Tâm lý học lao động PGS TS Võ Hưng - Pdf 24

0

|
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA GIÁO DỤC HỌC

trình hoạt động dưới tác động của điều kiện lao động. Lao động
là một trong những nhu cầu cơ bản của con người. Trong bối
cảnh tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ như ở nước ta, tính chất lao
động biến đổi rất nhanh theo mức độ phát triển của khoa học
công nghệ, ngành nghề phát triển rất phong phú và đa dạng.
Người lao động không những chòu đựng mức độ ô nhiễm nặng nềâ
từ môi trường tự nhiên mà còn phải chòu nhiều áp lực không nhỏ
của môi trường xã hội. Tuy nhiên, bản chất của con người Việt
Nam là luôn luôn phấn đấu vượt qua mọi thử thách để làm chủ
bản thân, làm chủ đất nước, xây dựng một xã hội Việt Nam hòa
bình, công bằng, dân chủ và văn minh. Tâm lí học lao động cầøn
nghiên cứu những diễn biến tâm lí của người Việât Nam trong
quá trình lao động xây dựng đất nước nhằm góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống mà trước hết và quan trọng hơn hết là về
mặt tinh thần, tâm lí của người lao động. Muốn vậy điều cần làm
trước tiên là bằêng nhiều cách phổ biến rộng rãi những hiểu biết
về tâm lí học nói chung và tâm lí học lao động nói riêng.
Giáo trình này biên soạn cho sinh viên Khoa Giáo dục học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc
gia TP HCM trước hết cũng nhằm mục tiêu đó. Vì đối tượng
phục vụ chủ yếu của sinh viên Khoa Giáo dục học sau này là
ngành giáo dục đào tạo cho nên giáo trình chỉ tập trung vào phần
tâm lí học lao động chung mà không đi sâu vào tâm lí học kó
thuật vốn là một chuyên đề mang nặng tính kó thuật và điều
khiển học.
Giáo trình có ba phần:
Phần I: Giới thiệu một số vấn đề khái quát về tâm lí học
lao động;
Phần II: Phân tích những tính chất đặc trưng của hoạt động
lao động, những yếu tố tác động tới con người lao động về mặt

thành cảm ơn.

Nhóm tác giả 6

Marx viết: "Lao động là quá trình diễn ra giữa con người với
môi trường. Con người làm trung gian, tiêu biểu và kiểm tra cuộc vận
động trao đổi chất của thiên nhiên".
Hoạt động lao động ngày nay có những đặc điểm cơ bản như sau:
1. Lao động luôn mang tính tập thể, tính xãõï hội. Không ai có thể
tự mình làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh. Sự phân công lao động xã
hội đã hình thành từ rất xa xưa, từ khi xuất hiện hình thái kinh tế nông
nghiệp, khi có những người chuyên trồng trọt và có những người
chuyên sản xuất công cụ sản xuất và chế biến lương thực. Sự phân
công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc.
Mỗi người, mỗi nhóm người chỉ được phân công thực hiện một số
công đoạn nhất đònh của quá trình hoàn thành sản phẩm. Sự phân hóa
càng sâu sắc thì sự phối hợp giữa các bộ phận càng phải chặt chẽ hơn
nhằm đảm bảo tính thống nhất của quá trình sản xuất, tính chỉnh thể
của sản phẩm. Trong xu thế toàn cầu hóa, sự phân công lao động xã
hội không dừng lại trong một lãnh thổ, một quốc gia mà còn có thể
thực hiện quá trình sản xuấr ra một sản phẩm tại nhiều nước khác
nhau. Tính xã hội của lao động còn mở rộng ra trên phạm vi toàn thế
giới. Sự tùy thuộc nhau về nguồn lực, về tài nguyên, về công nghệ
giữa các lãnh thổ, các quốc gia khiến cho sự chuyên môn hóa dựa trên
những ưu thế riêng càng trở nên cần thiết hơn. Cũng từ đó quá trình
hội nhâp quốc tế của các nước, đặc biệt của các nước đang phát triển,
đã trở thành một xu thế tất yếu, nếu không muốn tụt hậu (Những vấn
đề này được đề cập rất nhiều trong môn học Kinh tế lao động).
2. Lao động là hoạt động luôn đi kèm với công cụ. Từ sản xuất
thủ công đến bán cơ khí rồi cơ khí, bán tự động rồi tự động hóa hoàn
toàn, sự phát triển của công cụ, máy móc, thiết bò, của lực lượng sản xuất
nói chung là yếu tố cực kì quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển nền kinh tế của xã hội, trên từng lãnh thổ, từøng quốc gia và cả trên
toàn thế giới. Mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và máy

có chi phí dự trữ cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng, cũng là góp phần
chung cho xã hội phát triển. Thành phần thứ ba cần được hưởng lợi là
xã hội, nói rõ hơn là ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước nhằm
đảm bảo trả công cho mọi nguồn lực hoạt động xã hội bao gồm cơ sở
hạ tầng, hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa và nhất là quốc phòng.
Nguồn ngân sách đó không gì khác hơn là nguồn thu từ hai thành phần
nói trên mà thông thường gọi là thuế - thuế thu nhập của mọi người
lao động. Có lương, có thu nhập thì phải đóng thuế thu nhập. Có nhiều
đóng nhiều, có ít đóng ít. Đó là nghóa vụ cũng là quyền lợi tinh thần
cao quý của mọi công dân. Phần thu ngân sách chủ yếu còn là các
loại thuế khác mà người tham gia những hoạt động sản xuất, dòch vụ
khác phải làm nghóa vụ đối với nhà nước. Ngân sách nhà nước lớùn hay
nhỏ phụ thuộc vào khả năng điều tiết của cơ quan công quyền. Ngân
sách nhà nước ngày một lớn thì cuộc sống của người dân ngày một tốt
đẹp hơn. Dân có giàu nhưng nhà nước có điều tiết giỏi thì nước mới
mạnh. Đó chính là lý tưởng xã hội chủ nghóa mà chúng ta hằng theo
đuổi. Marx cũng viết "lao động là loại hoạt động có mục đích tạo ra
giá trò sử dụng". Lao động cũng vì thế là một trong những quyền lợi cơ
bản của con người. Lao động tạo nên của cải đáp ứng nhu cầu mọi
mặt của con người. Bằng lao động con người xây đắp nên xã hội, tạo
nên sản phẩm văn hóa đểâ rồi qua xã hội văn hóa con người ngày một
phát triển về thể chất và tâm hồn.
Về thể chất, lao động là hình thức hoạt động của các chức năng
cơ thể. Về tinh thần, lao động bộc lộ những nét tiêu biểu của tâm lí
như tính tích cực, tính tập thể, xã hội, tính mục đích…
Lao động xã hội là lao động tập thể với sự góp sức, phối hợp của
nhiều người, nhiều nhóm người. Trong các nhóm người lao động luôn có
sự giao lưu giữa các thành viên và tác động lẫn nhau tạo ra hiện tượng
tâm lý phong phú và đa dạng.
Các tập thể lao động được hình thành từ các nhân tố chủ quan và

