ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG NGHIÊN CỨU VỐN CỔ DÂN TỘC (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM MỸ THUẬT) - Pdf 24

1
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
NGHIÊN CỨU VỐN CỔ DÂN TỘC
(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM MỸ THUẬT)
Mã số môn học: MT2253
Số tín chỉ: 02 (30 tiết)
Lý thuyết: 20 tiết
Bài tập, thảo luận: 10 tiết
Mục lục Trang

CHƯƠNG 1: Giới thiệu sơ lược về nghệ thuật trang trí cổ
1.1. Nét độc đáo, phong phú của vốn cổ dân tộc
1.1.1. Dân tộc
1.1.2. Nội dung tính dân tộc trong nghệ thuật
1.1.2.1. Tính dân tộc đòi hỏi nghệ thuật phải phản ánh được hiện thực Việt Nam
1.1.2.2. Tính dân tộc và tâm hồn người Việt Nam
1.1.2.3. Tính dân tộc kết tinh trong hình tượng nghệ thuật
1.1.2.4. Tính dân tộc và phương tiện chuyển tải
1.1.3. Thái độ khoa học đối với dân tộc trong nghệ thuật
1.1.3.1. Tính dân tộc và di sản nghệ thuật của dân tộc
1.1.3.2. Tính dân tộc và thành tựu nghệ thuật của thế giới
1.2. Nghiên cứu, học tập vốn cổ trong mỹ thuật nói chung, trang trí nói riêng
1.2.1. Quan niệm về vốn cổ
1.2.2. Điểm qua vốn trang trí cổ
2
2
2
3
3
4
6

16
48
2
CHƯƠNG 1: Giới thiệu sơ lược về nghệ thuật trang trí cổ
Số tiết: 16 (Lí thuyết: 10 tiết; Thực hành: 4 tiết; Kiểm tra: 2 tiết)
A) MỤC TIÊU
- Kiến thức:
+ Sinh viên hiểu và nắm vững sơ lược về nghệ thuật trang trí cổ dân tộc qua các thời kỳ
thông qua các loại hình mỹ thuật.
+ Sinh viên hiểu sâu hơn truyền thống thẩm mỹ đặc sắc của dân tộc, vai trò quan trọng
của nghệ thuật truyền thống trong đời sống xã hội và trong giáo dục thẩm mỹ ở trường phổ
thông.
- Kỹ năng:
+ Luyện cách nghiên cứu, học tập vốn cổ trong mỹ thuật nói chung, trang trí nói riêng.
+ Nắm bắt được vẻ đẹp của vốn cổ, có ý thức trong nghiên cứu, tìm hiểu và vân dụng
sáng tạo trong học tập chuyên môn; kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại.
- Thái độ:
+ Tự hào và tôn trọng nghệ thuật truyền thống dân tộc, có thái độ khoa học đối với dân tộc
trong nghệ thuật.
B) NỘI DUNG
1.2. Nét độc đáo, phong phú của vốn cổ dân tộc
1.1.1. Dân tộc
”Dân tộc là một khối cộng đồng ổn định, thành lập trong lịch sử dựa trên cơ sở cộng
đồng về tiếng nói, về sinh hoạt kinh tế và cấu tạo tâm lý chung trong một nền văn hóa”. J. Xtalin.
Định nghĩa giúp chúng ta đi sâu tìm hiểu về dân tộc Việt Nam, suy nghĩ về hoàn cảnh
lịch sử đặc thù đã thúc đẩy cho những tính chất cộng đồng trên đây được mau chóng hình thành,
giúp chúng ta tìm hiểu được một cách khoa học về tính chất dân tộc nói chung và tính dân tộc
trong nghệ thuật nói riêng.
