Tiểu luận tâm lý học lao động - Pdf 25

A. Mở đầu
Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, ổn định về xã hội, trên đất nước ta từ
thành thị đến nông thôn đều có sự thay đổi, chuyển biến về chất trong lĩnh vực
sản xuất, văn hoá, tinh thần. Quan hệ giữa con người và con người được cởi mở
hơn, nhiều nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân được
bộc lộ, đòi hỏi và thoả mãn.
Trong những điều kiện của xã hội mới, việc cải thiện thường xuyên và có
kế hoạch điều kiện sống và lao động được thực hiện thông qua các chính sách
kinh tế, xã hội của nhà nước và là một bộ phận quan trọng để góp phần nâng
cao mức sống vật chất và tinh thần của người lao động. Những điều kiện tiên
quyết cho sự cải thiện toàn diện điều kiện sống và lao động là một nền kinh tế
phát triển, trình độ cao của năng suất lao động, sự áp dụng nhanh chóng những
tiến bộ khoa học kỹ thuật và các yếu tố thẩm mỹ…
Tuy nhiên, những nhu cầu này còn chưa được quan tâm đứng mức cũng
như chưa được đáp ứng đầy đủ trong môi trường làm việc của các xí nghiệp
công nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp. Mà sự phát triển của hoạt động
lao động phụ thuộc nhiều vào yếu tố thẫm mỹ, yếu tố thẫm mỹ chi phối tâm lý
của người lao động. Mỗi yếu tố thẫm mỹ khác nhau có sự tác động khác nhau,
có vai trò riêng ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của người lao động. Việc tổ
chức tốt yếu tố thẫm mỹ trong lao động một cách bảo đảm an toàn, phù hợp,
thống nhất sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả lao động.
Tất cả những lý do đó, đã dẫn tôi tới đề tài: “Vấn đề thẩm mỹ học trong
lao động sản xuất” để thấy được tầm quan trọng của yếu tố thẩm mỹ và đề ra
các đề xuất góp phần nâng cao chất lượng và năng suất lao động.
GVHD: Th.S. Lê Thị Phi Page 1
B. Nội dung
Thẩm mỹ là sự cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp. Trong lao động sản xuất, người
ta thường chú ý đến màu sắc và âm nhạc.
1. Thẩm mỹ màu sắc.
1.1. Ảnh hưởng của màu sắc đến tâm lý con người.
Bất cứ màu sắc nào cũng có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến tâm lý

quá nhiều với màu đỏ, không những gây hại cho thị lực mà còn khiến cho con
người có cảm giác buồn nôn. Đối với những người có bệnh về não thì tuyệt đối
không nên nhìn màu đỏ.
- Ảnh hưởng của màu sắc đến con người được thể hiện trên bảng sau:
Màu Tác động tâm – sinh lý hay cảm giác liên tưởng được tạo ra
Kích
thích
Nặng
nề
Thanh
thản
Nóng Lạnh Nhẹ Nóng Xa Gần
Trắng X X
Xám
nhạt
X
Xám
sẫm
X X
Đen X X
Đỏ X X X X
Da cam X X X
Vàng X X X X
Lục X X X
GVHD: Th.S. Lê Thị Phi Page 3
Lam X X X X
Chàm X X X
Tím X X X X
1.2. Ý nghĩa của màu sắc trong lao động sản xuất.
Mỗi màu có một vai trò khác nhau vì vậy việc sử dụng màu sắc cũng cần

cho logo hoặc tiếp thị.
1.3. Vai trò và chức năng của màu sắc đối với lao động sản xuất.
Trong lao động, sản xuất, màu sắc có rất nhiều công dụng và cụ thể là:
- Màu sắc được sử dụng để tạo điều kiện tối ưu cho tri giác nhìn: dùng màu sắc
tối ưu để sơn cho các vật dụng nằm trong trường thị giác của người lao động, sử
dụng màu sắc có hệ số phản chiếu cao (trắng, vàng, sang lục tăng độ chiếu sáng
trong phòng làm việc…).
- Tạo điều kiện tối ưu cho các hoạt động lao động. Thí dụ sử dụng các nhóm
thiết bị cùng loại bằng một màu riêng biệt, sơn các nút bấm điều khiển, các
chuyển mạch bằng màu sắc khác biệt tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
lao động sản xuất.
- Nâng cao sức làm việc cho người lao động: giảm sự mệt mỏi, mệt nhọc trong
quá trình lao động.
- Cải thiện điều kiện nơi làm việc: dung màu sắc tạo cảm giác nơi làm việc sạch
sẽ, thoáng mát, rộng rãi…
GVHD: Th.S. Lê Thị Phi Page 5
- Sử dụng màu sắc hợp lí có thể hỗ trợ cho sự tập trung chú ý vào đối tượng của
công việc. Nếu công việc đòi hỏi sự di chuyển chú ý thường xuyên từ đối tượng
này sang đối tượng khác cần tránh màu sắc sặc sỡ, tương phản và nên dung màu
tương đối đơn điệu.
- Sử dụng báo hiệu bằng màu sắc trong các phân xưởng sản xuất, trong giao
thông nhằm đảm bảo an toàn lao động. Ví dụ như đối với bộ phận chuyển động,
bộ phận nguy hiểm thường sơn hình thức ngựa vằn (xen kẻ sọc đen tráng, đen
vàng), sơn màu kích thích (đỏ, da cam).
- Màu sắc có chức năng làm giảm sự tác động không có lợi cho các nhân tố
thuộc môi trường vật lí (nhiệt độ, độ ẩm, độ sạch của không khí, tiếng ồn…).
Việc sử dụng màu sắc theo chức năng trong lao động sản xuất có tác dụng
nâng cao năng suất lao động trung bình 10 – 15% , hạ thấp tai nạn lao động và
số ngày nghỉ việc.
1.4. Một số lưu ý khi sử dụng màu sắc trong lao động sản xuất.

