vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho con - Pdf 24

GVHD: Trần Thanh Hương
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
***
BÁO CÁO THỰC TẬP
VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG GIÁO DỤC GIỚI
TÍNH CHO CON
( Nghiên cứu trường hợp tại xã Tế Lợi – Huyện Nông Cống – Tỉnh Thanh
Hóa)
Chuyên ngành đào tạo: XÃ HỘI HỌC
Lớp : K56 XHHA
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 11
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Trần Thanh Hương

GVHD: Trần Thanh Hương
MỤC LỤC
MỤC LỤC
3.1 Nhận thức và thái độ của cha mẹ về GDGT cho con
3.1.1 Nhận thức của cha mẹ về GDGT cho con
3.1.1.1 Nhận thức của cha mẹ về tầm quan trọng của việc GDGT cho con
3.1.1.2 Nhận thức của cha mẹ về độ tuổi GDGT cho con
3.1.2 Thái độ của cha mẹ về GDGT cho con
3.2 Nội dung GDGT cho con của cha mẹ
3.2.1 Nội dung người cha GDGT cho con
3.2.2 Nội dung người cha GDGT cho con
3.2.3 Hình thức tiếp cận thông tin
3.3 phương pháp GDGT cho con của cha mẹ
3.4 Một số khó khăn của cha mẹ trong GDGT cho con
III: KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

đình, trong nhà trường và ngoài xã hội. Tuy nhiên, vấn đề giáo dục giới tính trong nhà trường ở
nước ta còn đang được tranh luận nên được giáo dục như thế nào? Là môn học chính hay chỉ là
giờ ngoại khóa? Độ tuổi nào, cấp nào nên học và chương trình như thế nào cho thích hợp? thì
phải cần thiết phải đẩy mạnh vai trò của gia đình trong việc GDGT. Đặc biệt là vai trò của cha
mẹ. (Đào Thị Vân Anh, 2011)
“Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người mà mỗi cá nhân đều phải trải
qua” (Lê Thị Quí, 2009, trang 124-5). Cha mẹ là những người đầu tiên phát hiện được sự trưởng
thành về mặt sinh lí của con mình, ý thức cho con về mặt tâm sinh lí tình cảm… Hơn thế, cha mẹ
là những người ảnh hưởng lớn nhất đối với con cái, được coi là mẫu mực cho con cái trông vào.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội. Xã hội tốt thì

GVHD: Trần Thanh Hương
gia đình càng tốt; gia đình càng tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì
vậy muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chú ý hạt nhân cho tốt” (trích Bài nói tại Hội nghị
Cán bộ thảo luận: “Dự thảo luật Hôn nhân và gia đình” 10-10-1959). Con cái chính là tấm
gương phản ánh thực trạng đạo đức, nếp sống mỗi gia đình, của việc giáo dục con cái của những
bậc làm cha, làm mẹ. Xã hội phát triển khi có những gia đình tốt, những công dân tốt. Hạt nhân
đó chính là thành quả do những người cha, người mẹ gây dựng nên. Đặc biệt, bàn tay người mẹ
chăm sóc, gieo trồng cho những hạt giống đó được đâm chồi, nảy lộc và tỏa sáng. (Đào Ngọc
Đệ, 2014). Tuy nhiên, gia đình Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong
kiến nên việc giáo dục giới tính hạn chế trong những lời răn dạy về đạo đức. Hoạt động giáo dục
giới tính phổ biến trong các gia đình chỉ dừng lại ở góc độ dạy vệ sinh thân thể ở tuổi dậy thì.
Với nhiều bậc phụ huynh, giáo dục tình dục hầu như chưa bao giờ được đặt ra. (Nguyễn Thị Tố
Quyên, 2005). Bởi cha mẹ thường né tránh, vì nỗi lo “vẽ đường cho hươu chạy” của người lớn,
mặt khác do bận rộn trong công việc nên rất ít gia đình có sự quan tâm đúng mức đến việc giáo
dục giới tính cho con, đặc biệt là khu vực nông thôn. Con cái, do sự thiếu hiểu biết, không được
nhận thức một cách đầy đủ hệ thống, khoa học từ gia đình và nhà trường, nên các em chủ yếu tự
suy diễn, tò mò, rồi tự giải đáp thắc mắc của chính mình, dẫn đến những suy nghĩ và có những
hành động sai lầm, trong đó vấn đề giới tính tình dục là một vấn đề đáng quan tâm của gia đình,
nhà trường và toàn xã hội. Những trường hợp thương tâm xảy vào đầu tháng 5 về việc Trẻ bị lạm


GVHD: Trần Thanh Hương
- Tìm hiểu vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho con tại xã Tế lợi – Huyện
Nông cống – Thanh hóa.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu nhận thức và thái độ của cha mẹ về tầm quan trọng trong việc giáo dục giới tính
cho con.
- Tìm hiểu nội dung giáo dục giới tính cho con của cha mẹ.
- Tìm hiểu một số phương pháp giáo dục giới tính chủ yếu cho con của cha mẹ.
- Tìm hiểu những khó khăn trong việc giáo dục giới tính cho con của cha mẹ.
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Nhận thức và thái độ của cha mẹ trong giáo dục giới tính cho con hiện nay được thể hiện
như thế nào?
- Cha mẹ giáo dục giới tính cho con bằng những nội dung, phương pháp giáo dục nào trên
địa bàn xã Tế Lợi – Thanh hóa?
3. Cách tiếp cận, đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Cách tiếp cận
Cách tiếp cận từ dưới lên thông qua phân tích vi mô: lấy gia đình là đơn vị phân tích.
Nhằm tìm hiểu nhận thức của cha và mẹ về tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính cho con,
hình thức tiếp cận thông tin GDGT cho con. Độ tuổi nào nên giáo dục giới tính cho con? Nội
dung và phương pháp cha mẹ giáo dục cho con. Từ đó, tìm hiểu những khó khăn mà cha mẹ gặp
phải khi GDGT cho con.
3.2 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của cha mẹ trong giáo dục giới tính cho con tại xã Tế Lợi,
huyện Nông Cống, tình Thanh Hóa.
- Khách thể nghiên cứu: Là cha mẹ có con đang đi học trong độ tuổi từ 6 – 17 tuổi tại Xã
Tế Lợi, Thanh Hóa. Để đảm bảo tính khách quan chúng tôi nghiên cứu phỏng vấn sâu là con
cái của phụ huynh đang đi học trong độ tuổi từ 6 -17 tuổi. Vì ở độ tuổi này trẻ đang ở giai
đoạn phát triển về thể chất và cũng bắt đầu hiểu biết được vấn đề.
- phạm vi nghiên cứu:

GDGT
Phươg
pháp
GDGT
G
i
á
o

d

c

g
i

i

t
í
n
h

c
h
o

c
o
n

c
o
n
c
o
n

c
á
i
Nhận thức
NT về
tầm
quan
trọng
GDGT
NT về
tầm
quan
trọng
GDGT
Khó khăn trong GDGT
cho con
Khó khăn trong GDGT
cho con
Vai trò của cha mẹ
Vai trò của cha mẹ
Nội dung GDGT
Nội dung GDGT
GVHD: Trần Thanh Hương

cho con gồm những gì? Kết hợp với phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia
(PRA): sắp xếp các khó khăn trong giáo dục giới tính cho con, thành các nhóm tương tự nhau để
người dân xếp hạng các khó khăn theo thứ tự ưu tiên tại địa điểm nghiên cứu nhằm thu thập
thông tin nhìn từ phía người dân.
5.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Số liệu thu thập được từ cuộc điều tra được kiểm
tra mã hóa và xử lý thông tin bằng phần mềm Excel.

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CỞ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niêm cơ bản
a. Khái niệm vai trò
Theo Robertsons vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được
gắn liền với một vị thế xã hội nhất định.
b. Khái niệm gia đình

GVHD: Trần Thanh Hương
Gia đ|nh là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chề văn hóa – xã
hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống, quan hệ nuôi dư‹ng hoăc quan hệ giáo dục giữa các thành viên.
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một hình ảnh “xã hội thu nhỏ”, cơ bản nhất của xã hội.
Gia đình hình thành rất sơm và trải qua một xã hội lâu dài. Lịch sử nhân loại có những hình thức
hôn nhân: tạp ngôn, đối ngẫu, một vợ nột chồng thì cũng có hình thức gia đình: tập thể, cập đôi,
cá thể và cũng có loại gia đình một thế hệ, hai thế hệ và nhiều thế hệ.
c. Khái niệm về giới tính và giáo dục giới tính
Giới tính (sex) là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ môn sinh vật học dùng đểc hỉ dự
khác biệt về sinh học giữa nam và nữ. Đó là sự khác biệt phổ thông và không thể thay đổi được,
mọi người đàn ông đều có những đặc điểm chung về giới tính và mọi người phụ nữ đều có đặc
điểm chung về giới tính. (Lê Thị Quý – Xã hội học giới, NXB giáo dục Viet Nam, trang 31, năm
2010)

Áp dụng lý thuyết này, chúng tôi xem gia đình là một thành phần của cấu trúc xã hội, là một thiết
chế xã hội, nó đảm nhận những chức năng cơ bản để đáp ứng được nhu cầu của từng thành viên
trong gia đình trong đó có chức năng giáo dục giới tính cho con cái của cha mẹ.
b, Lý thuyết vai trò của Ralph Linton
Theo Ralph Linton, vai trò là một quan điểm cơ bản trong lý thuyết xã hội học nhằm
đánh giá cao những mong đợi xã hội gắn với những vị thế cụ thể và phân tích thực hiện những
mong đợi đó. Ông cho rằng, mỗi cá nhân có một loại vai trò được đem lại từ những hình mẫu xã
hội khác nhau mà họ tham dự. Trong tiến trình cuộc đời của mỗi cá nhân, họ đều lần lượt thực
hiện một số những vai trò khác nhau hoặc đồng thời thực hiện. Khi tổng hợp tất cả các vai trò xã
hội của cá nhân đó thực hiện từ khi sinh ra cho đến lúc chết tạo thành nhân cách xã hội của người
đó. Ông nói, chúng ta giữ các địa vị nhưng chúng ta đóng các vai trò, vai trò và địa vị không thể
tách rời nhau, sự phân biệt chúng chỉ trong nhận thức khoa học. Không thể có vai trò mà không
có địa vị, vị thế hoặc ngược lại. Vai trò trở thành một tập hợp các quyền và nghĩa vụ đã được thể
chế hóa, có nghĩa là với vị trí mà các cá nhân xã hội hay tổ chức nắm giữ thì chủ thể xã hội đó
cần thực hiệ tốt những mong đợi, bổn phận và trách nhiệm đó.
Với đề tài này ta thấy rằng, địa vị của người cha, người mẹ gắn với nhũng vai trò nhất
định mà xã hội và con cái mong đợi. Đó chính là trách nhiệm nuôi dư‹ng, giáo dục phẩm chất
đạo đức, giáo dục giới tính, súc khỏe sinh sản cho con cái.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Thực trạng nhận thức của học sinh về giáo dục giới tính
Ở Việt Nam hiện nay, theo chương trình giáo dục mà Bộ Giáo Dục Đào Tạo quy định thì
giáo dục giới tính đã được đưa vào giảng dạy lồng ghép từ cấp THCS. Vậy thực trạng nhận thức
của các em học sinh THPT về GDGT hiện nay ra sao?
Mặc dù phần lớn các em học sinh đều nhận thức được giáo dục giới tính bao gồm những
nội dung gì, nhưng kết quả vẫn cho thấy một mức độ thấp các em có hiểu biết sâu sắc về nội
dung của giáo dục giới tính hay những hậu quả có thể gặp phải khi thiếu kiến thức về giới tính.
Các em chỉ có nhận thức tốt về các dấu hiệu của tuổi dậy thì, còn những nội dung khác trong sức
khoẻ sinh sản, giáo dục giới tính thì các em còn mơ hồ hiểu biết còn rất hạn chế. Theo nghiên
cứu của (Đinh Thị Thanh Nga – 2013) thì chỉ có 6,4% hiểu biết đúng về thời điểm có thai, 93,6%
học sinh không biết ở thời điểm nào quan hệ tình dục sẽ có thai; 20,7% các em biết đuợc trong