điều chỉnh mọi hoạt động lao động tập thể.
Nhân tố khách quan có thể kể ra:
Trình độ phát triển lực lượng sản xuất. Đặc trưng của hoạt động
lao động của con người (khác với hoạt động kiếm ăn của con vật) là
sự sáng tạo và phát triển công cụ lao động. Sự phát triển của bản thân
con người cùng với sự hoàn thiện liên tục công cụ sản xuất là một quá
trình lao động phong phú, đa dạng. Sư phân công lao động càng sâu
đòi hỏi sự nỗ lực bản thân càng nhiều, sự phối hợp càng chặt chẽ.
Phân công lao động càng sâu thì quan hệ càng phức tạp, sự điều hoà
phối hợp càng khó khăn hơn.
Nhu cầu chung của xã hội xã hội chủ nghóa. Chủ nghóa xã hội đòi hỏi
mọi hoạt động tổ chức giáo dục, kinh tế, xã hội v. v. . phải tập trung vào
việc tạo ra cơ sở vật chất ngày càng hoàn thiện cho chủ nghóa xã hội và
hoàn thiện mối quan hệ xã hội và cho con người xã hội chủ nghóa.
Thời gian thực hiện. Mức thời gian là một yếu tố tổ chức sản
xuất, là căn cứ quan trọng để đặt kế hoạch phối hợp các quá trình, các
loại hình lao động.
Trình độ tổ chức của một tập thể lao động, thể hiện ở việc sử
dụng thời gian hợp lý, trong việc phân chia trách nhiệm rạch ròi.
Các nhân tố chủ quan và khách quan cộng lại tạo nên một chỉnh
thể xã hội lao động mà đặc điểm của nó được xác đònh bởi đặc điểm
của quan hệ sản xuất thống trò và nhiệm vụ mà nó phải thực hiện
trong mục tiêu đònh sẵn.
II. KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG
2.1 Quan niệm
Lao động là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
khác nhau. Riêng tâm lý học lao động quan tâm đến sự hình thành đặc
điểm tâm lý trên cơ sở sinh lý lao động, quan tâm đến sự thống nhất
giữa hoạt động thể chất (sức mạnh cơ sinh ) và tinh thần (tư duy và ý
chí, cảm xúc…).

- Tâm lý học về nhân cách trong lao động đang là hướng nghiên
cứu chủ đạo.
- Đònh hướng tuyển chọn đào tạo nghề nghiệp như một phương
hướng hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả lao động xã hội.
- Hợp lý hóa lao động đang chuyển thành ngành khoa học độc lập
với những thuật ngữ khác nhau nhưng nội hàm thì tương tự nhau như
ecgônômi, khoa học kó thuật lao động, kó thuật sinh học lao động .
Theo hướng thứ nhất, Múnsterberg cho rằng việc tuyển chọn
nghề nghiệp nhằêm tạo thuận lợi cho sự thích ứng giữa con người với
điều kiện lao động. Đó là một yêu cầu không thể thiếu được của việc
nâng cao năng suất lao động. Là một trong những người đầu tiên đi
vào tâm lí học lao động, Múnsterberg đã tuyển chọn và đào tạo được
những người lao động tốt để tiến hành lao động trong điều kiện tốt và
qua đó đạt được năng suất cao. Các kó thuật tuyển chọn kiểm tra của
ông được phổ biến rộng trong thời gian chiến tranh thế giới lần I phục
vụ cho việc xây dựng quân đội. Sau này các nước phương Tây và Liên
Xô cũng ứùng dụng những chương trình hướng nghiệp, tuyển chọn để
đào tạo nhân lực cho công nghiệp và quốc phòng.
Trong những năm từ 1915 đến 1926, hàng loạt phòng tư vấn
hướng nghiệp được thành lập ở các nước châu Âu. Đặc biệt ở Anh
quốc đã thành lập Hội đồng quốc gia nghiên cứu về hướng nghiệp.
Taylor là người đầu tiên nghiên cứu hợp lý hóa lao động từ cuối thế
kỷ 19. "Phương pháp Taylor" (Phân chia các thao tác lao động thành
nhiều động tác nhỏ, tìm cách loại trừ những động tác không hợp lý,
động tác thừa, nhằm nâng cao hiệu suất lao động) được phổ biến rộng
rãi ở châu Mỹ, châu Âu và ngày nay vẫn còn ứng dụng trong nghiên
cứu tổ chức lao động khoa học.
Kỹ sư Gilbreth và vợ đã sử dụng một số kỹ thuật phân tích lao
động như chụp ảnh, quay phim, bấm giờ các thao tác lao động và đã
tìm ra 17 động tác phổ biến nhất thời bấy giờ. Xêtrenov, một nhà sinh

tảng khơng thể thiếu được trong cơng tác quản lý xã hội. Vào thập kỷ 60
của thế kỷ trước, cùng với sự xuất hiện của mơn ecgônômi, các hướng
nghiên cứu tâm lý học lao động cũng quan tâm đến đặc điểm " con người -
máy móc – mơi trường" mà ba thành phần đó ln gắn chặt với nhau, ảnh
hưởng lẫn nhau với vai trò trung tâm là con người.
Các hướng nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn của tâm lý học
lao động đều đã và đang phục vụ cho mục tiêu nâng cao hiệu suất lao
động, bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần cho người lao động.
Ở Việt Nam mãi cho đến đầu những năm 60, khoa học tâm lý hầu
như chỉ biết đến ở các trường đại học sư phạm, ở viện Nghiên cứu giáo
dục mà đối tượng nghiên cứu chủ yếu là lứa tuổi vị thành niên.
Ở miền Nam, trước ngày thống nhất đất nước, ngoài tâm lý học
giáo dục, có một số công bố về tâm lý học xã hội, tâm lý học chẩn
đoán. Tuy nhiên rất nhiều công trình thực chất chỉ là biên dòch tài liệu
nước ngoài. Sau ngày giải phóng miền Bắc, với việc thành lập Bộ
môn Sinh lý học ở Trường Đại học Y khoa Hà Nội, Viện Nghiên cứu
Y học lao động, nhiều công trình nghiên cứu về sinh lý lao động làm
tiền đề cho việc tiếp cận với tâm lý học lao động đã được công bố
(Bùi Thụ, Pham Quý Soạn, Ngô Thế Phương, Nguyễn Quang Quyền,
Nguyễn Đình Khoa, Võ Hưng…). Cuốn "Hằng số sinh học người Việt
Nam" do GS Nguyễn Tấn Di Trọng làm chủ biên là cuốn sách gối đầu
giường của các nhà nghiên cứu sinh học, tâm lý học Việt Nam (trước hết
là tâm lý học giáo dục và tâm lý học lao động). Nhiều công trình nghiên
cứu về điều kiện lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp tại các
xí nghiệp được công bố. Sau ngày giải phóng đất nước, Viện Nghiên cứu
khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động phối hợp cùng bộ môn Nhân học,
Trường Đại học Tổng hợp, bộ môn Giải phẫu Trường Đại học Y khoa đã
tổ chức đo đạc trên hàng chục ngàn người Việt Nam trong tuổi lao động ở
khắp ba miền đất nước và lần lượt ba tập "Atlat nhân trắc người Việt
Nam trong lứa tuổi lao động" (Võ Hưng và Nguyễn Đức Hồng chủ biên)