Dưới ánh sáng của định nghĩa ấy, chúng ta đòi hỏi một tác phẩm nghệ thuật có tính dân
tộc phản ánh được hiện thực dân tộc thông qua tâm lý dân tộc, xây dựng được hình tượng dân

sắc mà nghệ thuật phản ánh phải là cái hiện thực gắn liền với cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc
ta, gắn liền với tâm tư, tình cảm và khát vọng của dân tộc. Hiện thực quanh ta muôn màu, muôn
vẻ, nhưng không phải bất cứ hiện thực nào cũng rung động được chúng ta.
Những nét thẩm mỹ sâu sắc nhất của cuộc sống phải là những nét thân thiết của dân tộc,
những nét khêu gợi nhất, thu hút sự quan tâm và thích thú của dân tộc. Bao nhiêu bài thơ hay,
bức tranh đẹp đã miêu tả non sông đất nước ta sóng đỏ dạt dào của sông Hồng, đỉnh cao chót vót
của dãy Ba Vì, ánh trăng trên sông Trà Khúc, câu hò ở Đồng Tháp, cây tre đầu làng và con cò
trên trời xanh, tất cả hấp dẫn ta làm mát rượi lòng ta.
Đó chính là hiện tượng dân tộc từ bao đời qua đã gắn liền với lao động, với chiến đấu với
mọi tâm trạng vui buồn cảu dân tộc ta. Ngày xưa, dân tộc ta cưỡi sóng Bạch Đằng để đánh quân
Nguyên, dân tộc ta chẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ, sông ấy và núi ấy thắm thiết lòng chúng ta
biết bao nhiêu bởi đấy chính là hiện thực của dân tộc.
Con người trên đất nước ta đều có những nét mặt mũi và tai mắt ấy những con người ở
đây gắn bó với chúng ta biết chừng nào con người ở đây với chúng ta cùng chung một số phận
dân tộc cũng có một trách nhiệm đè nặng trên vai đi sâu vào những con người ấy để phát hiện và
ngợi ca, sẽ chinh phục được trái tim và khối óc. Bởi chiều sâu của những con người ấy cũng là
chiều sâu của cả dân tộc và của mỗi chúng ta.
Hiện nay, lịch sử đang đặt dân tộc ta trước những nhiệm vụ cách mạng vĩ đại và khó
khăn chưa từng có, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đang phát huy tài năng và trí tuệ vừa để
tiêu diệt một kẻ thù hung hãn và lớn mạnh nhất thế giới, là đế quốc Mỹ vừa để xây dựng một chế
độ xã hội tốt đẹp nhất – chế độ xã hội chủ nghĩa trên một đất nước vừa mới thoát khỏi sự thống
trị của đế quốc và phong kiến, trong sự nghiệp vĩ đại này, hàng ngày hàng giờ, ở khắp mọi nơi,
trên mọi lĩnh vực lao động, dân tộc ta đang nêu cao những phần chất tuyệt vời của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, đó là hiện thực rực rỡ nghìn năm có một đang diễn ra trước mắt người nghệ sĩ
Việt Nam, miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn những người mới, việc mới trong
hiện thực ấy.
1.1.2.2. Tính dân tộc và tâm hồn người Việt Nam
Nghệ thuật là sự phản ánh hiện thực khách quan tâm hồn người nghệ sỹ và tác động đến
tâm hồn của nhân dân, giá trị của tác phẩm nghệ thuật không ở chỗ nó phản ánh hiện thực một
4

truyền cảm của hình tượng điển hình ấy trước hết là tính dân tộc của nó. Một yêu cầu điển hình
hóa trong nghệ thuật hiện thực là tính cụ thể và hoàn cảnh lịch sử xã hội của nhân vật. Tính cụ
thể và hoàn cảnh lịch sử xã hội đó trước hết phải thể hiện ở đâu? Ở tính dân tộc và tính thời đại.
Miêu tả những con người mới của Việt Nam phải hệt Việt Nam, ném vào bất cứ một nước nào
cũng không thể lẫn được, như thế mới là hiện thực.