phương tiện thông tin đại chúng. Một số khác nói rằng: ý kiến này cũng hay nhưng không biết
thực tế sẽ thế nào? (Ủy ban dân số và kế hoạch hóa gia đình, trung tâm tư vấn về kế hoạc hoá
gia đình năm 2007).
Như vậỵ, phần lớn cha mẹ có quan điểm không đúng khi cho rằng không nên giáo dục
giới tính cho con và vô tình gán trách nhiệm đó cho nhà truờng, chỉ có một phần nhỏ cha mẹ có
quan điểm đúng đắn là nên giáo dục giới tính cho con. Từ quan điểm của cha mẹ cho ta một
nhận định rằng phần lớn cha mẹ đang hổng kiến thức về giới tính hay thiếu sự hiêu biết về giới
tính. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về giới ngày càng cao, nếu cha mẹ không sớm nhận ra
đuợc sai lầm này, sẽ để lại nhiều hệ lụy cho xã hội, đặc biệt là đối với lớp thế hệ trẻ như: quan hệ
tình dục ở nước ta ngày càng sớm, trong đó học sinh, sinh viên chiếm phần lớn; tỉ lệ nạo phá thai
cũng liên tục gia tăng theo các năm; tội phạm là trẻ đang ở tuổi vị thành niên ngày càng nhiều và
có nhiều hành động táo tợn
2 2.3 Thái độ của phụ huynh và học sinh đối với giáo dục giới tính trong nhà trường.
Thái độ của cha mẹ có ảnh huởng rất lớn đến quá trình nhận thức của trẻ. Cha mẹ có thái
độ tích cực đúng đắn sẽ giúp con trẻ ham học hòi hơn, có hiểu biết sâu sắc hơn về giới tính tránh
đuợc những hành vi và hậu quả không nên có. Thực tể cho thấy đa số các bậc phụ huynh đã có
thái độ tích cực hơn khi cho rằng việc giáo dục giới tính cho con là cần thiết và nên có cách thức
giáo dục cho phù hợp, hiệu quả. Chỉ có một bộ phận nhỏ phụ huynh không đồng ý và có thái độ
thiếu tích cực với con em mình khi nhận ra chúng biết những vấn đề về giới tính như: có 79.2%
phụ huynh đồng tình với giáo dục giới tính là một lĩnh vực cần thiết và nên có cách thức giáo dục
phù hợp; 7.2% phụ huynh không chấp nhận đưa lĩnh vực này vào trong giáo dục giới tính và có
đến 12.8% cho rằng chỉ nên cho các em biết ít về giáo dục giới tính mà thôi; có đến 35.6% phụ
huynh lo lắng khi biết con mình biết những vấn đề giới tính; 2.9% phụ huynh nổi giận khi các
em có hiểu biết về giới tính và không có phụ huynh nào thờ ơ với những vấn đề giới tính của các
em học sinh. (Dương Thị Như Mơ - 2010).
Thực tế cho thấy, nếu phụ huynh có thái độ tích cực trong những vấn đề lien quan đến
GDGT cho con thì sẽ tác động đến tâm lý của các em học, tạo cho các em sự thoải mái, thích thú
khi bàn luận đến vấn đề giới tính. Theo nhóm tác giả (Trần Ngọc Ánh, Đỗ Minh Phương, Đỗ
Thanh Huyền - 2013) cho thấy rằng từ thái độ tích cực của phụ huynh mà phần lớn các em học
sinh cũng có thái độ hứng thú với những chuyện tình bạn, tình yêu và những vấn đề liên quan

56,6% ông bố và 64,3% bà mẹ cho rằng cần phải trao đổi về vấn đề này như vậy còn gần một
nửa bố mẹ không nhìn thấy sự cần thiết phải trao đổi với con về giới và giới tính. Bởi bố mẹ là
người định hướng cho con nhưng do những hạn chế về nhận thức của bố mẹ, cách truyền đạt và
sự lảng tránh của bố mẹ đã làm các em hiểu sai vấn đề dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Từ
đó bài viết hướng tới việc đưa ra một số giải pháp để phòng tránh.
Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra những sự khác biệt trong việc giáo dục giới tính ở đô
thị và nông thôn, trong cách truyền đạt giữa người cha và người mẹ là khác nhau, khác nhau
trong thông tin truyền đạt. Ngoài ra cũng do những nhận thức hạn chế của cha mẹ cũng ảnh
hưởng tới việc giáo dục giới tính cho con.
Như vậy, ta có thể thấy được giáo dục giới tính cho trẻ là một vấn đề hết sức nhạy cảm, tế
nhị nhưng rất cần thiết và gặp rất nhiều khó khăn. Cùng với sự tiến bộ phát triển của xã hội, giáo
dục giới tính đã được xã hội quan tâm chú ý nghiên cứu nhiều hơn. Tuy nhiên những nghiên cứu
đó chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính được thể hiện ở những góc độ
khác nhau: thực trạng, nhận thức, thái độ mà chưa có một nghiên cứu cụ thể về vai trò của gia
đình trong việc giáo dục giới tính cho con ở Việt Nam nói chung và đặc biệt trên trên địa bàn Xã
Tế Lợi, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa nói riêng. Vì vậy nhóm chúng tôi sẽ tập trung làm rõ
về vai trò của gia đình trong việc giáo dục giới tính cho con tại một xã cụ thể xã Tế Lợi – thanh
hóa.
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO CON
3.1 Nhận thức và thái độ của cha mẹ về giáo dục giới tính cho con.