vốn có. Bước vào giai đoạn phát triển mới khi Việt Nam là thành viên
của WTO, những u cầu nghiên cứu về đổi mới tư duy, về xu hướng
phát triển tinh thần tâm lý của người Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao
giờ hết, đòi hỏi Tâm lý học lao động phải có một ví trí xứng đáng trong
các chiến lược phát triển quốc gia.
III. QUAN HỆ VỚI CÁC NGÀNH KHÁC
Như đã biết, hoạt động lao động là đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khác nhau, trong đó có những ngành gần gũi hơn cả là sinh lí học
và ecgônômi, tâm lí học đại cương và tâm lý học phát triển.
3.1. Với Sinh lý học và Ecgônômi
Cơ sở vật chất của các hoạt động tâm lý là các hoạt động của
các chức năng, đặc biệt là cơ chế thần kinh. Mọi biểu hiện tâm lý đều
có liên hệ chặt chẽ với quá trình hưng phấn và ức chế, quá trình điều
hòa thần kinh - thể dòch. Suy cho cùng mọi biểu hiện tâm lý đều là
những đáp ứng phản xạ khôngđđiều kiện và có điều kiện. Những biểu
hiện tâm lý trong hoạt động lao động cũng không có cơ sở nào khác
hơn. Những quy luật tâm lý học trong hoạt động lao động cũng chỉ
được hình thành từ những quy luật hoạt động thần kinh cấp cao.
Một trong những khoa học liên ngành (hình thành ngày càng nhiều)
là ecgônômi vận dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau mà
trước hết là cơ-sinh học và tâm lý học để nghiên cứu khoa học lao động
nhằm góp phần nâng cao năng suất lao động, bảo vệ sức khỏe cho người
lao động và đặc biệt đáp ứng sự tiện nghi cho người sử dụng sản phẩm.
Yêu cầu tâm lý là rất quan trọng trong thời đại công nghiệp hiện nay, đặc
biệt góp phần quan trọng phòng ngừa stress.
3.2. Với Tâm lý học đại cương và Tâm lý học phát triển
Tâm lý học lao động là một chuyên ngành của tâm lý học. Dựa
trên những nguyên lý cơ bản của tâm lý học đại cương, những quy luật
về nhận thức để chi tiết hóa, cụ thể hóa vào đối tượng nghiên cứu là
hoạt động lao động. Tâm lý học lao động cũng vận dụng những

Những vấn đề mới đặt ra trong xu thế thời đại buộc ngành tâm
lý học lao động cũng phải phát triển hướng tới nghiên cứu hoạt động
lao động của con người trong hệ thống mới "Con người - máy móc và
môi trường", tiến tới hình thành một chuyên ngành mới là tâm lý học
kó thuật - công nghiệp.
IV. ĐỐI TƯNG - PHƯƠNG PHÁP
4.1 Đối tượng - Nhiệm vụ
Trong mọi hoạt động lao động, đặc biệt là trong công cuộc công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, con người luôn luôn được đặt vào vò
trí trung tâm. Mọi ngành khoa học về con người, trong đó có tâm lý
học lao động đều phải hướng tới mục tiêu vì con người, cho con người.
Vì vậy đối tượng của tâm lý học lao động là những vấn đề tâm lý con
người với tư cách là người lao động, hoạt động trong mối quan hệ với
công cụ thiết bò máy móc và môi trường - môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội.
Nhiệm vụ của tâm lý học lao động là nghiên cứu áp dụng những
quy luật tâm lý học vào việc giải thích những hành động của con
người lao động, góp phần đặt ra giải pháp nhằm tạo sự hòa hợp giữa
con người với thiết bò, máy móc và môi trường.
Bằng việc xây dựng hệ thống tri thức và hành động của con
người trong lao động, người nghiên cứu tâm lý học lao động phải quan
sát, mô tả giải thích hành động của con người lao động, nhằm thay đổi
phương thức hành động để phù hợp với mục đích đặt ra và ngày càng
hoàn thiện hành động của họ để lao động ngày một hiệu quả hơn và
qua đó góp phần hoàn thiện nhân cách người lao động.
Tâm lý học lao động phân tích các hành động của người lao
động (từ những cử động, đến động tác, thao tác) trong khi thực thi
những trách nhiệm được phân công; phát hiện những yêu cầu chức
năng tâm lý trong quá trình lao động; phát hiện những khả năng và
giới hạn về sinh lý, tâm lý của con người; tìm mức độ hợp lý và tối ưu

4.2.2. Tiếp cận tập thể - xã hội
Đó là xem xét những biểu hiện tâm lý của cá nhân dưới khuôn
đúc của tập thể - xã hội; xem xét sự hình thành nhân cách lao động
trong quá trình lao động tập thể - xã hội để trở lại góp sức vào sự
hoàn thiện nhân cách lao động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Về thực tiễn, lao động là một loại hoạt động xã hội,
lao động tập thể, theo sự phân công xã hội. Mỗi cá nhân lao động đều
nằm trong sự chi phối của tập thể. Thành quả lao động tập thể không
chỉ đơn thuần là phép cộng của thành tích cá nhân mà chủ yếu là sự
phối hợp đồng bộ của từng cá nhân, từng nhóm nhỏ trong một đơn vò
hoạt động
4.2.3. Tiếp cận kỹ thuật – công nghệâ
Lao động là loại hoạt động gắn liền với công cụ và biến đổi
theo nhòp độ phát triển của thiết bò, công cụ, nhòp độ của sự phát triển
kó thuật công nghệ. Lao động thủ công dần dần được thay thế bằng lao
động cơ khí, bán tự động và tự động hóa. Tính chất lao động nghề
nghiệp thay đổi nhanh chóng theo đà phát triển đổi mớùi của công
nghệ. Tổ chức lao động biến đổi nhanh chóng để đáp ứng kòp thời với
yêu cầu của kó thuật, thiết bò. Con người ngày càng gắn chặt hơn với
thiết bò kó thuật và môi trường. Sự đổi mới về khoa học kó thuật công
nghệ lại đòi hỏi sự đổi mới kòp thời về trình độ kó thuật, tay nghề, đòi
hỏi những yêu cầu cao về năng lực trí tuệ và mức độ căng thẳng về
tâm lý lao động. Trong công nghiệp hiện đại người lao động phải chòu
đựng nhiều gánh nặng tâm lý mới, chưa hề có trước đây. Sự xuất hiện
những stress mới liên quan đến tính chất nghề nghiệp mới, tác động
không nhỏ đến sức khỏe tinh thần và thể lực của người lao động.
Tiếp cận kó thuật công nghệ học là xem xét những sự biến đổi
tâm lý cá nhân và tập thể lao động trong mối quan hệ chặt chẽ của hệ
thống "con người - thiết bò công cụ - môi trường" mà con người luôn
luôn chiếm vò trí trung tâm.

