TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Xây dựng bộ công cụ theo dõi và đánh giá thực hiện
Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn
2011-2010 và tầm nhìn đến năm 2030 Đề tài: Biên soạn bộ tài liệu hướng dẫn thực hiện Khung
theo dõi và đánh giá thực hiện Chiến lược phát triển
Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn
đến năm 2030. Nhóm nghiên cứu: TS. Phạm Đăng Quyết
CN. Đinh Bá Hiến
CN. Vũ Lan Phương
những gì chúng ta đo lƣờng và /hoặc theo dõi.
Xác định chỉ tiêu đi liền với số liệu thống kê. Để thiết kế một đơn vị đo
lƣờng nói về sự thay đổi theo thời gian, giúp đơn giản hóa các hiện tƣợng và
hiểu thực tế phức tạp, và cung cấp một hình ảnh đại diện về một tình huống
cần có sự hiểu biết và áp dụng các phƣơng pháp thống kê. Các chỉ tiêu, dựa
trên sự hiểu biết về các nguyên tắc cơ bản của thống kê cho phép:
• So sánh theo thời gian,
• So sánh giữa các cách tiếp cận khác nhau để giải quyết một vấn đề,
• So sánh về mặt địa lý, giữa các tỉnh, thành phố,
• So sánh quốc tế với các nƣớc khác.
Các chỉ tiêu có thể đƣợc kết hợp trong nhiều cách khác nhau để tạo
thành bộ chỉ tiêu mô tả tóm tắt các hoạt động của CLTK11-20 đang đƣợc
thực hiện nhƣ thế nào. Các chỉ tiêu TD&ĐG là những đo lƣờng định tính
và/hoặc định lƣợng việc thực hiện chƣơng trình hành động, dùng để biểu đạt
sự thay đổi và nêu rõ mức độ các kết quả của chƣơng trình đã và đang đạt
đƣợc. Để các chỉ tiêu này thật sự hữu ích trong công tác theo dõi và đánh giá
kết quả chƣơng trình, việc xác định các chỉ tiêu trực tiếp, khách quan, thực
tiễn, đầy đủ và cập nhật đều đặn là điều rất quan trọng. Quá trình theo
dõi và đánh giá đòi hỏi một sự kết hợp thông tin định tính và định lƣợng để
có thể nhìn nhận một cách toàn diện.
Chúng ta sử dụng công cụ Khung logic, đƣa ra một số hƣớng dẫn chi
tiết về thông tin gì là cần thiết cho hoạt động TD&ĐG, để xác định một cách
chính xác tất cả các câu hỏi thực hiện, các chỉ tiêu và nhu cầu thông tin ở tất
cả các cấp độ của khung logic.
Bảng 2: Khung logic theo dõi và đánh giá Cái đƣợc theo dõi và đánh giá phải là những dấu hiệu thay đổi chỉ ra
quá trình và thay đổi trong khi thực hiện một chƣơng trình, dự án. Để làm
đƣợc điều này, phải xác định đƣợc nhu cầu thông tin cho từng cấp độ của
chức, cá nhân khác trong nƣớc và quốc tế; phấn đấu đến năm 2020 Thống kê
Việt Nam đạt trình độ khá và năm 2030 đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.
Mục tiêu cụ thể là:
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ, ngành
đồng bộ với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (ban hành theo Quyết định
số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02 tháng 6 năm 2010 của Thủ tƣớng Chính phủ) và
Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã (ban hành theo Thông tƣ số
02/2011/TT-BKHĐT ngày 10 tháng 01 năm 2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tƣ); bảo đảm từ năm 2015 tất cả các chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê
quốc gia, Hệ thống chỉ tiêu thống kê các Bộ, ngành và Hệ thống chỉ tiêu
thống kê cấp tỉnh, huyện, xã đều đƣợc thu thập, tổng hợp và phổ biến theo
nội dung và kỳ công bố quy định; các thông tin thống kê đƣợc sản xuất và phổ
biến đáp ứng các tiêu thức chất lƣợng đang đƣợc hầu hết các cơ quan thống kê
quốc gia và các tổ chức quốc tế áp dụng, bao gồm: tính phù hợp, tính chính
xác, tính kịp thời, khả năng tiếp cận, khả năng giải thích và tính chặt chẽ; đồng
thời bảo đảm tính so sánh quốc tế.
- Hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia tập trung, đồng bộ và
thống nhất có sự phối hợp, trao đổi, chia sẻ và kết nối thông tin thƣờng
xuyên, chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức thống kê trong nƣớc, thực hiện đầy
đủ các cam kết về cung cấp và chia sẻ thông tin với các tổ chức quốc tế, cơ
quan thống kê các quốc gia theo quy định của pháp luật. Hoàn thành việc xây
dựng các cơ sở dữ liệu thống kê vi mô; cơ sở dữ liệu thống kê vĩ mô; cơ sở
dữ liệu thống kê về hệ thống các bảng phân loại, danh mục và hệ thống khái
niệm, nguồn thông tin, phƣơng pháp tính các chỉ tiêu thống kê; tiến tới hoàn
thành việc xây dựng kho dữ liệu thống kê kinh tế -xã hội vào năm 2020 để
các đối tƣợng dùng tin đều có thể khai thác, sử dụng.
- Nâng Chỉ số chung về năng lực thống kê theo các tiêu chí đánh giá của
Ngân hàng Thế giới đối với thống kê nƣớc ta từ 61 điểm (thang điểm 100) năm
2010 lên 70 điểm vào năm 2015; 80 điểm vào năm 2020 và 95 điểm vào năm
2030, trong đó Chỉ số phƣơng pháp luận thống kê từ 30 điểm lên 55 điểm; 75
chịu trách nhiệm thực hiện và theo dõi các hoạt động này.
Sau đây là mẫu Khung TD&ĐG CLTK11-20 đƣợc xây dựng:
STT
Hoạt động
Mục tiêu
Thông
tin ban
đầu
Chỉ tiêu
Tổ
chức
chịu
trách
nhiệm
Dự kiến
vào năm
2015
Dự kiến
vào năm
2020
1
2
3
4
5
6
7
chƣơng trình hành động cụ thể.
“Chỉ tiêu” là những đo lƣờng định tính và định lƣợng việc thực hiện
chƣơng trình hành động, dùng để biểu đạt sự thay đổi và nêu rõ mức độ các
kết quả của chƣơng trình đã và đang đạt đƣợc. Để các chỉ số này thật sự hữu
ích trong công tác theo dõi và đánh giá kết quả chƣơng trình, việc xác định
các chỉ tiêu cụ thể cho mỗi giai đoạn vào năm 2015 và 2020, trong đó chỉ rõ
số lƣợng và thời gian để mục tiêu đƣợc hiện thực hóa là điều rất quan trọng.
“Tổ chức chịu trách nhiệm” là đơn vị đầu mối chính trực thuộc những
cơ quan chủ trì các hoạt động của mỗi chƣơng trình hành động có trong Kế
hoạch thực hiện CLTK11-20 thực hiện việc báo cáo theo dõi và đánh giá.
Khung TD&ĐG thực hiện CLTK11-20 đƣợc trình bày chi tiết ở phần
Phụ lục.
II. Bộ công cụ theo dõi và đánh giá thực hiện Chiến lược phát triển
Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030
2.1 Quá trình theo dõi và đánh giá
Theo dõi là một quá trình đƣợc thực hiện một cách liên tục và có thể
tiến hành theo từng khoảng thời gian nhất định tùy vào từng mục đích theo
dõi mà có kế hoạch tiến hành theo dõi phù hợp.
- Theo dõi theo tháng và thực hiện theo dõi thông qua tổng kết thông
tin từ các cuộc họp hàng tháng: Trƣớc khi tổ chức cuộc họp, cơ quan thực
hiện theo dõi thống kê cần khảo sát tại cơ quan thực hiện thống kê để đánh
giá quá trình tiến triển công việc (phải xác định trƣớc các mục tiêu và những
yếu tố cơ bản để theo dõi).