Nghệ thuật của Việt Nam cũng như nghệ thuật của nhân loại từ trước đã tạo ra được rất
nhiều hình tượng dân tộc đặc sắc. Những hình tượng ấy có giá trị bởi nó phản ánh sâu sắc những
hoàn cảnh cụ thể của những dân tộc khách nhau. Chỉ có thể thưởng thức những hình tượng ấy
khi đặt nó vào khung cảnh đã tạo ra nó, liên hệ với môi trường sinh hoại của dân tộc ấy. Sự vay
mượn hình tượng, đưa hình tượng của dân tộc khác vào dân tộc mình chỉ là việc vô vị. Trong
văn thơ, người Nga hay mô tả cây Bạch Dương, người Trung Quốc hay nhắc tới cây tùng và
người Việt Nam hay nói về cây tre. Nghệ sỹ đông âu thường xúc động trước sự êm đềm của
dòng xanh Đanuýp, Lý Bạch nói về nước sông Hoàng Hà như “trên trời đổ xuống”. Cao Bá Quát
5
mô tả” sông Nhị yêu thương với lớp sóng hoa đào”. Cỏ cây sông nước ở những dân tộc khác
nhau đã tạo nên những hình tượng dân tộc độc đáo của những dân tộc ấy.
Những người nghệ sỹ chân chính đã đi sâu vào rất nhiều cảnh ngộ của nhân dân ta và
khái quát trong những hình tượng sâu sắc.
Người phụ nữ vất vả nuôi chồng được nổi lên trong hình tượng ”con cò lặn lội bờ sông”.
Sự xinh tươi duyên dáng của một cô thôn nữ được liên tưởng với hình tượng “cây trúc xinh trúc
mọc đầu đình”. Một con người có phẩm chất cao đẹp được ví như bông hoa sen ở giữa đầm.
Những hình tượng ấy tác động sâu sắc đến tâm hồn người Việt Nam, bởi nói gắn liền với những
cảm nghĩ của người năm này qua năm khác. Những hình tượng mang tính dân tộc cũng không cố
định, sức hấp dẫn của nó cũng thay đổi cùng với sự thay đổi của dân tộc. Đời sống dân tộc của
chúng ta đang thay đổi rất nhanh chóng trên mọi lĩnh vực sản xuất và chiến đấu, đang có nhiều
nét hấp dẫn mới, tạo điều kiện cho nghệ sỹ sáng tạo những hình tượng phù hợp với tình cảm, óc
tưởng tượng và thị hiếu của nhân dân ta ngày nay. Người nghệ sĩ ra sức nâng cao giá trị nghệ
thuật của tác phẩm bằng cách tìm tòi, phát hiện và sáng tạo ra những hình tượng mới ấy.
1.1.2.4. Tính dân tộc và phương tiện chuyển tải
Chúng ta hiểu phương tiện là toàn bộ những công cụ, những cách thức diễn tả và hiểu

Không phải một cá nhân lỗi lạc nào đó đã bỗng nhiên tạo nên một chiếc đàn bầu, một cây
sáo trúc, một cái phách tre… Cũng không phải là một ngày nào đó bỗng xuất hiện những điệu
trống quân, quan họ, những lời thơ lục bát du dương, những mầu sắc đậm đà và giản dị của tranh
khắc gỗ, tranh lụa, tranh sơn mài… Tất cả những phương tiện đó là do tập thể của dân tộc ta
sáng tạo, được hoàn thiện không ngừng từ đời này sang đời khác. Đã bao lần người nghệ sĩ của
dân tộc trong đêm thanh vắng đã gửi đến tâm hồn mình vào sợi dây đàn bầu thánh thót? Đã bao
lần chúng ta đã từng thổn thức lắng nghe một lời hát ru con hay một tiếng sáo tâm tình? Đã bao
lần chúng ta xúc động trước một khúc hát dân gian, một bản nhạc cổ truyền, một màu sắc dân
tộc? Trong những lúc ấy chính tình cảm trong đẹp của cha ông ta đã được diễn lại và đã nâng cao
thêm ở mỗi ngời chúng ta. Trong những lúc ấy chúng ta càng cảm thấy gắn bó với đất nước, thiết
tha hơn với đồng bào.