nhớ rằng những tư liệu sưu tầm được không phải lúc nào cũng đầy đủ
và không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Cố gắng phát hiện những sơ
hở để sau này có thể đào sâu nghiên cứu.
4.3.2. Điều tra
Điều tra là phương pháp cần thiết để thu thập thông tin về các đối
tượng ngiên cứu của mình. Có thể điều tra bằng phương pháp phỏng vấn
trực tiếp những người, những nhân vật có nhiều hiểu biết, có vai trò nhất
đònh trong hệ thống sản xuất. Có thể dùng câu hỏi soạn sẵn cho họ trả lời
bằng cách đánh dấu, cũng có thể đặt ra những vấn đề cần đi sâu để yêu
cầu những người này cho biết ý kiến (phỏng vấn sâu). Ngày nay người ta
thường sử dụng phương pháp phỏng vấn theo nhóm, yêu cầu nhóm thảo
luận rồi cho biết ý kiến chung của nhóm. Cũng có thể đưa bảng câu hỏi
cho một số lớn đối tượng sản xuất để họ tự đánh dấu vào các câu hỏi, rồi
thu lại các bảng hỏi mang về phân tích.
4.3.3. Phân tích
Những dẫn liệu điều tra cần được phân tích kỹ bằng các phương
pháp thống kê xã hội học (hiện nay có nhiều phần mềm xử lý số liệu
điều tra rất hiện đại và dễ dàng sử dụng). Điều quan trọng là qua số
liệu điều tra được nhận biết thực trạng của tình hình hoạt động lao
động của các đối tượng điều tra, phát hiện những mối tương quan của
các sự kiện, các hiện tượng tâm lý từ đó mà phát hiện những yếu tố
tâm lý chủ yếu tác động đến hiệu quả lao động, cũng từ đó phát hiện
những nguyên nhân và hậu quả của các hiện tượng tâm lý có ảnh
hưởng đến người lao động, tập thể lao động và những vấn đề về tổ
chức, chính sách lao động. Có thể sử dụng một số trắc nghiệm đơn
giản để đánh giá khả năng lao động, mức độ mệt mỏi và những nguy
cơ dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Đây cũng là lúc so
sánh đối chiếu với những dẫn liệu tìm được trong quá trình hồi cứu.

4.3.4. Quan sát, mô tả

25động để đối tượng thực nghiệm có thể tiến hành những thao tác theo
yêu cầu. Qua thực nghiệm có thể thu được các biến số độc lập nhằm
để nghiên cứu các khả năng và hạn chế trong quá trình nhận thức
(cảm giác, tri giác) cũng như các phản ứng qua thái độ và hành động
của người thực nghiệm. Ngoài ra cũng có thể thu được những biến số
phụ thuộc dưới tác động của các biến số độc lập nói trên và qua đó có
thể đánh giá được ý nghóa của các biến số độc lập.
Cần lưu ý kết quả thực nghiệm trong phòng thí nghiệm không
phải lúc nào cũng có thể ứng dụng ngay một cách rộng rãi trong thực
tiễn lao động. Vì vậy trước khi ứng dụng rộng rãi các kết quả đã thu
được trong phòng thí nghiệm cần phải trải qua một bước thực nghiệm
trên quy mô hạn chế để kiểm tra tính khả thi của những kết luận từ
phòng thí nghiệm.

Phần 1 :
* Câu hỏi ôn tập
1. Hãy giải thích các ính chất chủ yếu của lao động này nay và
những diễn biến tâm lý có thể xảy ra.
2. Hãy giải thích ý nghóa và cơ sở của những phương pháp tiếp
cận chủ yếu.
* Tài liệu tham khảo :
1. Kim Thò Dung, Nguyễn Ánh Hồng. Đề cương bài giảng Tâm lý
học đại cương, NXB ĐHQG.TPHCM, 1997.
2. Phạm Tất Dong. Tâm lý học lao động. Tập bài giảng lớp cao
học-Viện Khoa học giáo dục, 1997.
3. Nguyễn Văn Lê. Khoa học lao động. NXB Lao động, 1995.
4. Nguyễn Ngọc Nga. Thực hành Y học lao động. NXB Y học,

PHÂN TÍCH LAO ĐỘNG
PHÂN TÍCH LAO ĐỘNGPHÂN TÍCH LAO ĐỘNG
PHÂN TÍCH LAO ĐỘNG I. MỤC ĐÍCH
Phân tích lao động nhằm những mục đích cụ thể khác nhau tùy
theo mục đích của công trình nghiên cứu. Tuy nhiên phân tích lao
động trong tâm lý học lao động thường nhằm các mục đích sau:
1. Mô tả hoạt động lao động trên khía cạnh tâm lý (cảm giác,
tri giác, trí tuệ…) dưới tác động của các yếu tố môi trường, của thiết bò,
máy móc cũng như các yếu tố về tổ chức lao động.
2. Qua mô tả hoạt động lao động điều quan trọng là giải thích
được các hành động, sự tác động qua lại của các hành động, nguyên
nhân và cơ chế gây ra những hành động đó.
Trước hết là phải đề cập đến các cách phân loại lao động
1.1. Phân loại lao động
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nội dung và
tính chất của lao động không ngừng biến đổi, ngày càng phong phú,
phức tạp hơn và luôn luôn đổi mới cùng với sự tiến bộ của khoa học -
kỹ thuật – công nghệ. Theo đó nghề nghiệp, chức danh lao động và
công việc cũng ngày một nhiềâu hơn. Ở mỗi thời kỳ và mỗi nước có
một số công việc, nghề nghiệp chiếm tỷ lệ ưu thế khác nhau.
Lao động là một quá trình hoạt động nhằm tạo sự thích ứng của
xã hội loài người với thế giới xung quanh để tồn tại và phát triển. Do
tính chất lao động không ngừng biến đổi mà phân loại lao động
thường chỉ có giá trò lòch sử, chỉ là bức ảnh của một giai đoạn phát
triển nên không thể có một sự phân loại lao động vónh cửu.
* Cách phân loại xưa nhất là chia ra lao động chân tay và lao
động trí óc. Sự thực thì bất cứ loại lao động nào cũng đòi hỏi cả hai