- Theo dõi hàng quý.
- Trực tiếp khảo sát, thăm quan và kiểm tra tại cơ sở.
- Họp tổng kết theo quý.
- Lập báo cáo tổng kết theo hàng quý.
Quá trình đánh giá có 4 giai đoạn cơ bản là a) Khảo sát những thông
tin cơ sở; b) Tổ chức các hội thảo đánh giá hàng năm; c) Tổ chức đánh giá
giữa kỳ; d) Đánh giá cuối kỳ.
quả những cuộc họp của các nhóm thực hiện công tác theo dõi, đánh giá.
Việc đánh giá hàng năm sẽ chỉ ra những điểm còn hạn chế, những thách thức
và những thành công trong quá trình thực hiện và vạch ra những phƣơng
hƣớng cần thiết để đạt đƣợc các mục tiêu chiến lƣợc.
Đánh giá hàng năm cũng tập trung vào những mức độ đạt đƣợc so với
mục tiêu cuối cùng để có những điều chỉnh và định hƣớng phù hợp
c) Tổ chức đánh giá giữa kỳ. Đánh giá giữa kỳ để cung cấp thông tin
giúp cho quá trình thực hiện chiến lƣợc thống kê, nâng cao hiệu quả và
phƣơng pháp thực hiện chiến lƣợc thống kê. Quá trình đánh giá này là những
khảo sát và phân tích toàn diện về những thông tin định tính và định lƣợng.
Trong quá trình đánh giá giữa kỳ Uganda đã tập trung vào những thành
quả đạt đƣợc và những đóng góp so với kết quả và mục đích đầu ra cuối
cùng. Bên cạnh đó, đánh giá sự phối hợp, liên kết giữa các kết quả đầu ra và
những định hƣớng chiến lƣợc đƣợc sử dụng để tiến đến mục đích cuối cùng.
Đánh giá giữa kỳ là giai đoạn đánh giá có vai trò quan trọng nhất và nó
đƣợc thực hiện trong quá trình thực hiện chiến lƣợc thống kê. Những vấn đề
sẽ đƣợc đƣa ra để đánh giá tính chính xác, đúng đắn của các hoạt động
d) Đánh giá cuối kỳ đƣợc thực hiện tại thời điểm cuối của mỗi kế
hoạch trong quá trình thực hiện chiến lƣợc thống kê. Mục đích của đánh giá
cuối kỳ để đánh giá toàn bộ những thành quả đạt đƣợc so với mục đích và
đóng góp của cả quá trình đối với mục tiêu phát triển của chiến lƣợc thống
kê, việc đánh giá cuối kỳ để giúp cho quá trình xây dựng kế hoạch hành động
cho giai đoạn tiếp theo. Đánh giá cuối kỳ bao gồm đánh giá định tính và định
lƣợng với việc sử dụng khung đánh giá và những câu hỏi đánh giá cùng các
định mức tham chiếu để đánh giá thành quả đạt đƣợc. Đánh giá cuối kỳ tập
trung vào:
- Hƣớng dẫn đánh giá và theo dõi (đào tạo nhân lực), trong đó đánh giá
những thành công và thách thức; Đánh giá tổng quan các chiến lƣợc thực
hiện; Quá trình kế hoạch hóa và ra quyết định
- Xây dựng dự toán kinh phí cho quá trình theo dõi, đánh giá. Việc xây
KHẢO SÁT
TRƢỚC KHI
THỰC HIỆN
CHIẾN LƢỢC
HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN
CHIẾN LƢỢC ĐÁNH GIÁ
Khảo sát hiện
trạng
Theo dõi kết quả
đạt đƣợc khi thực
hiện chiến lƣợc
THEO DÕI
dụng nhƣ thảo luận và quan sát.