thài bình thường của máy.
- Màu trắng, màu sữa, màu xanh da trời nhạt đối với vật phát quang chỉ trạng
thái máy đã mở, phòng điện thế, khẩu lệnh phát ra.
- Màu xanh nước biển để chỉ các âm cực.
Chú ý đến tính chất của lao động để áp dụng một cách đúng đắn và đạt
hiệu quả. Việc áp dụng một cách đúng đắn các màu sắc chức năng tại nơi làm
việc tùy thuộc vào đặc điểm của từng cơ quan, xí nghiệp sao cho tạo ra một
trạng thái thuận tiện nhất về mặt tâm lý nói chung và nhất là khả năng tri giác
GVHD: Th.S. Lê Thị Phi Page 7
nói riêng của người lao động. Điều đó sẽ góp phần giảm hiện tượng mệt mỏi và
tăng năng suất lao động.
Ví dụ: Đối với các ngành kỹ thuật tinh vi, đòi hỏi sự tập trung cao độ của người
lao động thì nên dùng các sắc điệu lạnh như xanh lá cây, xanh da trời.
1.5. Sử dụng màu sắc trong trường học.
- Có nhiều công trình nghiên cứu trong đó có công trình nghiên cứu của
Acgônôvích đã chứng minh: “Học sinh tiểu học ưa thích nhất những màu
nguyên chất và sáng chói, tuổi càng lớn thì các em càng ham thích những màu
có sắc điệu lạnh và phức tạp”. Đó là cơ sở khoa học cho việc dùng các màu sắc
để sơn cơ sở vật chất trong trường, đồ dùng học tập, sách vở, trang trí lớp…
- Làm cho cảnh quan nhà trường tươi mát, vui mắt bằng cách trồng cây xanh để
vừa có thể làm bóng mát và vừa có thể làm cho không khí trong lành.
3. Vấn đề thẩm mỹ âm nhạc
2.1. Vai trò của âm nhạc trong cuộc sống.
Âm nhạc là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người.
Âm nhạc có thể chia sẻ với chúng ta rất nhiều điều: Giải quyết những khó khăn
trong cuộc sống, vơi đi những hờn giận vu vơ, đưa người về dĩ vãng, tìm lại tuổi
thơ yêu dấu, nghe lòng bồi hồi, xao xuyến với tình yêu quê mẹ, với nắng ấm
quê cha, sống dậy lòng tự hào dân tộc, khát vọng tìm về chân lý… Ngay từ thời
thượng cổ, âm nhạc đã được ra đời cùng với đời sống sinh hoạt và lao động sản
xuất của các cộng đồng người nguyên thuỷ. Kể từ đấy, âm nhạc đã không ngừng

- Từ xa xưa con người đã sử dụng âm nhạc như là một phương tiện chữa bệnh
nhằm nâng cao tinh thần người bệnh.
- Trong lao động phối hợp cùng nhau đã nảy sinh các điệu hò, câu hát phong
phú nhằm huy động sức mạnh tinh thần của người lao động như hò kéo pháo, hò
GVHD: Th.S. Lê Thị Phi Page 9
mái đẩy…nhằm huy động sức mạnh tinh thần của người lao động như hò kéo
pháo, hò mái đẩy…
- Âm nhạc tác động đến con người hai mặt: Tạo ra một tâm trạng tốt và nhịp
điệu lao động cao, ổn định. Có khả năng hạ thấp mệt mỏi trong lao động. Mặt
khác tác động tiêu cực đến tâm tạng và trạng thái của người lao động (nếu sử
dụng loại nhạc buồn, nhịp điệu chậm rãi trong khi lao động, sản xuất dễ khiến
con người mệt mỏi, buồn chán…).
Hiện nay, âm nhạc được sử dụng rộng rãi trong các xí nghiệp, công xưởng nơi
mà người lao động thực hiện những công việc đơn điệu, quen thuộc, bận tâm
chú ý.
2.3. Những nguyên tắc cần chú ý khi sử dụng âm nhạc trong lao động sản
xuất.
 Theo các công trình nghiên cứu của Mĩ, Liên Xô có thể đưa ra số thời gian sử
dụng nhạc trong một ngày làm việc từ 1 giờ đến 2 giờ 30 phút. Nguyên tắc nhỏ
giọt các lần mở nhạc trong ngày lao động đem lại những kết quả tốt nhất, làm
tăng năng suất lao động.
 Tính chất:
+ Nhịp độ và âm độ của âm nhạc sử dụng trong lao động tùy thuộc vào tính
chất của các động tác lao động, theo trình độ hiểu biết âm nhạc của người lao
động, thị hiếu của họ và thời gian của ca sản xuất.
+ Âm độ và nhịp độ (nhanh hay chậm) của nhạc phải điều chỉnh tùy theo mức
độ tập trung chú ý của người lao động vào công việc. Ví dụ công việc đòi hỏi
phải tập trung chú ý của người lao động vào công việc nhiều thì âm độ của nhạc
thấp và nhịp điệu phải càng thanh thản hơn. Ngược lại công việc đòi hỏi sự chú
ý thấp thì âm độ và nhịp độ cao.