- Lao động điều khiển các thiết bò tư động, không lắp ráp và sửa
chữa, trình độ lành nghề trung bình;
- Lao độâng lành nghề bằng tay, đòi hỏi đào tạo chuyên môn sâu
như các nghệ nhân truyền thống;
- Lao động điều khiển và sửa chữa các hệ thống thiết bò tự động.
Sựï phân chia này tuy có phần chi tiếât nhưng vẫn chủ yếu là dựa
vào kỹ năng thao tác mà bỏ quên các kó năng khác như sáng tạo nghệ
thuật, thiết kế…
* Dựa vào yêu cầu tâm sinh lí, nhà tâm lí học Titô phân chia
lao động thành bốn nhóm:
- Nhóm đặc trưng cho tính chất đột biến, bất ngờ của thao tác
lao động;
- Nhóm đặc trưng bởi tình huống lao động được lặp lại thường xuyên;
- Nhóm lao động không có yêu cầu đặc biệt đối với chất lượng
tâm sinh lý của con người;
- Nhóm lao động không đòi hỏi đào tạo chuyên môn, nhóm lao
động phổ thông.
* Dựa trên yêu cầu trí tuệ, một số nhà khoa học Mỹ lại chia ra
nhóm có yêu cầu thấp, trung bình và cao.
* Theo theo mức độ chú ý tập trung và dòch chuyển (theo một số
nhà khoa học Ba Lan).
* Khuynh hướng ngày nay là chia lao động thành ba nhóm gồm:
- Nhóm chủ yếu sử dụng thể lực;
- Nhóm lao động có mật độ (nhòp điệu và cường độ) rất cao;
- Nhóm lao động hiện đại (trong hệ thống tự động hóa cao).
Hiện tại có rất nhiều bảng phân loại lao động khác nhau chủ
yếu là xuất phát từ sự khác nhau trong cách đặt vấn đề, khác nhau về
mục đích và tính khả thi trong thực tiễn.
1.2. Đặc trưng của lao động - một hình thức vận động
1.2.1. Lực cơ

45-50 giây/cử động (Người Việt Nam chưa có số liệu).
1.2.4. Phối hợp chuyển động
Thông thường được thực hiện theo nguyên tắc cùng hoạt động
nhưng khác hướng nhau cả tay lẫn chân và được theo dõi, điều chỉnh
bằng mắt.
1.2.5. Yêu cầu tâm lý của công việc
Để hoàn thành bất kỳ công việc gì con người đều phải trải qua
đầy đủ các khâu: Phát tín hiệu - tiếp nhận thông tin - xử lý thông tin -
ra quyết đònh - thực hiện quyết đònh - thông báo kết quả. Quy trình
này huy động hầu hết các chức năng sinh lý, các quá trình tâm lí và
một số đặc điểm tâm lí cá nhân với mức độ khác nhau tùy theo từng
công việc cụ thể:
- Lao động phổ thông là lao động đơn giản, ít hoặc không cần
thời gian tập luyện, đòi hỏi thể lực (nhiều hay ít) là chủ yếu. Các yêu
cầu về tâm lí vận động đòi hỏi không nhiều về độ chính xác và độ tin
cậy không cao lắm.
- Lao động thủ công là lao động bằng tay, yêu cầu thể lực theo
nhiều mức độ khác nhau, đòi hỏi sự phối hợp vận động tốt với độ
chính xác cao, độ tin cậy lớn (ví dụ thợ sửa đồng hồ). Sự tập trung chú
ý và độ bền vững của chú ý là đặc trưng quan trọng.
- Lao động đứng máy là hoạt động của con người với máy móc
(ví dụ các máy gia công cắt gọt kim loại). Các thao tác đòi hỏi sự kết
hợp tốt của cảm giác và tâm lí vận động, đòi hỏi tư duy ở mức nhất
đònh, đòi hỏi sự chú ý cao trong từng thời gian, yêu cầu thể lực không
nhiều, có sự di chuyển cơ thể trong khuôn khổ nhất đònh.
- Lao động tại bàn điều khiển đòi hỏi thể lực không nhiều; đòi
hỏi nhiều về khả năng cá nhân tiếp nhận, chọn lựa xử lý và truyền đạt
thông tin; đòi hỏi có phản ứng nhanh nhạy, chính xác và tin cậy cao;
đòi hỏi sự chú ý tập trung và chú ý dòch chuyển cao. Đặc trưng quan
trọng là trạng thái tỉnh táo, thái độ điềm tónh.

Hoạt động lao động là một dạng hoạt động đặc biệt của con
người, luôn luôn kèm theo công cụ lao động với nhiều cấp bậc khác
nhau (lao động thủ công, bán cơ giới, cơ giới, bán tự động và tự động
hóa). Hoạt động lao động của con người bao giờ cũng có mục đích
nhất đònh - ngắn hạn hoặc dài hạn.
Mỗi hoạt động diễn ra trong từng giai đoạn nhằm những mục
đích nhất đònh được gọi là một hành động. Hành động là một đơn vò
của hoạt động nhằm một nhiệm vụ sơ cấp nhỏ nhất, không phân chia
được nữa.
Như vậy một hoạt động lao động sẽ có nhiều hành động, với
những mục đích nhấât đònh. Tổ chức một hoạt động lao động là phải
làm rõ những mục đích cụ thể, bộ phận và tiến trình đạt tới mục đích
cuối cùng, có nghóa là phải xem hành động với những phương tiện gì
và cách thức sử dụng những phương tiện đó ra sao vv Phương thức
hành động được thể hiện bằng những thao tác.
Thao tác là một phần của quá trình công nghệ được một người
hoặc một hay nhiều nhóm người tiến hành trên một vò trí làm việc
nhằm hoàn thành một số chi tiết, một số bán thành phẩm hay một dây
chuyền sản xuất. Một hành động có thể cần một hay nhiều thao tác.
Điều đó phụ thuộc vào công cụ, phương tiện làm việc cũng như
phương thức thực hiện hành động nói chung. Nói khác đi, một hành
động được thực hiệân bởi một hay nhiều thao tác và như vậy thao tác
có thể coi như là một đơn vò của hành động.
Tùy thuộc vào đặc điểm cấu tạo chức năng của công cụ mà mỗi
thao tác đều phải được tiến hành trong những tư thế và động tác phù
hợp. Mỗi động tác đều được hình thành từ những cử động khác nhau.
Hiệu quả của mỗi chu kì thao tác phụ thuộc vào sự hợp lý của
mỗâi động tác và mỗi cử động; vào sự khéo léo và tiết kiệm trong mỗi
cử động, mỗi động tác; vào kinh nghiệm, kó năng, kó xảo của người lao
động. Mỗi cử động, động tác được thực hiện trong những tư thế lao

