Phân tích tín dung- Thực trạng và giải pháp tại Việt nam - Pdf 24

PHÂN TÍCH TÍN DỤNG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TẠI VIỆT NAM
1. Tầm quan trọng/mục tiêu :
Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho NHTM.Rủi ro này, có rất
nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngân hang.Có nhiều
khoản tài trợ mà tổn thất có thể chiếm phần lớn vốn chủ, đẩy ngân hang đến phá sản.Do vậy,các
ngân hàng phải cân nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khi quyết định tài trợ.
Đó chính là quá trình phân tích tín dụng, bao gồm quá trình thẩm tra trước, trong và sau khi cho
vay,chiết khấu,cho thuê,bảo lãnh.
Quan hệ tín dụng phần lớn được xác lập thông qua hợp đồng tín dụng với trọng tâm là xác
định khả năng và ý muốn của người nhận tín dụng trong việc thực hiện hợp đồng.Do đó,mục
tiêu của phân tích tín dụng la thu thập và phân tích thông tin nhằm xác định nội dung của hợp
đồngtín dụng bao gồm xác định vị trí thị trường so sanhcủa người nhận tín dụng,sức mạnh cạnh
tranh,rủi ro,mức độ thay đổi kỹ thuật,sức mạnh tài chính và khả năng thanh toán của người
vay…trong quá khứ, hiện tại, và tương lai, cho phép ngân hàng điều chính các giá trị trong
quan hệ tín dụng với khách hàng.
Phân tích tín dụng là công việc nghiêm túc.Trong môi trường gia tăng cạnh tranh giữa các
ngân hàng ,khách hang , đòi hỏi ngân hàng phải thực hiện quy trình phân tích tín dụng
nhanh,gọn và tiết kiệm chi phí ; đây cũng là hoạt động liên quan đến trách nhiệm của nhiều
phòng ban va cán bộ ngân hang.Do vậy,quy trình phân tích tín dụng phải đáp ứng các yêu cầu
sau:
- Được xây dựng và thống nhất trong toàn NH, tránh tuỳ tiện ,duy ý chí. Quy trình này phải
được ban lãnh đạo NH thong qua và phổ biến đến các phòng có lien quan cung như các cán bộ
tín dụng.
- Được xây dựng chi tiết trong nội dung phân tích,tránh chung chung.Mỗi phòng chức năng
trong NH cũng như cán bộ NH cần phải làm gì, đến mức nào;
- Toàn bộ quy trình phải nhằm thực hiện các nguyên tắc tín dụng NH.
*Phân tích tín dụng giữ vai trò quan trọng : giúp Ngân hàng phân tích, đánh giá và ra quyết
định cho vay khi đứng trước một yêu cầu vay vốn của khách hàng. Va kiểm soát và quản lý rủi
ro tín dụng khi quyết định cho vay, góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng nói chung.
2. Quy trình phân tích tín dụng.
Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với khách hàng, các ngân

phản ánh số kết dư giá trị tài sản tại một thời điểm, hoặc kết dư trung bình trong kì. Đối với họ,
hoặc người tiêu dùng ngân hàng yêu cầu các thông tin về tình hình kinh doanh, tài sản cá nhân,
lương và các khoản thu thập khác. Các thông tin về tài sản cho thấy quy mô, khả năng quản lí
của khách hàng rất quan trọng đối với quyết định cho vay. Quan trọng hơn, tài sản (tất cả hoặc
một phần) của khách hàng luôn được coi là vật đảm bảo cho khoản vay, tạo khả năng thu hồi nợ
khi khách hàng mất khả năng sinh lời.
Ngân quỹ: Bao gồm tiền gửi ngân hàng , tiền mặt trong két, các khoản phải thu. Tiền gửi và
tiền mặt là tài sản có thể dùng để chi trả ngay, song thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài
sản của khách hàng. Các khoản phải thu (chủ yếu là tiền bán hàng hoá và dịch vụ chưa thu
được tiền) luôn có khả năng chuyển thành tiền gửi hoặc tiền mặt. Ngân hàng cần xem xét kĩ
khoản này để loại trừ các khoản bán chịu không thu được, khó thu được hoặc đã bán lại cho
người khác. Các khoản cho vay ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới tình hình ngân quỹ của khách
hàng, đặc biệt thời hạn cho vay có thể tính toán dựa trên số ngày của kì thu tiền.Các chứng
khoán có giá : Là các tài sản tài chính của doanh nghiệp. Các tài sản này làm tăng nguồn thu và
có thể mang bán khi cần tiền để chi trả.