GVHD: Trần Thanh Hương
3.1.1 Nhận thức của cha mẹ về giáo dục giới tính cho con
3.1.1.1 Nhận thức của cha mẹ về tầm quan trọng của việc GDGT cho con
Có thể nói rằng: Nhận thức là cơ sở tạo nên hoạt đông, nhận thức đúng mới có hành
động đúng, phù hợp, đồng thời nhận thức sai sẽ dẫn đến những hành đông sai lệch. Nhận thức
của cha mẹ trong GDGT cho con có đúng thì việc giáo dục cho con mới có chất lượng, tác động
vào suy nghĩ và tâm lý phát triển của trẻ. Để giáo dục tốt về giới tính cho con cái, trước hết cha
mẹ phải phải nhận thức được tầm quan trọng của việc GDGT mà họ sẽ giáo dục. Việc đánh giá
tầm quan trọng của GDGT sẽ giúp cho họ GDGT cho con cái tốt hơn.

giáo dục con học hành thế nào chứ chẳng bao giờ để ý đến vấn đó, cũng chẳng biết nó là cái
gì?” (Pvs, người cha, 38 tuổi, nghề nghiệp). Chứng tỏ, về nhận thức cũng như kiến thức của họ
còn rất hạn chế.
Như vậy, các bậc cha mẹ đều nói rằng có quan tâm đến GDGT cho con nhưng mức độ
tham gia vào quá trình GDGT cho con như thế nào mới là điều chúng ta cần phải tìm hiểu. Bởi
mức độ tham gia sẽ ảnh hưởng đến nội dung và phương pháp cha mẹ GDGT cho con cái. Đồng

GVHD: Trần Thanh Hương
thời, mức độ tham gia của cha mẹ vào GDGT cho con cũng thể hiện một phần nhận thức của cha
mẹ thông qua hành động quan tâm đến con cái thường ngày. Vậy, mức độ tham gia đến vấn đề
GDGT cho con của cha và mẹ được thể hiện như thế nào?
Biều đồ 1: Đánh giá mức độ tham gia của cha mẹ trong GDGT cho con
Mẫu: 30
Đơn vị: %

Nguồn: số liệu điều tra thực tế 2014
Trong thực tế điều tra tại biều đồ 2, người cha có tham gia vào GDGT cho con nhưng ở
mức độ không thường xuyên, chỉ ở mức độ “thi thoảng” là 40% và “hiếm khi” là 33,3 %. Với
mức độ “thỉnh thoảng”, “hiếm khi” phần lớn người cha nghĩ rằng chỉ khi nào thật sự cần thiết
hoặc ở một thời điểm nào đó cần lắm mới quan tâm đến GDGT cho con. Mặt khác, do thời gian
các con đi học ở trường nhiều, về nhà tối con lại học bài nên thời gian cha chia sẻ được với con
cũng ít đi. Một số người cha “không bao giờ” tham gia vào GDGT cho con do người cha vì bận
rộn với công việc, hơn nữa có người cha đây là chuyện của người mẹ phải lo. Nguyên nhân có
thể như chúng tôi đã trích trong phỏng vấn sâu trên, một vài trường hợp có thể do nhận thức còn
hạn chế của những người cha ở đây, cũng có trường hợp do đặc thù công việc mà họ đang làm.
“Chú đi làm, công việc thì nhàn nhưng mất nhiều thời gian nên đi suốt, cô hay ở nhà thì cô lo
cho các em. Mà những vấn đề tế nhị này đàn ông ai lại đi quan tâm nhiều chỉ có người mẹ giáo
dục là chính thôi. Mà ở nhà trường các con cũng được giang dạy mà”. (Pvs, người cha 40 tuổi).
Tuy nhiên, điều đó cũng phản ảnh đúng thực tế là người mẹ tham gia vào GDGT thường xuyên
chiếm 66,7%, trong khi người cha chỉ chiếm 20%. Sở dĩ có sự chệnh lệch như vậy là do, ảnh


Nguồn: số liệu điều tra thực tế 2014
Qua biều đồ 3, thấy rằng tỷ lệ đánh giá mức độ cần thiết của người mẹ luôn đánh giá cao
mức độ cần thiết của việc GDGT cho con hơn người cha. Người cha ít hơn người mẹ 13,3%
chiếm 46.7%. Mẹ đánh giá mức độ “rất cần thiết” chiếm tới 60%. Vì họ cho rằng với bối cảnh xã
hội như hiện nay thì cần thiết phải quan tâm đến giáo dục cho con để giúp con có những nhận
thức đúng đắn về giới tính, tình dục. Điều mà rất nhiều người mẹ e ngại trong cơn lốc giá trị
sống đang nhiều thay đổi, các em tiếp thu một cách thụ động lối sống từ phương Tây trong tình
trạng thiếu kỹ năng sống một cách trầm trọng. Chính vì vậy mà việc GDGT cho con là rất cần
thiết theo quan điểm của nhóm người mẹ này.
Hộp 2: Sư cần thiết của việc giáo dục giới tính cho con
Cần thiết lắm chứ, thời buổi này mà không chú ý giáo dục giới tính cho các em thì chết. Như