Trong nhiều việc, nhiều lónh vực, cần làm sao để có điều kiện
lao động tốt, như có thể, người ta phải quan tâm trước hết đến môi
trường lao động, tổ chức lao động hợp lý, bảo vệ sức khỏe, phòng
chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang cơ chế thò trường,
có sự quản lí của nhà nước, theo đònh hướng xã hội chủ nghóa đang tạo
đà cho sự phát triển với tốc độ nhanh và ngày càng bền vững. Sự phát
triển của sản xuất đã tác động đến xu hướng biến động của điều kiện
lao động với nhiều mức độ khác nhau và ảnh hưởng khác nhau đến
người lao động.
Khái niệm điều kiện lao động tuy có nhiều cách diễn giải khác
nhau nhưng tựu trung đều có cách hiểu thống nhất như sau: "Điều kiện
lao động là tổng thể các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, kó thuật, tổ
chức, vệ sinh, tâm lí, sinh lí v. v… có tác động đến chức năng cơ thể
con người, tinh thần thái độ lao động, sức khỏe và năng lực lao động,
hiệu quả lao động hiện tại cũng như khả năng tái sản xuất sức lao
động trước mắt và lâu dài". Nội dung của điều kiện lao động có thể
chia thành bốn nhóm như sau:
1. Các yếu tố vệ sinh môi trường bao gồm các yếu tố vật lí, hóa
học, sinh học được tạo nên chủ yếu dưới tác động của công cụ, thiết bò lao
động (phương tiện lao động), đối tượng lao động và quy trình công nghệ.
2. Các yếu tố tâm sinh lý bao gồm các yếu tố về tải trọng thể
lực, thần kinh, tâm lý được hình thành trong quá trình lao động và hồi
phục sức lao động.
3. Các yếu tố tâm lý xã hội được hình thành dướùi tác động của
các mối quan hệ kinh tế xã hội như tổ chức lao động, trạng thái sức
khỏe, năng suất lao động và thu nhập của người lao động, cung cách
điều hành quản lý của người sử dụng lao động.
4. Các yếu tố thẩm mỹ phản ánh qua cảm xúc, hứng thú của
người lao động bao gồm các cấu trúc không gian, nhà xưởng, bố cục

bậc II với Y= 18-34; bậc III khi Y >34-46; bậc IV khi Y >46-55; bậc V
khi Y>55-59; bậc 6 khi Y>59.
Nhiều tổ chức khoa học, các công ty siêu quốc gia như hãng xe
hơi Toyota cũng đưa ra nhiều phương pháp nghiên cứu đánh giá điều
kiện lao động khác nhau, có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau.
2.2. Khái quát về môi trường lao động
2.2.1. Môi trường tự nhiên
Những yếu tố tự nhiên hình thành và diễn biến trong quá trình
lao động, có ảnh hưởng đến thể chất tinh thần đặc biệt là trạng thái
tâm lí của người lao động. Mỗi yếu tố môi trường khi tác động vào cơ
thể người đều tuân theo quy luật giới hạn được xác đònh từ điểm thấp
nhất (minimum-min) đến điểm cao nhất (maximum-max). Khoảng
min-max đó được gọi là giới hạn sinh thái hay còn gọi là giới hạn
chống chòu của cơ thể đối với yếu tố tác động. Khi tác động ra ngoài
giới hạn sinh thái đó thì yếu tố tác động bò coi là yếu tố gây ô nhiễm.
Vậy thực chất của việc xử lí ô nhiễm là tìm biện pháp đưa yếu tố tác
động trở về bên trong giới hạn sinh thái của cơ thể. Căn cứ vào kết
quả nghiên cứu giới hạn sinh thái của cơ thể đối với các yếu tố tác
động, nhà nước ban hành những tiêu chuẩn cho phép được gọi là tiêu
chuẩn Việt Nam - viết tắt là TCVN làm cơ sở để đánh giá mức độ ô
nhiễm. Cần lưu ý khi khảo sát môi trường lao động là phải quan tâm
đến nơi làm việc (hay còn gọi là vò trí lao động). Nơi làm việc
(working place) được đònh nghóa là không gian hoạt động chủ yếu của
người lao động (chiếm hơn 80% thời gian lao động). Ví dụ đối với thợ
may thì độ sáng cần quan tâm là đầu mũi kim, với người đọc sách là
trên mặt trang sách. Sau đây lược kê một số yếu tố môi trường tự
nhiên xuất hiện phổ biến trong quá trình lao động:
Vi khí hậu: đó là những yếu tố vật lí như nhiệt độ, độ ẩm,
chuyển động của không khí (đôi khi cả ánh sáng nữa). Trong môi
trường lao động, TCVN về nhiệt là 32

Khái niệm stress (căng thẳng) nhiệt để chỉ những biển đổi sinh lí, tâm
lí, bệnh lí do sress nhiệt gây ra. Stress nhiệt tác động vào cơ thể từ
môi trường ngoài còn chuyển hóa vật chất là tác động từ bên trong.
38

|
39Để duy trì cân bằng nhiệt nội tại thì lượng nhiệt do chuyển hóa phải
được thoát đi bằng dẫn truyền, đối lưu, bức xạ và bay hơi. Tùy điều
kiện môi trường mà cơ thể tăng hay giảm nhiệt qua các cơ chế này.
Mỗi gam mồ hôi bay hơi sẽ lấy đi 0, 59 kilocalo nhiệt. Môi trường
nóng và ẩm mồ hôi thải ra nhiều dẫn đến sự mất nước và kéo theo cả
nhiều muối khoáng và một số vitamin như vitamin B, C…
Nước ta tuy ở vào khu vực nhiệt đới nhưng không phải vì vậy
mà không cần quan tâm đến môi trường lạnh. Phía bắc nước ta hàng
năm có tới 80 ngày nhiệt độ dưới 20
o
, Tây Nguyên cũng có nhiều
ngày khá lạnh nhất là lao động về đêm. Nhiệt độ thấp mà nhiều gió
thì cảm giác lạnh tăng lên không chỉ là yếu tố tâm lí mà còn do lượng
nhiệt mất đi nhiều hơn. Tốc độ gió khoảng 8m/giây lượng nhiệt mất đi
tăng lên 2 lần, gió 20m/giây tăng 5 lần. Làm việc dưới nước lạnh thì
lượng nhiệt mất đi gấp 14 lần làm việc trên cạn.
Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, vượt quá tiêu chuẩn cho phép
không chỉ gây rối loạn các chức năng hoạt động của cơ thể mà còn tác
động rất mạnh đến trạng thái tâm lý của người lao động, dễ dẫn đến tình
trạng căng thẳng, bực bội, giảm khả năng chú ý, tạo ra nguy cơ tai nạn lao
động. Say nóng, say nắng là hiện tượng không hiếm đối với người lao động