Hàng hoá trong kho: Rất nhiều các món vay ngắn hạn với mục tiêu tăng dự trữ hàng hoá, có
nghĩa là một phần hàng hoá trong kho được hình thành từ vốn vay ngân hàng . Do đó, ngân
hàng quan tâm tới số lượng, chất lượng, giá cả, mẫu mã, bảo hiểm, rủi ro đối với hàng hoá
trong kho. Ngoài xem xét trên sổ sách, ngân hàng còn yêu cầu người vay mở kho hàng kiểm tra
để loại trừ hàng hoá kém, mất phẩm chất, chậm tiêu thụ, phát hiện hàng giả, hàng người khác
gửi…
Tài sản cố định: Gồm nhà cửa, sân bãi, trang thiết bị, phương tiện vận chuyển, thiết bị văn
phòng…thường là đối tượng tài trợ trung và dài hạn.
• Đánh giá các khoản nợ
Nợ của người vay có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Về thời gian: Gồm nợ ngắn hạn (vay ngắn hạn) và nợ trung và dài hạn (vay trung và dài hạn);
nhiều khi ngân hàng còn xem xét các khoản nợ đến hạn trong năm (các khoản nợ ngắn và trung,
dài hạn phải trả trong năm) và các khoản nợ phải trả trong các năm sau. Nhìn chung, các khoản
vay ngắn hạn thường dùng tài trợ cho tài sản lưu động, còn các khoản vay trung và dài hạn
dùng tài trợ cho tài sản cố định. Do đó, tính tương quan giữa chúng là đối tượng phân tích của

(và như vậy là không có khả năng chi trả) ngay cả khi họ cho vay các khoản vốn lưu động phù
hợp. Cùng các khoản cho vay ngắn hạn, đã xuất hiện ngày càng nhiều các khoản cho vay dài
hạn mà mối tương quan với vốn của chủ sở hữu và các luồng trả nợ trở nên rất quan trọng. Để
quá trình phân tích tín dụng được thực hiện với thời gian ngắn và phần nào được tiêu chuẩn
hoá, các ngân hàng đều cố gắng xây dựng các tỷ lệ phản ánh năng lực tài chính của người vay
có liên quan đến khả năng trả nợ. Các tỷ lệ này sẽ được áp dụng trong phân tích đối với từng
người vay có tính đến các điều kiện cụ thể. Trong nhiều trường hợp,, ban lãnh đạo ngân hàng
còn yêu cầu cán bộ tín dụng sắp xếp và cho điểm đối với từng tỉ lệ của mỗi người vay. Điểm
cần chú ý là các tỉ lệ này thường được cấu thành từ hai số có bản chất khác nhau, do đó, tìm
kiếm các số liệu có mối tương quan với nhau là rất cần thiết. Hơn nữa các tỷ lệ này lấy từ các
báo cáo tài chính phản ánh tình hình đã và đang xảy ra, do đó, các tỷ lệ này không phải lúc nào
cũng là những chỉ dẫn cho các quyết định của ngân hàng .
Các loại tỷ lệ: Những tỷ lệ đo thanh khoản, tỷ lệ đo khả năng tạo lợi nhuận, tỷ lệ khả năng
tài trợ bằng vốn tự có, tỷ lệ đo rủi ro.