GVHD: Trần Thanh Hương
cháu biết xã hội bây giờ phát triển, nhoáng một cái là chúng nó chạy ra quán nét liền, rồi thông
tin qua sách báo tràn lan. Gio tư tưởng bọn trẻ khác rồi, thoáng lắm để ý cái gì, tò mò thích thú
à làm luôn. Nên sợ lắm.
(Pvs, người mẹ, 35 tuổi)
Nguồn: Điều tra thực tế năm 2014
Điều này chứng tỏ người phụ nữ rất quan tâm đến vai trò giáo dục giới tính cho con cái.
Nhưng đối với người cha dường như họ cho rằng những vấn đề như giáo dục đạo đức, giáo dục
tri thức mới là điều quan trọng. Còn giáo dục giới tính là vấn đề không cần thiết phải quan tâm.
Nhưng khi so sánh tỷ lệ nhận thức giữa người cha với nhau thì có 46.7% người cha chọn mức độ
“rất cần thiết” lại chiếm tỷ lệ cao, đánh giá về sự “cần thiết” người cha chiếm 33,3. Người mẹ chỉ
có 13.3%, tương đương với sự lựa chọn “bình thường” của người cha. Những người mẹ cho vấn
đề này là bình thường vì họ tin là con mình đủ nhận thức về giáo dục giới tính nên không cần
thiết phải quan tâm quá nhiều. Không có 1 người mẹ nào đánh giá “không cần thiết”. Bởi họ cho
rằng: “Dạo này đi đâu cũng nghe người ta cảnh báo tệ nạn trẻ yêu sớm và hàng loạt vụ lạm
dụng tình dục trẻ em. Nên là cô chú rất lưu tâm tới vấn đề này” (Pvn, người mẹ, 35 tuổi). Và chỉ
có 1 người cha duy nhất cho rằng GDGT cho con là “không cần thiết”. Điều này có thể giải thích

trường. “Tôi nghĩ nên bắt đầu với độ tuổi từ 10 – 15 tuổi, khi con đang học cấp 2 là thích hợp
nhất, bởi đây là độ tuổi dậy thì đang có sự thay đổi về cơ thể. Được biết nhà trường cũng có
GDGT cho con thông qua môn học trên lớp nên cần chú ý GDGT cho con, tránh những lỗi
truyền đạt không hiệu quả khi con tiếp thu kiến thức từ phía thầy cô và bạn bè”. (Pvs, người
cha, 38 tuổi). Vì vậy, ở lứa tuổi này các bậc cha mẹ rất chú trọng vào việc GDGT cho các em.
Qua đó, chúng ta thấy rằng cha mẹ đã có nhận thức tương đối chính xác về GDGT cho các em ở
giai đoanh này. Theo các nhà tâm lý học thì độ tuổi này hay còn gọi là lứa tuổi thiếu niên là độ
tuổi khó giáo dục nhất. Do lứa tuổi này có những biến đổi về sự mất cân bằng tâm, sinh lý tậm
thời. Chính vì cha mẹ luôn chú ý giáo dục cho con ở lứa tuổi này.
Tiếp đến là độ tuổi nên GDGT ở bậc “tiểu học” có 40% người mẹ đồng ý giáo dục cho
con ở độ tuổi “tiểu học” và chiếm tỷ lệ 20% theo ý kiến người cha. Lý do mà các bậc cha mẹ đưa
ra là trẻ tuổi này tính hiếu kì, trẻ liên tục hỏi cha mẹ về hiện tượng xung quanh, nếu không có
những câu trả lời thỏa đáng, trẻ sẽ tự mình tìm hiểu, suy đoán linh tinh và tìm các kênh thông tin
sai lệch để tìm hiểu. Cũng có một số ý kiến của người mẹ cho rằng nên GDGT cho trong độ tuổi
“Tiểu hoc” vì có suy nghĩ “Giáo dục cho con ngay trong độ tuổi này vì con còn bé, cha mẹ vẫn
đang quan tâm chăm sóc, từng miếng ăn giấc ngủ nên dễ bên cạnh bảo ban, dạy dỗ con” (Pvs,
người mẹ, 35 tuổi). Đới với người cha độ tuổi “Tiểu học” là độ tuổi còn ngây dại, dễ bị lạm
dụng. Theo người cha thì nên giáo dục cho con ở độ tuổi con đang bắt đầu tiếp xúc với các hoạt
động, hành vi xã hội. Ngược lại có ý kiến của người cha lại cho rằng: “Con đang cái tuổi ăn,
tuổi chơi. Biết cái gì mà giáo dục cho con. Có giáo dục cũng bằng thừa”. (Pvn, người cha).
Hoặc cũng có thể do lo sợ về những hậu quả con có thể gặp phải nên cha và mẹ đều mẹ cho rằng
nên giáo dục giới tính cho con ngay từ khi con nhận biết được sự thay đổi cơ thể của bản thân
mình. Độ tuổi đang học THPT, có 13.3% người cha lựa chọn và người mẹ chiếm 6.7%. Mặc dù
ở độ tuổi THPT cả cha và mẹ đều ít chú trong GDGT ở độ tuổi này. Nhưng so tỷ lệ giữa cha và
mẹ thì người cha quan tâm giáo dục cho con ở độ tuổi này hơn. Đặc biệt đối với con trai. “Tôi
không nghĩ là GDGT cho con ở bậc THCS hay Tiểu học lại quan trọng hơn giai đoạn GDGT
cho con trong độ tuổi con đang học THPT. Vì sao? Vì ở độ tuổi này trẻ đang dần hoàn thiện về
bản thân và tâm lý, đây cũng là lúc trẻ rất dễ phạm sai lầm và vấp ngã dễ vướng vào những nệ
nạn xã hội nên tôi cho rằng cần thiết GDGT cho con ở độ tuổi này. Nhất là với con trai” (Pvn,
người cha). Sau khi tốt nghiệp THPT có 1 người cha lựa chọn chiếm 6.7%. Các bậc cha mẹ còn

