ngũ quản lý nhiệt tình năng động, sáng tạo.
- Đội ngũ giáo viên dày dặn kinh nghiệm, luôn đoàn kết yêu nghề, mến trẻ.
- Hội cha mẹ học sinh luôn chăm lo, ủng hộ đến sự nghiệp giáo dục của nhà trường.
- Các em học sinh chăm ngoan, say mê học tập.
c. Khó khăn:
- Phụ huynh đa dạng, nhiều thành phần nên nhận thức còn hạn chế.
- Học sinh đa phần là thích học toán, không thích học văn, vì vậy, hiểu câu văn
trong toán còn nhiều hạn chế.
4
- Môn toán là môn học xưa nay vẫn được coi trọng, xong chất lượng môn toán vẫn
đang phải quan tâm. Qua khảo sát của nhà trường nhiều lần cho thấy khi các em
gặp phải bài toán có lời văn thường lúng túng, các em vẫn giải được xong câu trả
lời đặt ra còn rườm rà, hoặc bài giải chưa chính xác.
- Đầu năm häc 2013 - 2014 tôi được giao chủ nhiệm và giảng dạy môn toán, tổng
số là 40 em. Sau khi tìm hiểu tình hình lớp và tôi khảo sát cho thấy kết quả:
Tổng số
Số bài
Kết quả Ghi
chú
- Trước hết ta phải hiểu lớp 3 là lớp kết thúc giai đoạn đầu của bậc tiểu học phải
chuẩn bị cơ sở để học sinh có thể học tốt giai đoạn học giải các bài toán đơn, kể cả
nhân, chia và chuyển sang giai đoạn giải các bài toán hợp thường xuyên hơn tuy
chủ yếu là các bài toán hợp có 2 phép tính cộng, trừ, nhân, chia nhưng cũng có một
số bài toán hợp có 3 phép tính.
- Từ nhận thức trên, nên ngay từ đầu năm nhà trường đã lập kế hoạch đưa nội dung
này thành chuyên đề sinh hoạt chuyên môn vào thứ 6 trong tuần để bồi
dìng năng lực cho đội ngũ giáo viên:
a. Trước hết cho anh em giáo viên nâng cao nhận thức về bộ môn toán trường
tiểu học - trong đó có bộ môn toán lớp 3. Một bộ môn góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học.
b. Lập kế hoạch cho anh em giáo viên nắm chắc tài liệu “Những yêu cầu cơ bản
về kiến thức kỹ năng môn toán lớp 3 " .
c. Tổ chức chuyên đề "Soạn giáo án" dạy giải toán có lời văn của học sinh lớp.
Sau đó tổ chức hội thảo từng giáo viên trình bày tiến trình dạy học sinh giải toán có
lời văn. Từ đó tổ đóng góp ý kiến, rút kinh nghiệm giờ dạy.
d. Tổ chức thao giảng "Trước hết chọn giáo viên có năng lực dạy thực tập, toàn thể
hội đồng dự giờ, rút kinh nghiệm giờ dạy phân tích điểm mạnh điểm yếu.
Với những biện pháp trên đi đến một thống nhất thì dạy toán có lời văn lớp 3
như sau: Đến lớp 3 học sinh tiếp tục được rèn luyện và củng cố các bài toán đơn có
phép tính cộng, trừ, nhân chia sau đó được học các bài toán hợp.
Bài toán đơn:
Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần phân tích khái quát và hệ thống hóa các
bài toán đơn có phép tính cộng, trừ và các bài toán có nhân, chia.
Giáo viên cần phân tích kỹ đề toán để học sinh so sánh, phân biệt được các
bài toán đơn thuộc các dạng nào như:
6
Gấp nhiều lần "(dùng phép nhân) với nhiều hơn số đơn vị" hoặc tăng thêm
một số đơn vị (dùng phép cộng).
"Giảm một số lần" (dùng phép chia) với ít hơn một số đơn vị" hoặc bớt đi một
Số kilôgam gạo của bao thứ 2 là:
8 x 2 = 16 (kg)
Đáp số : 16 kg
Bài toán hợp:
Học sinh lớp 3 được học đầy đủ bốn phép tính cộng, trừ, nhân chia. Do đó có
thể phân các bài toán hợp giải bằng 2 phép tính thành 4 dạng cơ bản, ở mỗi một
dạng đều có đặc thù riêng, nhưng đều đi đến học sinh phải giải bằng 2 phép tính cụ
thể như sau:
a, Toán hợp giải bằng 2 phép tính nhân và cộng.
Ví dụ: Thùng nhỏ đựng được 6 lít dầu thùng to đựng được gấp 3 lần thùng nhỏ. Hỏi
cả 2 thùng đựng được bao nhiêu lít dầu.
“Bài 6 trang 54 - Toán 3”
b, Toán hợp giải bằng 2 phép tính chia và cộng.