Vốn cổ dân tộc là vốn truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam. Di sản quý báu đó được
hun đúc, trải nghiệm rõ nét trong nhiều thời kỳ khác nhau bộc lộ qua cách nhìn, cách thể hiện
trên các sản phẩm văn hóa vật thể, phi vật thể.
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là
một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước của nhân dân ta.
- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu
giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các
hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về
nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục
truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di
tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích:
1. Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội;
2. Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
3. Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và
mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế.

khắc lõm sâu vào trong đá. Đây là mô típ thể hiện được xem là rất cổ trong nghệ thuật tiền sử.
Nhóm thứ ba là những biểu tượng sinh thực khí, chủ yếu là những biểu tượng nữ tính với
hình tam giác có rãnh dọc ở giữa.
Nhóm thứ tư là họa tiết hình người được thể hiện trong tư thế giơ tay, dạng 2 chân như
chúng ta thường thấy trong các bích họa hang động thời tiền sử.
Nhóm thứ năm là những hoa văn hình vuông và hình tròn.
Nhóm thứ sáu là những hình khắc chưa xác định được hình dáng và ý nghĩa thể hiện.
Để tạo những hình này, người xưa đã sử dụng kỹ thuật rất thô sơ là đục khắc trực tiếp
trên bề mặt tảng đá. Những nét khắc chạm này thường có bề rộng khoảng 2cm, sâu chừng 1cm.
Qua các mô típ họa tiết được thể hiện, chúng ta thán phục sự cần mẫn và bàn tay khéo léo của
người xưa với những nét đục khắc khá đều đặn. Nhìn chung, những hình khắc vẽ này còn mang
tính biểu tượng, ước lệ, nhưng đó là những sáng tạo nghệ thuật tạo hình thời tiền sử. Như chúng
ta đã biết, từ nhận thức cái đẹp đến sáng tạo nghệ thuật là cả một quá trình lâu dài trong lịch sử
nhân loại. Chủ nhân của những hình khắc vẽ Xín Mần đã có khái niệm về thẩm mỹ, về cái đẹp
bản năng trong đời sống thiên nhiên, trong sinh hoạt cộng đồng và đã thể hiện chúng trên đá.
Ở Sa Pa, tỉnh Lào Cai, các nhà nghiên cứu đã phát hiện nhiều tảng đá có hình khắc vẽ cổ.
Ðồ gốm thời nguyên thủy
Việc biết dùng ngũ cốc là thức ăn là một cuộc cách mạng trong xã hội nguyên thủy.
Chẳng những nó cho phép con người có thể định cư mà còn thay đổi nếp sống và dụng
cụ thường dùng. Những khí giới bằng đá không đủ cho đời sống hàng ngày nữa, người ta còn cần
có nồi, niêu, chum, vại để nấu, đựng thức ăn; do đó, đồ gốm ở nước ta được chế tạo ra rất sớm để
đáp ứng nhu cầu đời sống. Việc chế tạo ra đồ gốm là một sự kiện hết sức quan trọng trong đời
sống của người nguyên thủy và trong việc chế tạo này, tổ tiên ta mới có điều kiện phát triển khả
năng về trang trí và tạo hình.
Những người làm đồ gốm đầu tiên, khi chưa biết dùng bàn nặn xoay, thì thường đan
khuôn bằng nan tre theo hình nồi, niêu, chum, vại rồi trát một lớp đất sét dày mỏng tùy theo ý
muốn đồ gốm dày hay mỏng. Khuôn đan in vào vại, vò lúc còn ướt thành một thứ hoa văn trang
8
trí. Ðến khi trình độ nghệ thuật của người thợ đồ gốm đã khá, người ta không dùng khuôn đan
nữa, song vì quen mắt và yêu cầu thẩm mỹ, người ta vẽ bằng que hay dập hoa văn phỏng theo

tâm, vòng tròn có tiếp tuyến, văn chữ S đơn hay kép được cách điệu ra nhiều kiểu, lặp lại thành
dải xung quanh nồi, chum, bình chậu.