Đối với theo dõi kết quả từng hoạt động thì thƣờng áp dụng cách tiếp
cận định tính, những phƣơng pháp cơ bản sử dụng nhƣ: quan sát, thảo luận
nhóm, họp và báo cáo, thăm quan các cơ quan hữu quan và họp báo cáo theo
quý. Khung theo dõi, đánh giá của Uganda đã sử dụng những công cụ và
phƣơng pháp điển hình sau đây:
Quá trình theo dõi và
đánh giá
Phương pháp thu thập thông tin
Công cụ để thu thập thông tin
Theo dõi hàng tháng và
họp tháng để đánh giá
- Quan sát
- Phỏng vấn
đánh giá theo quý
- Thảo luận nhóm thành viên
chính
- Nghiên cứu và phân tích các báo
cáo thực hiện hàng quý
- Nghiên cứu, thảo luận các báo
cáo khảo sát, tham quan các cơ
quan thống kê và cơ quan hữu
quan.
- Các danh mục khảo sát và
tham chiếu
Xây dựng báo cáo theo
dõi, đánh giá theo quý
- Nghiên cứu và phân tích các báo
cáo thực hiện hàng quý
- Nghiên cứu, thảo luận các báo
cáo khảo sát, tham quan các cơ
quan thống kê và cơ quan hữu
quan.
- Sử dụng các báo cáo
Xây dựng báo cáo theo
- Nghiên cứu và phân tích các báo
- Sử dụng các báo cáo
dõi, đánh giá hàng năm
cáo theo dõi, đánh giá hàng quý
Tổ chức các hội thảo
đánh giá thực hiện hàng
năm
- Nghiên cứu và phân tích các báo
- Nghiên cứu và phân tích các báo
cáo quý về quá trình thực hiện
- Nghiên cứu báo cáo quý về theo
dõi, đánh giá kết quả thực hiện
Các danh mục khảo sát và các
định mức tham chiếu
Xem xét là việc đánh giá quá trình thực hiện một can thiệp định kỳ
hoặc đột xuất. Thuật ngữ “đánh giá” thƣờng đƣợc sử dụng cho những đánh
giá toàn diện và/hoặc sâu hơn “xem xét”. “Theo dõi” là việc xem xét liên tục
các quá trình và tiến độ. Xem xét thƣờng nhấn mạnh khía cạnh hoạt động
tƣơng tự nhƣ giám sát. Đôi khi thuật ngữ “xem xét”, “giám sát” và “theo dõi”
đƣợc sử dụng nhƣ các từ đồng nghĩa.
Quan sát trực tiếp là việc thu thập và ghi lại những thông tin hữu ích và
kịp thời bằng cách quan sát công việc mọi ngƣời, giúp đƣa ra các quyết định
cải thiện tình hình thực hiện dự án hay đƣa ra những nhìn nhận sâu sắc và
những phát hiện có thể sử dụng làm giả thiết để nghiên cứu sâu hơn. Từ góc
độ theo dõi, phƣơng pháp này rất quan trọng bổ trợ cho các dữ liệu thu thập
đƣợc, có thể giúp hiểu đƣợc bối cảnh thu thập thông tin và giải thích kết quả.
Điều tra, khảo sát là việc thu thập có hệ thống những thông tin từ một
nhóm ngƣời xác định, thƣờng bằng cách phỏng vấn hoặc phát phiếu điều tra
cho một đơn vị trong nhóm ngƣời đó (ví dụ, ngƣời, đơn vị thụ hƣởng, ngƣời
trƣởng thành). (UNDP 2002).
Nhóm trọng tâm là một nhóm từ 7 đến 10 ngƣời đƣợc chọn lựa để
tham gia các cuộc thảo luận nhóm nhằm chia sẻ hiểu biết và các quan sát, thu
thập quan điểm hay ý kiến, đề xuất các ý tƣởng hay khuyến nghị hành động
về một chủ đề nào đó. Thảo luận nhóm trọng tâm chính là một phƣơng pháp
thu thập dữ liệu phục vụ cho mục đích theo dõi và đánh giá.