GVHD: Th.S. Lê Thị Phi Page 11
Biểu đồ 1: Đường cong biểu diển sức làm việc nhờ sử dụng âm nhạc sản xuất.
a) Đường thẳng của sức làm việc
b) Đường cong của sức làm việc có sử dụng âm nhạc sản xuất
c) Đường cong thực tế của sức làm việc
GVHD: Th.S. Lê Thị Phi Page 12
Biểu đồ 2: Đường biểu diển sức mệt mỏi của người lao động khi sử dụng âm
nhạc sản xuất
a) sức mệt mỏi của những ngày không sử dụng nhạc.
b) sức mệt mỏi của những ngày có sử dụng nhạc.
2.4. Sử dụng âm nhạc trong trường học.
Não người có 4 tần số sóng gồm beta, alpha, theta, và delta. Trong đó tần
số sóng Alpha với tần số từ 8 đến 13 Hz mỗi giây là tần số sóng não hoạt động
khi người ta thư thái, sáng tạo và tư duy hiệu quả nhất. Có nhiều nghiên cứu chỉ
ra mối liên quan giữa âm nhạc - tiêu biểu là dòng nhạc Baroque, một loại nhạc
cổ điển, cũng có nhịp tương tự như tần số sóng alpha của não, giúp não người
nhanh chóng trở về trạng thái thư giãn, bình an, và sáng tạo.
Các nhà giáo dục ở Mỹ cũng khuyên những học sinh của mình nên sử dụng
nhạc baroque như một âm thanh nền để tạo môi trường học tập tích cực cho
người học.
Nguyên tắc sử dụng âm nhạc để đạt hiệu quả trong học tập:
1. Sử dụng nhạc có nhịp từ 8 - 13 Hz mỗi giây, tương tự như tần số sóng alpha
của não.
2. Khi cần tập trung sâu để nghiên cứu, học thuộc nên sử dụng những loại nhạc
có nhịp từ 4 - 7 Hz mỗi giây để kích thích tần số sóng não Theta hoạt động.
3. Nguyên tắc quan trọng: Hiệu quả của âm nhạc chỉ đến khi người sử dụng nó
như nhạc nền, tức là bật nhỏ đủ nghe, rồi tập trung vào việc học mà không tập
trung vào âm nhạc. Nếu thấy mình đang bị tập trung vào âm nhạc thì cần bật
nhạc nhỏ hơn nữa. Nếu đặt sự kỳ vọng cao cũng thì sẽ dẫn đến tư duy phán xét
liên tục xảy ra trong đầu, dẫn đến thay vì học, người ta chạy theo việc đặt câu

người lao động trong quá trình sản xuất.
Chính vì thế việc áp dụng yếu tố thẩm mĩ trong lao động là vô cùng cần
thiết không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu, tạo động cơ làm việc tích cực cho
người lao động mà còn là tạo môi trường làm việc khoa học phát triển quan hệ
sản xuất, lực lượng sản xuất.
Sử dụng hợp lý yếu tố thẩm mỹ (màu sắc và âm nhạc) sẽ đảm bảo tối ưu
cho môi trường lao động, giảm mức độ nguy hiểm và vận hành tốt trong quá
trình sản xuất sẽ có tác động tốt đến tâm lý người lao động đồng thời bù lại
những điều kiện, yếu tố bất lợi trong quá trình sản xuất. Vì vậy, các nhà sử dụng
lao động cần tạo cho người lao động một môi trường thẩm mỹ trong góp phần
làm tăng tính nhân văn trong một xí nghiệp công nghiệp, để đưa năng suất lao
động đạt hiệu quả cao nhất.
D. Tài liệu tham khảo.
[1] Phạm Tất Dong, Tâm lý học lao động, NXB Viện khoa học giáo dục 1979.
[2] Lê Thị Phi, Đề cương bài giảng tâm lý học lao động.
[3] />lao-động-và-ứng-dụng-của-chúng-trong-hoạt-động-giáo-duc?s=0c556195
8a7a9c910 b 1751da523b3e9d#ixzz2SgMXuWYx.
[4] /
826658942.epi.
GVHD: Th.S. Lê Thị Phi Page 15
[5] />11 .
[6]
[7] />am -nhac.html.
[8] />
GVHD: Th.S. Lê Thị Phi Page 16


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status