Nhóm tỷ lệ thanh khoản: Đo khả năng của người vay trong việc đáp ứng trách nhiệm tài
chính ngắn hạn. Dựa vào đó ngân hàng tìm kiếm khả năng thanh toán các trái khoán khi đến
hạn của người vay. Nhìn chung các tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh toán của người vay có
thể càng tốt. Một là, tỷ lệ thanh khoản nhanh được đo bằng ngân quỹ của người vay trên các
khoản nợ hiện hành( gồm các khoản nợ ngắn hạn và trung, dài hạn đến hạn trong kì). Mẫu số
phản ánh nợ đến hạn sắp phải trả, trong khi đó tử số gồm tiền mặt trong két và tiền gửi ngân
hàng hiện có, các khoản đang trong quá trình thu (sắp thu). Chú ý là tiền mặt và tiền gửi ngân
hàng có thể giảm nhanh chòng do người vay cần thanh toán tiền mua hàng hoá hoặc trả lương,
các khoản đang trong quá trình thu có thể không thu được. Do đó, ngân hàng cần xem xét kĩ
lưỡng các khoản đang trong quá trình thu, tính số ngày của một kì thu, loại trừ nợ nần dây dưa.
Hai là, tỷ lệ thanh khoản trung bình đo bằng tỷ lệ tài sản lưu động trên nợ hiện hành. Tử số gồm
ngân quỹe và hàng hoá của người vay (hàng hoá trong kho, trên đường, trên quầy). Điều đáng
quan tâm là giá cả hàng hoá tồn kho và các loại hàng hoá kém luân chuyển. Ngân hàng phân
loại những hàng hoá này ra khỏi tử số của tỷ lệ thanh khoản.
Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà ngân hàng phân tích các tỷ lệ thích hợp. Nếu cho vay trong
thời gian ngắn 2-3 tháng, ngân hàng cần chú ý đến tỷ lệ thanh toán nhanh; còn cho vay 9-12

nước? Giấy phép đối với sản phẩm mới?
Nhóm tỷ lệ đo khả năng tài trợ bằng vốn sở hữu: Thông thường một doanh nghiệp phải có
vốn sở hữư đủ dể tài trợ một phần cho tài sản lưu động và tài sản cố định.
Tỷ lệ tài trợ bằng vốn sở hữu =Vốn sở hữu/ Tổng tài sản
Tỷ lệ này cho thấy sức mạnh tài chính của người vay. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
tỷ lệ này vào khoảng 0,3- 0,4 hoặc thấp hơn buộc ngân hàng phải thận trọng và kiểm soát chặt
chẽ các khoản cho vay.
Tuỳ theo yêu cầu vay ngắn hạn hay trung và dài hạn mà ngân hàng tập trung chú ý vào tỷ lệ
tài trợ cho tài sản lưu động hay tài sản cố định. Khi cho vay ngắn hạn, ngân hàng xem xét vốn
lưu động tự có của doanh nghiệp. Một khoản xin vay ngắn hạn có thể được ngân hàng chấp
nhận nếu không làm xấu đi tình trạng tài trợ của doanh nghiệp ( ngân hàng sẽ cộng thêm khoản
vay mới để xác định lại tỷ lệ này). Nếu doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn thì khấu hao và
thu nhập sau thuế cùng với giá trị còn lại của tài sản cố định là những yếu tố ảnh hưởng đến
quyết định cho vay của ngân hàng .
• Các điều kiện kinh tế.
Các kết quả phân tích trên cho ngân hàng thấy một phần quá khứ và hiện tại của khách
hàng. Điều ngân hàng quan tâm hơn là khả năng trong tương lai của khách hàng, có thể là trong
mấy tháng hoặc mấy năm. Thời hạn càng dài, dự đoán càng khó chính xác, đó là do tác động
của các điều kiện kinh tế. Thiên tai,các thay đổi bất thường trong đời sống chính trị, khủng
hoảng kinh tế vùng, quốc gia, sự sa sút đột ngột của ngành… làm thay đổi các tính toán ban
đầu, dẫn đến giảm hoặc mất khả năng trả nợ của khách hàng. Tổn thất của khách hàng đến tổn
thất của ngân hàng chỉ trong gang tấc.
Bước 2: Xây dựng và kí kết hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa người nhận tài trợ (khách hàng)
và ngân hàng , với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín
dụng (hoặc hạn mức tín dụng ) trong một khoảng thời gian và lãi suất nhất định. Hợp đồng tín
dụng là văn bản mang tính pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín
dụng , đồng thời phải tuân thủ các điều khoản của các luật , các quy định. Do vậy, cả ngân hàng
lẫn khách hàng đều cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi kí kết hợp đồng tín dụng . Sau đây là nội
dung chính của hợp đồng tín dụng .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status