Điều khoản tham chiếu là văn bản tài liệu nêu rõ mục đích và phạm vi
đánh giá, các phƣơng pháp sử dụng, các tiêu chí đánh giá thực hiện công việc
chính trong quá trình thực hiện là: báo cáo theo dõi, đánh giá cho từng hoạt
động và báo cáo tổng hợp cho cả quá trình theo dõi và đánh giá. Ngoài ra,
còn có báo cáo chuyên đề theo dõi, đánh giá chiến lƣợc thống kê.
a) Đối với báo cáo theo dõi, đánh giá cho từng hoạt động của quá trình
thực hiện chiến lƣợc thống kê, cần đảm bảo tính mô tả chi tiết, đƣa ra những
thông tin về quá trình thực hiện hành vi, những thách thức, nguồn lực, khung
thời gian của hoạt động
b) Đối với báo cáo tổng hợp: Báo cáo này cần tập trung vào việc đánh
giá kết quả đạt đƣợc so với mục tiêu đề ra và đƣa ra những xu hƣớng cần
thiết, những nguyên nhân cơ bản của vấn đề, thảo luận về những thách thức
và phân tích quá trình thực hiện chiến lƣợc để đảm bảo đạt đƣợc các mục tiêu
đề ra.
c) Báo cáo chuyên đề theo dõi, đánh giá chiến lƣợc thống kê, có thể
bao gồm: Báo cáo tiến triển công việc theo quý; Báo cáo theo dõi, đánh giá
cho các quý; Báo cáo theo dõi, đánh giá hàng năm; Báo cáo giữa kỳ; Báo cáo
cuối kỳ. Sau đây là danh mục các loại báo cáo và nội dung chủ yếu của các
loại báo cáo.
Loại báo cáo
Nội dung
Báo cáo tiến độ công
việc theo quý
- Báo cáo tập trung vào toàn bộ quá trình tiến triển
công việc, các thông tin chi tiết và phân tích dựa vào
báo cáo hàng tháng.
- Báo cáo tập trung vào quá trình thực hiện hoạt động,
và các báo cáo về mặt thời gian, những khó khăn phát
sinh, và bài học kinh nghiệm.
Báo cáo theo dõi,
- Báo cáo này đƣợc thực hiện trong nội bộ và báo cáo
mở rộng ra bên ngoài.
- Phân tích, mô tả những kết quả đạt đƣợc trên cơ sở
kế hoạch và khung TD&ĐG.
- Thảo luận các vấn đề trong kế hoạch, những bài học
kinh nghiệm (tích cực, hạn chế) và những thay đổi cần
thiết.
Báo cáo cuối kỳ
- Báo cáo này cần đƣợc thực hiện tại giai đoạn cuối
của kế hoạch thực hiện chiến lƣợc
- Tập trung vào những kết quả đạt đƣợc, mức độ đạt
đƣợc mục tiêu đề ra, những đóng góp vào quá trình
tiến đến mục tiêu.
- Đánh giá, lƣợng hóa những kết quả đạt đƣợc so với
khung tham chiếu yêu cầu.
- Đƣa ra những kết quả đầu ra, các tác động.
- Đánh giá về tính hiệu quả và tác động.
Đối với những chƣơng trình diễn ra trong thời gian ngắn (dƣới 1
năm), ta cần theo dõi và báo cáo về các phát hiện hàng tháng để có biện
pháp kịp thời điều chỉnh nếu cần thiết để đảm bảo rằng việc tiến hành các
hoạt động sẽ đƣợc diễn ra đúng kế hoạch.
Rà soát các đề xuất thay đổi với nhóm hoạt động và thống nhất về
những thay đổi cần tiến hành. Đánh giá nhu cầu kinh phí hoặc những điều
chỉnh phát sinh từ những thay đổi này và đƣa ra điều chỉnh nếu có thể/cần
thiết.