con. Tóm lại, việc giáo dục con cái về sinh lý trong gia đình nên được bắt đầu từ tuổi ấu thơ.
Mục đích của việc giáo dục này không chỉ trang bị kiến thức, xây dựng ý thức về giới tính, tình
dục mà điều quan trọng là xây dựng những quan niệm, nhận thức đúng đắn của các con về giới
tinh, tình dục.
3.1.3 Thái độ của cha mẹ trong giáo dục giới tính cho con
Mỗi đứa trẻ đều nhận thức được sự thay đổi về cơ thể, tâm tư nguyện vọng tuổi mới lớn,
trẻ thường tò mò, thắc mắc những hiện tượng xảy ra xung quanh chúng. Nếu không có câu trả lời
thỏa đáng giải đáp các thắc mắc của chúng, không có sự hướng dẫn cụ thể giúp trẻ nhận biết
đúng vấn đề sẽ làm cho trẻ có những suy nghĩ lung tung, tự trả lời cho câu hỏi của mình, khiến
trẻ có những sai lệc trong nhận thức. Và thái độ của cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn đễn quá trình
tiếp thu và phát triển nhận thức của trẻ về giới tính.
Bảng 2: Thái độ của cha mẹ khi con hỏi về những vấn đề liên quan đến giới tính, tình dục
Mẫu: 30
Đơn vị: %
Người cha Thái độ của cha mẹ

GVHD: Trần Thanh Hương
Tần suất Tỷ lệ (%)
Lúng túng 1 6,7
Cấm đoán 6 40
Vui vẻ trả lời 1 6.7
Bực tức 4 26,6
Lảng tránh 3 20
khác 0 0
Tổng 15 100%
Người mẹ Tần suất Tỷ lệ (%)
Lúng túng 7 46,7
Cấm đoán 3 20
Vui vẻ trả lời 1 6,7
Bực tức 0 0

Ý kiến 1: (người mẹ, 42 tuổi) Không! Chuyện tế nhị, chính tôi cũng ngại nữa là Con hỏi gì thì
mình trả lời cái đó. Nhưng con hỏi về chuyện tình dục là không thích. Lúc đấy chỉ tìm cách lảng
chuyển sang chủ đề khác và cấm đoán con không nên tò mò.

Ý kiến 2: (người cha, 40 tuổi) Khi con hỏi thì thường là không biết nói với con thế nào nên
thường quát chúng và cấm đoán không cho con được phép tò mò, khi nào thấy con thật sự
muốn có câu trả lời thì lại kêu con ra hỏi mẹ. Dù biết như thế vô hình chung lại làm con có
những suy nghĩ sai lầm hoặc lãnh cảm với những chuyện mà các con rất cần được biết.
(Pvs, cha mẹ)
Nguồn: Điều tra thực tế 2014
Cha mẹ không biết rằng trẻ em thường hiếu kỳ, rất hay hỏi, biểu hiện nguyện vọng và
hứng thú mạnh để nhận biết thế giới bên ngoài.trẻ có những thay đổi về tâm sinh lý và có những
tò mò và thắc mắc về những điều mà các em chưa biết. Qua trao đổi với các em cho thấy con cái
rất muốn hỏi những thắc mắc cùng cha mẹ chúng xoay quanh các vấn đề liên quan đến những
biểu hiện về tâm sinh lý của bản thân. Thậm chí nó mượn những vấn đề của bạn chúng thông
quan đó nói lên vấn đề của mình. Tuy nhiên, tất cả những suy nghĩ của các em đều bị
“chặn”ngay từ đầu bởi những câu nói của chính cha mẹ “lo học hành đi ở đó hỏi những chuyện
vớ vẫn, đâu đâu”. Thực tế cho thấy các em tiế cận từ rất nhiều kênh thông thông tin khác nhau về
giới tính và không phân biệt được đâu là kênh chính thống và phù hợp. Cũng chính vì vậy mà trẻ
trong giai đoạn mới lớn lại tìm đến những “người bạn” khác đó chính là phim ảnh, sách báo với
nội dung không lành mạnh. Các Vì vậy, cha mẹ càng cấm đoán, càng lảng tránh thì các em càng
có xu hướng tìm hiểu, hành động ngược lại với sự cấm đoán của cha mẹ để thảo mãn sự tò mò
của mình.
Hộp 5: Phản hồi của con trước thái độ cấm đoán của cha mẹ
Những lúc ấy em vừa ngại, vừa sợ nhưng lại tò mò muốn biết câu trả lời, nhưng hỏi bố bị bố
quoát: “ai nói với mày cái gì mà mày lại hỏi mấy cái điềulinh tinh vớ vẩn ấy. Lo mà học đi”.
Em sợ quay sáng hỏi mẹ, mẹ lại méc lại bố nên không dám hỏi mẹ. Em hỏi các anh chị của em
nhưng tất cả không ai trả lời chỉ bảo: “sau này lớn lên em tự biết” thế là em tự lấy máy điện
thoại của mẹ em vào xem câu trả lời. Em toàn thấy ra hình ảnh trai, gái. Đọc mãi mà vẫn
không hiểu báo nói gì.

3.2 Nội dung giáo dục giới tính cho con của cha mẹ.
3.2.1Nội dung cha mẹ ưu tiên giáo dục giới tính cho con cái
Gia đình với tư cách là một thiết chế quan trọng trong đời sống xã hội, là môi trường xã hội
hóa đầu tiên của mỗi cá nhân. Gia đình có chức năng điều chỉnh hành vi tình dục và giới, duy trì
sự tái sinh sản từ thế hệ này sang thế hệ khác, chăm sóc bảo vệ trẻ em, đảm bảo cung cấp kinh tế
gia đình v v Trong đó việc giáo dục trẻ em năm trong quá trình xã hội hóa trẻ em là chức
năng quan trọng của gia đình. Gia đình không chỉ giáo dục cho các con lối sống, tư tưởng lành
mạnh hay đinh hướng nghề nghiệp cho con cái mà gia đình nên giáo dục cả những vấn đề liên
quan đến GDGT cho con, để trang bị cho con đầy đủ nhưng kiến thức vận dụng vào đời sống,
giúp con nhìn nhận đúng đắn vấn đề về giới tính. Trong phần này chúng tôi xin tập trung làm rõ
những nội dung mà cha mẹ lựa chọn để GDGT cho con và những nội dung cha mẹ ưu tiên GD
cho con gái và con trai. Vậy mỗi giáo dục giới tính gồm những nội dung gì? Cha mẹ tham gia
vào việc giáo dục giới tính cho con gái và con trai những nội dung gì? Cha mẹ thường tìm hiểu
những nội dung GDGT ở những nguồn nào?
Biều đồ 4: Nội dung cha mẹ giáo dục giới tính cho con
Mẫu: 30
Đơn vị: %