Nghệ nhân Phùng Nguyên đã nắm được nguyên tắc căn bản của nghệ thuật trang trí là
luật lặp lại, luật xen kẽ và luật đối xứng nên cấu tạo được những đường nét hài hoà của hoa văn
như ta thấy trên nhiều đồ gốm ở thời này.
Trong văn hóa Phùng Nguyên gốm mịn ngày càng tăng, áo gốm phổ biến, gốm thành
mỏng đều, phần lớn có màu hồng nhạt. Hoa văn trang trí, ngoài văn thừng mịn hoặc thô phổ biến
trong cả 3 giai đoạn văn hóa Tiền Đông Sơn, thì tiêu biểu cho giai đoạn Phùng Nguyên là những
đồ án hoa văn khắc vạch kết hợp chấm giải với các mô típ khác nhau biến hóa phức tạp, mà phổ
biến hơn cả là họa tiết hình chữ S và các hình tam giác đối xứng với các biến thể khác nhau.
Những vành hoa văn khác nhau này được trang trí trên cổ, vai và bụng đồ gốm làm cho các đồ
án trở nên hài hòa sinh động, đỡ nhàm chán, đồ gốm trở nên nhẹ nhàng thanh thoát hơn. Đến giai
9
đoạn Phùng Nguyên đồ gốm không những nhiều về số lượng , mà kiểu dáng và loại hình cũng
cực kỳ phong phú da dạng. Ngay như nồi cũng có đủ loại to nhỏ, nông sâu, miệng loe, miệng
khum, miệng thành dày thành mỏng, bụng tròn bụng dẹt. Còn bát thì cực kỳ đa dạng, phần lớn
có miệng loe rộng, chân đế cao hoặc thấp, có những chiéc bát chân cao kiểu mâm bồng. Bình có
loại có miệng loe như hình ống nhổ.
Giai đoạn Đồng Đậu, gốm cứng và thành dày hơn, phần lớn có màu xám và đồ gốm có
kích thước lớn tăng nhiều hơn. Riêng hoa văn mang phong cách rất riêng. Đến lúc này hầu như
không còn loại hoa văn khắc vạch kết hợp chấm giải tạo thành các đồ án hình chữ S, hình tam
giác biến thể đối xứng nữa, mà thay vào đó là văn kiểu khuông nhạc chải thành các đồ án từ đơn
giản đến phức tạp. Phổ biến hơn cả là văn hình sóng nước uốn khúc liên tục. Tương đối đơn giản
là đồ án gồm những đoạn khuông nhạc song song trái chiều hoặc cắt nhau khá đều đặn, phía
trên và dưới có các đường gợn sóng nhẹ, hoặc văn khuông nhạc xòe ra kiểu nan quạt hay bu gà.
Văn thừng bện cũng là loại thường gặp, có loại bện tương đối chặt, có loại bện không chặt, giữa
các đường xoắn có các lỗ hổng to nhỏ khác nhau. Cũng có đồ án khuông nhạc hình chữ S với các
kiểu dọc ngang biến thể khác nhau, có khi sắp xếp song song bên nhau, có khi móc nối đuôi
nhau. Loại nồi vò thành miệng dày rất tiêu biểu cho gốm Phùng Nguyên cũng hầu như không
thấy. Đồ gốm có độ nung cao hơn và rắn chắc hơn, thêm màu xám vàng sẫm. Hoa văn trang trí

Gốm văn hóa Đông Sơn trên lưu vực sông Mã và sông Cả phổ biến hơn cả vẫn là văn
thừng xiên hoặc dọc trang trí trên bụng nồi, niêu, ấu, bát. Trên các loại bình bát có các băng
hẹp các vạch thẳng song song hoặc cắt nhau trang trí trên vai hoặc dưới bụng.