Ví dụ: Trên sân bay có 18 máy bay phản lực, số máy bay lên thẳng kém số máy bay
phản lực 6 lần. Hỏi trên sân có tất cả bao nhiêu máy bay phản lực và lên thẳng.
c, Toán hợp giải bằng 2 phép tính chia và nhân có liên quan đến rút về đơn vị:
Ví dụ: Có 64 cái bát xếp đều thành 8 chồng. Hỏi 5 chồng có bao nhiêu cái bát?
"Bài 2 trang 73 - Toán 3”
Cho học sinh đọc đề:
- Tự tóm tắt bài toán “giáo viên có hướng dẫn"
8 chồng bát: 64 cái
5 chồng bát: cái?
Phân tích Học sinh trả lời
? Bài toán cho biết gì?
? Bài toán hỏi gì?
64 cái bát xếp đều thành 8 chồng
5 chồng bát có bao nhiêu cái bát
8
? Muốn biết 5 chồng bát có bao nhiêu
cái bát? Cần phải biết gì?
? Bài toán cho biết gì ?
? Bài toán hỏi gì ?
? Muốn biết 40m vải cắt được mấy
mảnh ta cần phải biết gì?
60 mét vải cát thành 6 mảnh đều nhau.
40 mét vải như thế cắt thành mấy
mảnh ?
1 mảnh dài bao nhiêu mét vải?
9
? Căn cứ vào điều đã biết 60m vải cắt
thành 6 mảnh dài bằng nhau, làm thế
nào tính xem 1 mảnh dài bao nhiêu
mét vải ?
? Bây giờ làm thế nào để tính xem 40
mét cắt thành mấy mảnh ?
+ Như vậy bài toán có 1 bước gi¶i phụ:
10m : 1 mảnh
40m : ? mảnh
Lấy 60 chia cho 6 được 10 mét
Lấy 60 chia cho 6 được 10 mét
Hiểu qua bước giải phụ dẫn đến bài toán giải gồm 2 bước :
+ Trước hết tính xem 1 mảnh dài mấy mét (tính chia)
+ Sau đó tính xem 40m cắt được mấy mảnh (tính chia)
Cuối cùng học sinh trình bày bài giải:
Số mét một mảnh vải có:
60 : 6 = 10 (m)
Số mảnh vải khi cắt 40 mét có:
40 : 10 = 4 (mảnh)
Đáp số : 4 mảnh vải
Để học sinh dễ dàng giải được các dạng toán hợp có liên quan đến việc rút về
TS % TS % TS % TS %
37 92 2 5 1 3 0 0
11
PHẦN III: KẾT LUẬN
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học là một
vấn đề cần thiết nhằm đáp ứng đổi mới giáo dục tiểu học. Đổi mới phương pháp dạy
học nhằm thực hiện tốt mục tiêu phương pháp dạy học đó là: hình thành, phát triển,
phẩm chất và năng lực của công dân Việt Nam, tự chủ, năng động, sáng tạo, có kiến
thức văn hóa, khoa học, công nghệ, có kỹ năng và thói quen tự học suốt đời."
Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần phải đổi mới phương pháp dạy học
trong đó việc tổ chức các hoạt động của học sinh giữ vai trò quan trọng. Một trong
những hoạt động có hiệu quả đó là: "Học sinh làm tốt các bài toán có lời văn”. Với
hoạt động này, học sinh làm tốt được thì chất lượng môn toán sẽ tăng lên rõ rệt.
Vậy việc đôi mới phương pháp dạy học là công việc thường xuyên, công việc đặc
trưng của mỗi giáo viên. Phương pháp là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả
dạy học ở tiểu học. Vì vậy, mỗi giáo viên cần phải lựa chọn, sử dụng phương pháp
thích hợp, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và
điều kiện của học sinh lớp mình dạy.
Bài học rút ra:
Qua nội dung thực nghiệm trên tôi rút ra một số bài học sau:
1. Người giáo viên phải nhận thức được rằng phải đổi mới phương pháp dạy học
là nhiệm vụ hàng đầu cửa mỗi giáo viên hay như nhiều người đã nói đổi mới
phương pháp dạy học ở tiểu học là công việc thường xuyên, công việc đặc trưng
của mỗi giáo viên". Có đổi mới phương pháp dạy học thì sẽ đạt được chất lượng và
hiệu quả của mỗi bài học, mỗi tiết học. Đặc biệt là môn toán có lời văn ở lớp 3, mỗi
giáo viên khi giảng dạy phải nhìn nhận và đánh giá đúng vấn đề mà học sinh hay
mắc phải từ đó có những biện pháp thích hơn sẽ dần từng bước nâng cao được chất
lượng hiệu quả của phần toán nói chung và bài toán có lời văn nói riêng.
2. Phải xây dựng được các bước tiến hành khi dạy học sinh giải bài toán có lời
văn. Đây là bước vô cùng quan trọng vì giúp học sinh nắm chắc được giữ kiện bài
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG
CHẤM SÁNG KIẾN – KINH NGHIỆM CẤP THÀNH PHỐ
MỤC LỤC
14
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
PHẦN II: NỘI DUNG