GVHD: Trần Thanh Hương

Nguồn: số liệu điều tra thực tế 2014
Nhìn trên biều đồ 4, ta thấy nội dung cha mẹ giáo dục cho con có tỷ lệ chọn tương đương
nhau. Cha mẹ không chỉ giáo dục một nội dung mà lựa chọn nhiều nội dung để GDGT cho con.
Nội dung cha mẹ quan tâm giáo dục đầu tiên là nội dung “sức khỏe, vệ sinh cơ thể” chiếm 23.3%
và “sự thay đổi cơ thể” chiếm 20%. Sở dĩ họ lựa chọn như vậy bởi đây là những nội dung gắn
liền với thực tế, cha mẹ có thể thường xuyên quan sát và để ý tới con hàng ngày. Một điều cũng
dễ hiểu khi không ai thể phủ nhận được tầm quan trọng và lợi ích mà sức khỏe mang lại “Có sức
khỏe là có tất cả” nếu như đứa trẻ được chăm sóc tốt. Việc chăm sóc sức khỏe, hướng dẫn cho
con cách vệ sinh cơ thể giúp cho con cái của họ có thể giảm tiểu những bệnh tật không đáng có,
phòng ngừa được bệnh tật lây nhiễm đặc biệt là các em trong độ tuổi dậy thì. Vì ở độ tuổi này

thường chú trọng nội dung “giáo dục lối sống lành mạnh” đối với cả con gái và con trai. Tuy
nhiên, so sánh tỷ lệ lựa chọn của người cha trong nội dung này thì người cha có quan tâm giáo
dục cho con trai nhiều hơn con gái (60% với con trai và với con gái là 40%). Đặc biệt là với con
trai. Lý giải điều này người cha suy nghĩ rằng: con trai có sự hiếu động mạnh mẽ hơn con gái,
thích khám phá, vì thế việc các em có những hành động bắt chước người lớn như hút thuốc, uống
rượu bia đó là những việc làm không tốt. Hiểu được tâm lý của con trai cũng như xuất phát từ
những kinh nghiệm của bản thân người cha nên người cha thường quan tâm giáo dục cho con trai
nhiều hơn đến vấn đề này, giáo dục nhân cách, lối sống giúp em tránh xa các tệ nạn xã hội, có
thái độ sống đúng đắn. Bên cạnh đó, sẽ giúp cho con những kỹ năng sống cần thiết khi bước vào
đời. “Cùng nam giới nên tôi hiểu được tâm lý của con bây giờ, thích thể hiện, tỏ ra mình biết
hiều, muốn bằng người khác không để ai xem thường mình. Đi ra đường bực mình với thái độ
không trào hỏi của tụi nhỏ thì chớ lại còn nhìn thấy mấy quả đầu xanh, đầu đỏ mà rầu lòng. Vì
sợ con mình không biết nhận thức được đúng – sai của mọi sự việc nên tôi rất quan tâm đến nội
dung này” (Pvs, người cha 38 tuổi).
Hộp 6: Phản hồi của con cái về nội dung GDGT cha mẹ
Em cũng lớn rồi nên cha mẹ cũng không trao đổi nhiều. Bình thường ở nhà thì cha mẹ cũng
chỉ bảo tập trung học hành, không được chơi bời, học đòi những cái xấu. Phải lẽ phép chào
hỏi, tôn trong người khác. Phải ý thức được việc mình làm. Không làm ảnh hưởng đến người
khác. Các mối quan hệ phải rõ ràng.
(Pvs, con cái, 16 tuổi)
Sự phản hồi của con cho thấy người cha rất đề cao đến những giá trị đạo đức, những nội dung
thuộc về truyền thống. Đặc biệt, khi tham gia vào giáo dục cho con trai những người cha đều
quan tâm đến hai nội dung “các bệnh lây truyền” (40% ) và “tình dục, hệ lụy của tình dục”
(người cha là 47%). Họ cho rằng đối với con trai thì cần phải giáo dục thêm những nội dung này
vì con trai thường có xu hướng thể hiện qua hành động nhiều hơn con gái. Tính khí của đàn ông
luôn phóng khoáng và tùy tiện là điều mà cha mẹ luôn phải chú ý giáo dục. “Tôi có con trai năm
nay chuẩn bị bước sang lớp 12 nên không yên tâm lắm. Chẳng cần nói cũng biết xã hội bây giờ
nổi lên đầy rẫy những hiện tượng học sinh lớp cấp 1 bé tí ti đã biết viết thư tình yêu nhau, cấp 2,
cấp 3 yêu đương quan hệ cứ ầm ầm làm con người ta có thai. Mình có con trai mình phải giáo
dục con hiểu được rõ việc con mình có thể làm và có thể để lại hậu quả gì?. Vì con trai chúng

thức nơi học đường, các bà mẹ còn quan tâm hướng dẫn cho con cái mình những nội dung về
giới tính. Vậy, những nội dung đó được người mẹ thể hiện thế nào?
Biều đồ 6: Nội dung người mẹ lựa chọn GDGT cho con gái và con trai
Mẫu: 30
Đơn vị: % Nguồn: Số liệu điều tra thực tế 2014