Đồ gốm ở đây có loại hình và kiểu dáng cực kỳ đa dạng, gồm đủ loại từ nồi niêu, bình,
bát, âu, vò, chạc gốm Nồi đa số là loại miệng loe, bụng nông, đáy tròn, đáy bằng hoặc đáy
bằng hơi lồi, cổ hơi eo, không có các loại nồi vò sâu lòng đáy tròn. Đáng chú ý ở đây có loại bát
chân đế thấp choãi miệng loe rộng kiểu loa và loại bình miệng loe, cổ eo, vai xuôi rộng gần gãy
góc, bụng nửa trên phình rộng, dưới bóp vào thành đáy bằng, chân đế thấp choãi khá độc đáo.
Đồ đồng
Vật tiêu biểu, đặc biệt quan trọng của thời Đông Sơn là những trống đồng. Trong đó, trống
đồng cổ nhất và đẹp nhất của nước ta ở thời này là trống đồng Ngọc Lũ. Hình trang trí trên trống
đồng Ngọc Lũ có 2 loại: loại văn truyền thống và loại hình nhân vật.
Loại văn truyền thống
Đã thấy trên đồ gốm các giai đoạn trước như: văn vòng tròn đồng tâm, vòng tròn có tiếp
tuyến, văn chữ S, văn thừng, văn răng lược v.v…Những hoa văn này trang trí thành dải chung
quanh trống đồng như đường viền để làm nổi những văn hình nhân vật.
Loại văn hình nhân vật
Những nét khắc đơn giản hoá của nghệ nhân cho người xem hiểu được nhân vật đang làm
gì: giã gạo, múa, tấu nhạc, chèo thuyền… Tư thế người múa, dáng hươu đi, chim bay… chứng tỏ
tác giả có nghiên cứu kỹ thực tế trước khi ghi lại bằng những nét khắc chạm đơn giản mà đúng
sự thực.
Vào thời Lý – Trần, những loại hình, hoa văn có liên quan đến tôn giáo này như: lá cây
đề, hoa sen, vũ nữ uốn hình theo điệu Tơ-ri-băng-ga v.v… trở nên phổ biến trong nghệ thuật
trang trí các chùa tháp. Nghệ nhân Lý – Trần đã Việt Nam hoá một số hình ảnh, hoa văn thành
những tuyệt tác độc đáo không thấy có ở các nước khác. Ví dụ: “lá đề” thì có hình rồng bé như
“con giun” nằm gọn trong lá, hoa sen được cách điệu ra nhiều hình thái và thường cũng có hình
rồng “con giun” trong cánh hoa. Chạm nổi văn mây xoắn, văn sóng nước, văn hoa cúc dây và
chủ yếu là văn “rồng bé trên lá đề” là những hoa văn trang trí đặc sắc, tiêu biểu của nghệ thuật
điêu khắc thời này.
Đồ gốm

Lý.
Gốm hoa lam là tên một loại gốm phủ men trắng đục vẽ trang trí màu lam. Để có màu men
đẹp, điều cần thiết phải có cốt xương gốm tốt. Thông thường thì xương gốm là đất sét có pha cát.
Nếu gốm cổ, lại pha cả một số tạp chất khác như rơm, rạ, trấu hoặc lá cỏ dại để tăng độ liên kết.
Những đồ gốm thời Lý tìm được trong khu vực Hoàng Thành là những bằng chứng quan trọng
để có thể nói rằng: thời Lý Việt Nam cũng đã sản xuất được những đồ gốm tinh xảo không thua
kém đồ gốm Tống Trung Quốc.