sáng tự nhiên bao giờ cũng tốt hơn ánh sáng nhân tạo. Đèn huỳnh
quang nếu không bố trí hợp lí, khoa học cũng sẽ gây tác hại không
nhỏ đến thò giác.
- Tiếng ồn: Tiếng ồn là yếu tố môi trường rất phổ biến ở nước
ta. Tùy hoàn cảnh và điều kiện hoạt động mà TCVN có những mức
độ khác nhau. Đơn vò đo cường độ ồn là decibel-dB. Trong công
nghiệp tiêu chuẩn tối đa cho phép là 85 dB, nhưng trong môi trường
học tập, trên lớp học là không quá 60 dB, trong phòng bệânh nhân là
không quá 40 dB… Tiếp xúc lâu ngày với tiếng ồn, có thể không quá
40

|
41tiêu chuẩn cho phép, nhưng với khoảng 70-80 dB sẽ sinh ra tình trạng
nghễnh ngãng, thường thấy ở nữ công nhân ngành dệt, gây trạng thái
tâm lí buồn tủi trầm nhược trong sinh hoạt, đặc biệt trong quan hệ
luyến ái nam nữ. Tiếp xúc lâu ngày với tiếng ồn quá lớn sẽ dẫn đến
bệnh điếc nghề nghiệp.
- Bụi: Bụi có thể là từ bên ngoài bay vào nhưng chủ yếu là bên
trong do nguyên liệu, nhiên liệu và quá trình công nghệ tạo ra. Có thể
là bụi vô cơ, bụi hữu cơ.
Đại lượng đo lường phổ biến là kích thước và trọng lượng bụi.
Bụi tác độâng xấu vào mắt, da và nguy hiểm nhất là vào phổi. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu về tác động của bụi, đặc biệt là các bệnh
phổi do bụi như bệnh Silicosis do bụi silic (Si0
2
) gây ra, bệnh
Asbestosis do bụi amiang; bệnh Bissinosis do bụi bông; bệnh

đảm bảo vệ sinh là nguồn gây bệnh, gây ngộ độc thực phẩm.
- Các yếu tố bức xạ cũng là nguồn gây ô nhiễm không hiếm
trong các cơ sở sản xuất công nghiệp (khai thác quặng, luyện kim…)
cũng như trong các cơ sở y tế không đảm bảo quy trình bảo vệ sức
khỏe cho người lao động.
Về nguyên tắc, xử lý ô nhiễm môi trường phải theo ba bước:
Bước 1: Xử lý ngay đầu nguồn, tại nguồn gây ô nhiễm, từ nhiên liệu,
nguyên liệu đầu vào, từ thiết bò và quy trình công nghệ. Ví dụ thay
đổi chất đốt từ củi sang than đá rồi sang dầu DO, FO rồi sang khí hóa
lỏng, khí gây ô nhiễm sẽ giảm bớt rất nhiều
Bước 2: Nếu bước 1 chưa tốt thì phải ngăn chặn trên đường lan truyền
như bọc kín nguồn gây ô nhiễm, dùng các biện pháp kó thuật để lọc,
hút, thải cao… Tuy nhiên một số biện pháp như thải cao (qua ống
khói) hay chôn lấp mà không có biện pháp xử lý đúng đắn thì chỉ là
"đánh bùn sang ao" vì hàm lượng chất ô nhiễm không hề giảm đi mà
chỉ là di chuyển từ chỗ này qua chỗ khác. Nguyên tắc căn bản là phải
tìm biện pháp thu hồi, tái sử dung, tái chế nguyên vật liêu thải ra vưà
để tiết kiệm nguồn tài nguyên vừa giảm thiểu ô nhiễm và cuối cùng
mới đi đến thải bỏ.
Bước 3: Nếu bước 2 chưa giải quyết được yêu cầu thì phải sử dụng
phương tiện bảo vệ cá nhân. Mỗi loại phương tiện đều phải phù hợp
với tính chất của nguồn ô nhiễm và đặc biệt là phù hợp với sức chòu
42

|
43đựng của người sử dụng (ví dụ đảm bảo kín, khít, không gây căng
thẳng, cản trở hô hấp, không gây cảm giác khó chòu, không gây trạng

phải tổ chức khám sức khỏe đònh kỳ hàng năm cho người lao động.
2.2.2. Môi trường xã hội
Đó là những yếu tố còn lại của điều kiện lao động liên quan đến
con người và tổ chức lao động cũng như tổ chức xã hội.
- Lao động theo ca kíp Trong sản xuất công nghiệp, để tận
dụng năng suất của thiết bò, máy móc thường người ta vẫn tổ chức lao
động theo ca, kíp. Phổ biến nhất là sản xuất theo 3 ca sáng, chiều, tối.
Lao động theo ca không chỉ ảnh hưởng đến việc tổ chức cuộc sống ổn
đònh hàng ngày, gây xáo trộn liên tục việc sinh hoạt, học hành, chăm
sóc con cái, hoạt động vui chơi, giải trí, lao động thêm để cải thiện
đời sống mà nguy hại nhất là ảnh hưởng xấu đến nhòp sinh học. Sự
thay đổi liên tục nhòp sinh học gây rối loạn hoạt động của mọi chức
năng sinh lý cơ thể, đặc biệt là hoạt động thần kinh. Giấc ngủ bò đảo
lộn liên tục gây cản trở sự hồi phục chức năng cơ thể sau lao động,
gây xáo trộn tinh thần tâm lí, đặc biệt đối với phụ nữ. Mất ngủ nhiều
đêm liên tục sẽ gây tình trạng mệt mỏi sớm, khó tập trung chú ý trong
lao động dẫn đến nguy cơ tai nạn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu
ứng dụng nguyên tắc nhòp sinh học để phòng tránh tai nạn lao động,
hạn chế rủi ro.
- Quan hệ tập thể Mối quan hệ tập thể, giữa cá nhân với cá nhân,
giữa người lao động và người quản lý - người sử dụng lao động đóng một
vai trò đặc biệt quan trọng. Tính lây lan tâm lí là một đặc trưng của hoạt
động tập thể. Trạng thái tâm lý của từng người tác động không nhỏ đến
tâm lí của đồng nghiệp xung quanh và ngược lại. Quan hệ đoàn kết, thân
thiện trong tập thể tạo sự hứng phấn sáng tạo, đưa tới năng suất cao.
Quan hệ hợp tác, dân chủ giữa người quản lý và người lao động tạo sự
44