GVHD: Trần Thanh Hương
Đối với người mẹ nội dung giáo dục giới tính cho cả con trai và con gái được thực hện giáo
dục khá đồng đều, không có sự chênh lệch giữa những nội dung người mẹ giáo dục cho con trai
và con gái. Các nội dung người mẹ giáo dục thường xuyên cho hai con như “sức khỏe & vệ sinh
cơ thể”, “tâm lý tuổi dậy thì” và nội dung “tình bạn, tình yêu” và “lối sống lành mạnh” được mẹ
giáo dục cho cả con trai và con gái với tỷ lệ cao. Nhóm người mẹ cho rằng con gái và con trai
đều cần thiết nội dung này như nhau. Cũng giống như người cha, trong nội dung “Tinh dục, hệ
lụy của tinh dục và các bệnh lây truyền người mẹ có cùng ý kiến với người cha là cần chú trọng
nội dung này hơn đối với con trai. Nhưng thực tế cho thấy, nội dung này rất cần thiết cho con cả
hai giới. Điều này được chứng minh là những năm gần đây có rất nhiều trường hợp bị cư‹ng
hiếp, lạm dụng tình dục. Không chỉ vậy mà ở lứa tuổi thanh thiếu niên bây giờ cũng rất chủ động
trong chuyện quan hệ tình dục. “Ở địa phương nói chung là về nếp sống, văn hóa đánh giá
chung là tốt. Tuy nhiên, vẫn còn có một vài trường hợp học sinh 15 tuổi đã có con. Gần đây có
một trường hợp khiến cả thôn đứng người là nữ sinh lớp 11 bị bắt vì là gái bao cao cấp”. (Pvs,
Hội phó hội phụ nữ). Chính điều này đã khiến nhiều người cha mẹ giật mình và tác động vào số
ít (20%) nhận thức của người mẹ là phải cần thiết giáo dục con ở nội dung “Hôn nhận và sứ khỏe
sinh sản”. Để tránh những hậu quả do thiếu hiểu biết về kiến thức giới tính và sưc khỏe sinh sản.
Nhưng lại chỉ dừng lại ở việc giáo dục cho mỗi đối tượng là con gái. Một số ý kiến lại cho rằng
giáo dục nội dung này là quá sớm so với tuổi của con cái họ. Thậm chí có trường hợp con đã lập
gia đình và chuẩn bị sinh con (ở tuổi 16) nhưng họ vẫn không giáo dục cho con vì họ nghĩ con
cái bây giờ còn biết nhiều hơn họ nghĩ. “Biết cái gì đâu mà nói cháu, giới trẻ bây giờ nó biết

thường là những lời “đe dọa” xuông. Chỉ đến khi có thai hoặc nhiễm bệnh lây lan qua đường
tình dục, họ mới hốt hoảng chữa cháy. Kéo theo là rất nhiều hệ lụy không mong muốn, cho
không chỉ cá nhân họ mà còn ảnh hưởng đến gia đình, xã hội.
(Pvs, hội phó hộ phụ nữ xã).
Qua kết quả nghiên cứu thực địa tại địa bàn nghiên cứu của chúng tôi, càng những hình
thức thể hiện rõ giáo dục giới tính như hôn nhận - sức khỏe sinh sản, quan hệ tình dục và những
hệ lụy tình dục, đặc biệt là nội dung hết sức thực tế như giáo dục sự khác biệt giữa Nam và Nữ
cho con thì cha mẹ lại có xu hướng ít quan tâm hơn. Mặc dù đây là nỗi lo chung của rất nhiều
cha mẹ. Các bậc phụ huynh cho rằng giáo dục giới tính đơn thuần chỉ là giáo dục về tâm sinh lý
tuổi dậy thì, sức khỏe – vệ sinh cơ thể, sự phát triển cơ thể của hai giới. Trong khi những thông
tin về các vụ lạm dụng tình dục, những vụ có thai ngoài ý muốn của học sinh, sinh viên trong
thời gian gần đây làm chúng ta không khỏi lo lắng trước thực trạng thiếu hiểu biết về sức khỏe
sinh sản của các em. Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2012 của hội kế hoạch hóa gia đình
Việt Nam, trung bình mỗi năm có khoảng 300 000 ca phá thai không an toàn tuổi từ 15-19,
chiếm 40% các ca nạo phá thai nói chung trong đó có khoảng 60-70% là học sinh, sinh viên.
(Quỹ Dân số Liên hợp quốc – UNFPA – 2012). Vì vậy nên, việc lựa chọn nội dung giáo dục của
cha mẹ chịu ảnh hưởng từ nhận thức của chính họ.
Nhìn chung, trong gia đình hiên nay thì cả cha và mẹ đều đã tham gia vào GDGT cho
con, trách nhiệm tham gia vào giáo dục, chăm sóc con không còn là trách nhiệm riêng của người
mẹ. Nội dung mà người cha và người mẹ giáo dục cho con cái là khác nhau, nhưng họ đều mong
muốn cho con mình phát triển một cách toàn diện, có các mối quan hệ tình bạn, tình yêu lành
mạnh và hướng dẫn cho con biết vai trò của mình để các con có một lối sống lành mạnh tránh xa
các tệ nạn xã hội, làm một công dân có ích. Tuy nhiên, những hình thức giáo dục này còn chưa
thể hiện rõ nội dung GDGT. Nội dung kiến thức còn sơ sài, tập trung chủ yếu ở những nội dung
có tính chất tâm lý, sinh lý cơ thể. Các nội dung thể hiện rõ hình thứ GDGT thì cha mẹ lại có xu
hướng ít đề cập tới. Trong tư tưởng vẫn còn trường hợp ngại giáo dục, chưa mạnh dặn đưa
những nội dung mình mong muốn vào giáo dục cho con vì nhiều lý do nêu trên. Mặt khác cũng
có thể do chịu ảnh hưởng từ xã hội truyền thống vấn đề giới tính, tình dục căn bản là vấn đề tế
nhị, thầm kín, mặt khác có thể do cha mẹ có kiến thức hạn chế về các vấn đề giới tính nên việc
giáo dục giới tính ở gia đình học sinh gần như chưa được thực hiện. Bởi đa số cha, mẹ học sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status