Men trắng Lý có độ trắng mịn và óng mượt như gốm Tống và phần nhiều về chất lượng
đã đạt tới trình độ sứ như sứ Tống. Nhiều tiêu bản cho thấy thời Lý cũng sản xuất loại gốm men
trắng xanh và có hoa văn như gốm Nam Tống lò Cảnh Đức Trấn. Sự khác nhau giữa gốm trắng
Tống và gốm trắng Lý chủ yếu được nhìn nhận qua sắc độ đậm nhạt của màu men hay xương
gốm và kỹ thuật tạo dáng. Đây cũng là đặc điểm khó phân biệt giữa gốm trắng Lý với gốm trắng
Tống. Nhưng nếu có được cái nhìn hệ thống từ những đồ gốm trắng Lý đích thực, thuần Việt qua
đồ án trang trí hình rồng và hoa lá mà phong cách của nó giống hệt như những hình chạm khắc
trên đá trong kiến trúc chùa, tháp thời Lý (tháp Chương Sơn, chùa Phật Tích), chắc chắn ta sẽ
cảm nhận được đầy đủ và rõ ràng hơn về gốm men trắng Lý.
Về kỹ thuật tạo hoa văn thời kỳ này chủ yếu có 3 loại cơ bản là đắp nổi, khắc chìm và in
khuôn trong, nhưng cũng có nhiều loại không trang trí hoa văn nhưng vẻ đẹp của hình dáng, màu
men lại rất được chú ý. Gốm thời Lý thường thanh thoát, trang nhã trong hình khối nhưng lại rất
cầu kỳ, tinh mỹ trong từng đường nét hoa văn trang trí. Đồ án trang trí phổ biến là hoa sen, hoa
cúc hay hình rồng, tiên nữ và văn như ý… Các đề tài này mang đậm yếu tố Phật giáo và một số
bộc lộ ảnh hưởng khá nhuần nhuyễn đến mức tinh tế nghệ thuật gốm thời Tống, làm cho sự phân
biệt nhiều khi khó khăn. Nhưng bên cạnh đó, nhiều mẫu hình, nhiều kiểu dáng, đặc biệt là cách
trang trí diềm văn cánh sen đắp nổi hay diềm văn vòng tròn nhỏ mà ta gặp phổ biến trên rất
nhiều đồ gốm Lý lại cho thấy rõ thêm truyền thống rất riêng biệt của gốm Việt Nam. Truyền
thống riêng biệt ấy được kết tinh và thể hiện rõ qua đồ gốm hoa nâu vốn từng được coi là sản
phẩm độc đáo và đặc sắc nhất của gốm Việt Nam.
Gốm hoa nâu trong Hoàng thành có chất lượng cao, đặc biệt là ngoài các loại vò, chậu,
thạp trang trí hoa sen, dây lá, ở đây còn tìm thấy nhiều loại thạp lớn trang trí hình rồng. Bên cạnh
12

khai quật phần nhiều là sản phẩm của các lò gốm vùng Hải Dương và Bát Tràng. Tình hình này
có sự khác biệt lớn so với gốm thời Lê Sơ.
Gốm thời Lê Sơ có bước phát triển đột biến với sự bùng nổ các trung tâm sản xuất gốm
lớn, nhất là vùng Hải Dương. Thời kỳ này gốm hoa lam, gốm men trắng và gốm vẽ nhiều màu
đạt đến đỉnh cao của sự tinh mỹ.
Chạm nổi trên gỗ hay đá rất phổ biến ở thời này, nghệ sĩ ta chưa có quan niệm về hình
khối, diện xa, diện gần như chúng ta hiện nay nên vật ở xa hay ở gần đều nổi cao như nhau. Hoa
văn đặc sắc nhất của thời Hậu- Lê là “văn ngọn lửa”. Văn này có trong tất cả đồ án trang trí chùa
tháp xây dựng ở thời này.