Lồng ghép kết quả đánh giá bởi các nguồn bên ngoài vào trong các
chuyến theo dõi và giám sát định kỳ tại địa bàn để giảm thiểu những căng
thẳng về nguồn lực cho chƣơng trình và sự mệt mỏi của đối tƣợng đồng
thời tối đa hóa lợi ích và điểm mạnh trong các phát hiện của hoạt động
các tóm lƣợc và các phụ lục kỹ thuật.
Kết luận đánh giá
Giải thích các dữ liệu đã đƣợc phân tích và đi đến các kết luận. Sau khi
các kết quả của các chỉ tiêu, các câu hỏi và các tiêu chí đánh giá đã đƣợc
phân tích, chúng cần phải đƣợc giải thích bằng cách kết hợp và xem xét tất cả
các thông tin kết quả.
Việc giải thích các kết quả đánh giá để đi đến các kết luận tập trung
vào ba điểm:
• Các yếu tố và các chủ đề chung – xác định các vấn đề và các yếu tố
tiềm ẩn chung dựa trên kết quả của tất cả các tiêu chí đánh giá. Xác định bất
cứ yếu tố hoặc chủ đề nào có thể ảnh hƣởng đến các tiêu chí đánh giá. Ví dụ,
chính sách về tổ chức cán bộ thay đổi có thể làm tăng hiệu suất, hiệu quả và
tác động của hoạt động thu thập và cung cấp thông tin thống kê.
• Các tiêu chí đánh giá quan trọng – Chú ý bất kỳ tiêu chí nào nổi bật
bởi những thông tin trong tóm tắt phân tích nhƣ đã trình bày trong Bảng 1. Ví
dụ, nếu nhƣ tiêu chí bền vững thấp hơn nhiều so với các tiêu chí khác, thì các
bài học kinh nghiệm đƣợc rút ra phải liên quan đến việc lập kế hoạch và quá
trình thực hiện. Các bài học kinh nghiệm này phải bao gồm việc xác định tại
sao không khuyến khích đƣợc tính tự chủ trong quá trình thực hiện.
• Tính phù hợp của thiết kế và các sắp xếp thực hiện – chú ý đến các
dạng đánh giá đƣa ra đƣợc các bài học kinh nghiệm về thiết kế hoặc cách
thức tổ chức thực hiện. Điều này bao gồm hiệu quả của bất cứ thay đổi nào
trong các đầu vào, các đầu ra và các hoạt động đƣợc lập kế hoạch khi so sánh
với khung TD&ĐG ban đầu. Ví dụ, nếu nhƣ hiệu quả và tác động có mối liên
hệ rõ ràng với sự thay đổi về thiết kế sau khi thực hiện đánh giá giữa kỳ thì
điều này phải đƣợc chú ý. Theo cách này thì các thiết kế mới có thể sử dụng
các bài học kinh nghiệm và lựa chọn phƣơng pháp hiệu quả hơn từ khi bắt
đầu.
Không phải mọi kết quả đƣợc rút ra từ việc đánh giá đều phải đƣợc nêu
và cộng đồng. Những vấn đề này ảnh hƣởng đến môi trƣờng hoạt động bên
ngoài quản lý chƣơng trình, và đặc biệt đòi hỏi phải có sự phản hồi từ chính
quyền địa phƣơng hoặc chính quyền trung ƣơng hoặc các nhà tài trợ.
• Các chủ đề liên quan đến quản lý chƣơng trình – các khuyến nghị có
ý nghĩa đối với việc lập kế hoạch, thực hiện và hoạt động bền vững cũng nhƣ
duy trì các hoạt động phát triển khác. Những vấn đề này ảnh hƣởng đến môi
trƣờng hoạt động bên trong của quản lý chƣơng trình hành động, và đặc biệt
đòi hỏi phải có sự phản hồi từ các cơ quan cấp tỉnh và các Bộ chủ quản cũng
nhƣ các Ban Quản lý chƣơng trình, dự án.