|
45

xúc cảm có ý nghóa hết sức quan trọng. Theo Moreno có ba mối quan
hệ liên nhân cách cơ bản: Thiện cảm, ác cảm và trung tính. Có thể sử
dụng một vài thủ thuật để đo đạc mứùc độ biểu hiện của các quan hệ
liên nhân cách này. Chẳng hạn cho thiện cảm là hệ số (+1), ác cảm là
(-1) và trung tính là (0), rồi tính giá trò trung bình của mối quan hệ
trong nhóm.
Những yếu tố xã hội khác như đời sống vật chất, thu nhập,
quan hệ gia đình, hôn nhân… đều không phải là vô nghóa đối với thành
tích lao động của cá nhân và tập thể.
2.2.3. Các yêu cầu về Ecgônômi
Thực ra chuyên ngành này không xuất phát từ những nghiên cứu
lý thuyết mà xuất phát từ những sáng kiến, cải tiến các thao tác theo
yêu cầu kó thuật của sản xuất nhằm góp phần nâng cao năng suất lao
động, giảm bớt mệt mỏi cho người lao động. Vào cuối thế kỉ 19, kó sư
F. W. Taylor đã bắt đầu nghiên cứu việc tổ chức lao động hợp lý
bằng cách phân tích thao tác thành các động tác và các cử động nhỏ
nhất nhằm tìm ra những cử động, động tác thừa, không hợp lý, chọn
lọc những cử động, động tác thuận lợi nhất để thực hiện hành động
lao động. Nhờ đó mà tiết kiệm được thời gian hoàn thành những thao
tác, giảm được giờ làm, giảm được số lượng nhân công, đem lại lợi
nhuận rất lớn cho chủ tư bản. Người ta gọi đó là phương pháp hay dây
chuyền Taylor.
Cũng khoảng thời gian đó vợ chồng kó sư F. B Gilbreth (vợ là
nhà tâm lý học) sử dụng phương pháp chụp ảnh và quay phim các
động tác và đã xác đònh được 17 động tác thường được thực hiện trong
các thao tác. Cuốn sách của Gilbreth xuất bản năm 1911 tại Newyork
"Nghiên cứu các động tác, kinh nghiệm gia tăng hiệu quả lao động của
công nhân" được nhiều người đón nhận, phát triển. Năm 1927 R. M
Barnes đã xác lập được nguyên tắc tiết kiệm động tác và 22 quy tắc
hợp lý hóa động tác.

trọng lượng, tình trạng áp lực cao….
Trong ecgônômi, bộ môn tâm lý học lao động hợp tác với các
bộ môn khác như cơ sinh học, nhân trắc học, sinh lý học cũng như một
số bộ môn kó thuật nhằm tìm hiểu những thông tin về khả năng cũng
như hạn chế về hình thái, thể lực, trí tuệ và đặc biệt về tâm lý của con
người trong quá trình lao động trong hệ thống "con người, máy móc
và môi trường". Trên cơ sở đó người ta xây dựng các nguyên tắc, yêu
cầu cho các hoạt động trong những ngành nghề khác nhau. Ecgônômi
theo đuổi mục tiêu tối ưu hoá hoạt động của hệ thống "con người -
máy móc - môi trường" nhằm đảm bảo sức khoẻ, an toàn, hiệu quả và
đặc biệt là tiện nghi.
Chăm sóc sức khoẻ thể chất và tinh thần, tâm lý cho con người
trong quá trình lao động cũng là mối quan tâm hàng đầu của tâm lý
học lao động. Bảo đảm sức khoẻ tốt chính là bảo vệ sức sản xuất.
An toàn là yêu cầu thiết yếu trong quá trình lao động. Máy móc
thiết bò không đủ tin cậy, môi trường khắc nghiệt là nguy cơ dẫn đến
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Bản thân con người không có
được trạng thái tâm lý ổn đònh cũng dễ gặp nguy cơ xảy ra tai nạn lao
động. An toàn luôn được coi là trước hếât –Safety first (chứ không phải
là trên hết).
Tiện nghi là sự phù hợp của các phương tiện lao động và sản
phẩm tiêu dùng với khả năng và hạn chế và sự thoải mái của con
người về các mặt hình thái, thể lực và thần kinh, tâm lý. Sử dụng
phương tiện lao động một cách thoải mái, thuận tiện sẽ hạn chế được
sự căng thẳng, mệt mỏi do đó cũng tạo thêm phấn khởi và đẩy cao
được năng suất lao động.
Mục tiêu cuối cùng tất nhiên phải là hiệu quả lao động, tức là
năng suất và chất lượng cao. Tổ chức lao động không hợp lý làm tăng
thêm mệt mỏi, kéo dài thời gian thao tác, tăng thêm tỉ lệ phế phẩm.
Việc áp dụng các nguyên tắc ecgônômi trong mục tiêu hợp lý

trong các thớ cơ do hoạt động quá nặng nhọc hoặc quá lâu dài, gây sự
tê liệt hoạt động của các bắêp cơ. Rõ ràng đây chỉ là mệt mỏi về thể
chất, về chân tay. Hơn nữa người ta còn chứng minh rằng sự tích lũy
acid lactic không phải là nguyên nhân chủ yếu của mệt mỏi. Vẫn có
nhiều trường hợp mệt mỏi khi không hề có dư acid lactic trong bắp cơ.
Tất nhiên sự mệt mỏi chân tay này cũng kéo theo ít hay nhiều sự uể
oải về tinh thần, sự suy sụp về tâm lí.
- Lý thuyết thần kinh trung ương. Vinogradov cùng nhiều cộng
tác viên đã phân tích như sau:
Sự mệt mỏi đến nhanh do phát sinh ức chế thần kinh.
Sự mệt mỏi phát sinh từ từ mà điểm cơ bản là kéo dài do
khoảng cách sinh lí trên các khâu của bộ máy vận động.
Khâu đầu tiên của mệt mỏi được đònh khu không phải ở cơ mà ở
trung tâm thần kinh. Vai trò của cảm xúc, của các kích thích hướng tâm
có ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh mệt mỏi. Hoạt động không tùy ý (kích
thích điện…) gây mệt mỏi kém hơn hoạt động có ý thức và hoạt động
không tùy ý lại có thể xảy ra trong nhiều trường hợp sau khi cơ thể đã
mỏi mệt vì hoạt động tùy ý. Các biến đổi đa dạng quan sát được ở các bộ
phận ngoại biên khi mệt mỏi chỉ là hiện tượng thứ sinh và phụ thuộc vào
ảnh hưởng xác đònh của các trung tâm thần kinh.
- Sự giảm khả năng lao động tạm thời do lao động nặng kéo dài
thể hiện ở 3giảm chất lượng và số lượng sản phẩm lao động, giảm sút
chức năng điều hoà của các bộ phận cơ thể.
- Sự mệât mỏi còn do tình trạng lao động đơn điệu kéo dài gây ra
cảm giác ru ngủ. Trạng thái ức chế lan tràn làm giảm sút khả năng
tỉnh táo hay hưng phấn trong vỏ não và kết quả cũng có thể thể hiện
bằng những sai sót khi thao tác, ảnh hưởng không tốt đến số lượng và
chất lượng sản phẩm.
Nói tóm lại, mệt mỏi chân tay hay trí óc đều bắt đầu từ vỏ não,
chỉ khác nhau ở các trung tâm phân tích và đều có ảnh hưởng đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status