• Các chủ đề liên quan đến công nghệ – các khuyến nghị có ý nghĩa
cho việc nghiên cứu các cách thực hiện tốt hơn. Các chủ đề này xác định các
vấn đề không thể giải quyết bằng chính sách và quản lý, đòi hỏi phải có sự
phản hồi từ hội đồng khoa học thông qua các viện và các quan hệ hợp tác
quốc tế về kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn trong việc giải quyết các vấn đề
liên quan.
Chuẩn bị các phát hiện để hỗ trợ quản lý hướng tới kết quả phát
triển
Các phát hiện của đánh giá bao gồm các phản hồi dƣới dạng các
khuyến nghị đƣợc sử dụng cho quản lý. Các loại phát hiện đánh giá khác
nhau phải đƣợc phân tích một cách độc lập để đƣa ra hai loại khuyến nghị.
Phải đặt ra các câu hỏi về các kết quả của mỗi loại khuyến nghị, nhƣ trong ví
dụ sau:
Ví dụ về các khuyến nghị cho công tác quản lý:
• Ai sẽ bị ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi khuyến nghị về mặt
đầu ra và các kết quả theo kế hoạch?
• Khuyến nghị khác gì so với các khuyến nghị trƣớc đó?
• Lý do chính và phƣơng pháp chính đƣợc sử dụng để chứng minh các
khuyến nghị?
• Các khuyến nghị so sánh nhƣ thế nào với các đầu tƣ, kết quả, hoặc
hoạt động tƣơng tự ở các lĩnh vực khác nhƣ thế nào?
đối với đánh giá hiệu quả và đánh giá tác động, phản hồi quản lý phải xác
định khuyến nghị nào chấp nhận đƣợc, khuyến nghị nào không chấp nhận
đƣợc và tại sao, cũng nhƣ các khuyến nghị đƣợc chấp nhận sẽ đƣợc thực hiện
và theo dõi nhƣ thế nào.
Trình bày kết quả đánh giá
Bên cạnh các báo cáo chính thức, kết quả đánh giá đƣợc trình bày bằng
các cách khác nhau, bao gồm báo cáo và các ghi chép tóm tắt thực địa, các
cuộc họp tại chỗ với các bên liên quan trƣớc khi rút ra kết luận đánh giá, và
tóm tắt các phát hiện mới đƣợc trình bày nhƣ là các ấn bản độc lập.
Khi viết một báo cáo, sử dụng ngôn ngữ đơn giản sẽ giúp những ngƣời
đọc dễ hiểu. Đƣa những phát hiện mới và tóm tắt các sự kiện lên trƣớc và để
các câu hỏi đánh giá chi tiết, các chỉ số, dữ liệu thô và các tài liệu tham khảo
khác vào phần phụ lục.
Hoàn thiện báo cáo đánh giá
Yêu cầu nộp báo cáo đánh giá trong vòng 2 tuần sau khi tiến hành đánh
giá.
Chia sẻ và rà soát báo cáo với các thành viên trong nhóm và gửi lại cho
đánh giá viên bên ngoài và yêu cầu họ sửa lại báo cáo trong vòng 1 tuần sau
khi nhận đƣợc.
Yêu cầu thực hiện thay đổi lần cuối và báo cáo chính thức gửi lại cho
nhóm sau một tuần kể từ khi nhận đƣợc phản hồi/nhận xét của đối tác thực
hiện hoạt động của chƣơng trình hành động.
Nếu có thể và nếu đã đƣa vào trong điều khoản tham chiếu thì yêu cầu
chuẩn bị bài trình bày các khuyến nghị và nộp cùng với báo cáo chính thức.
3.2 Phản hồi và trao đổi thông tin
Đánh giá có rất nhiều đối tƣợng quan tâm, bao gồm các nhà tài trợ, các
cơ quan quản lý, các tổ chức hợp tác, các đối tác thực hiện và các bên liên
quan chính. Tất cả đều có quyền đƣợc biết về tiến độ thực hiện và tất cả đều
có cơ hội phản hồi các phát hiện ban đầu.
Trƣớc tiên, thảo luận về các phát hiện sơ bộ với các đối tác thực hiện