Nổi bật nhất là đồ sứ Huế. Thời vua Minh Mạng và vua Tự Đức xuất hiện những đồ sứ
tốt với hình trang trí vẽ bằng men lam, ta gọi là “men xanh Huế”. Trang trí phong cảnh Trung
Quốc, hình rồng năm móng, nước men xanh thẫm đẹp. Đồ sứ này không mang tính dân tộc vì
chúng được vua chúa nhà Nguyễn đặt làm ở Giang Tây để dùng trong hoàng cung.
1.2.2.6. Thời Pháp thuộc
13
Trong thời này, bọn thực dân Pháp mang đến nhiều hoa văn mới lạ mà ở nước ta chưa có.
Người thợ lại không có thời gian nghiên cứu, dung hoà một cách hợp lý với vốn cổ dân tộc, cho
nên mới xuất hiện những sản phẩm kỳ quái như những bàn ghế theo phong cách Lu-i 15 lại được
chạm khắc rồng, phượng, nho, sóc v.v… Những kiểu lai căng chướng mắt ấy đến cách mạng
tháng 8 năm 1945 thì chấm dứt.
Đồ án trang trí dân tộc
Đồ án cầm thú
Tứ linh
Đồ án phổ biến nhất trong nghệ thuật trang trí Việt Nam là Tứ linh. Tức là 4 con vật:
Long (rồng), Lân (hoặc Ly), Quy (rùa), Phượng (chim phượng hoàng). Có nơi, Lân thay cho Ly
(tức là Long Mã). Trong Tứ Linh chỉ có Quy là con vật có thật, còn 3 con kia là do trí tưởng
tượng của người xưa tạo nên, phần nào căn cứ trên những con vật có thật.
Rồng tượng trưng cho Đức, cho uy lực thiên nhiên. Thể hiện nhiều cách thức, tuỳ theo
trường hợp và vật trang trí. Chủ đề thường thấy trong điêu khắc của ta là “Long hàm thọ” (tức là
đồ án có hình mặt rồng ngậm chữ Thọ). Hình này thường thể hiện bằng phù điêu trang trí chái

trang trí.
Hạc tượng trưng cho sự trường thọ, sống lâu. Thể hiện: bằng tượng tròn (thường đúc
bằng đồng) trên đầu đội hoặc mỏ ngậm cái đế để cắm nến đặt trên bàn thờ của đình chùa.
Hổ tượng trưng cho sức mạnh của thế gian. Thể hiện: hình ảnh hổ là hình ảnh khủng
khiếp, nhân dân gắn cho nó một sức mạnh thiêng liêng. Hình hổ gắn ở ngưỡng cửa thì tà ma
không dám vào nhà. Nghệ nhân ta biết tận dụng màu sắc và vết vằn của lông hổ cách điệu thành
những hình trang trí rất đẹp.
Ngoài Bát vật, còn một số con vật khác gắn bó với đời sống con người như voi, ngựa, gà,
lợn, mèo… cũng thường thấy ở tường hoa phía trước đình, chùa hay trong tranh dân gian.
Đồ án hoa, quả, vật dụng
Ngoài đồ án cầm thú, ông cha ta còn tận dụng thảo mộc, hoa quả hay vật thường dùng để
làm đồ án trang trí. Mỗi vật đều có ý nghĩa tượng trưng của nó. Những đồ án phổ biến là: Bát
bảo, Bát tiên, Tứ hữu, Tứ thời.
Bát bảo: Bát bảo đồ mang lại vận may hoàn chỉnh
Sự hiện hữu của bát bảo sẽ mang đến cho gia chủ vận may về của cải vật chất cũng như
đời sống tinh thần. Vì vậy, những gia đình theo đạo Phật thường treo tranh có hình bát bảo.
Là pháp khí của nhà Phật, mỗi vật lại có ngụ ý và tác dụng riêng. Đứng thứ nhất trong bát
bảo là vỏ ốc, mang ý nghĩa "diệu âm cát tường", nên gọi chung là bát cát tường. Tranh bát cát
tường là một trong những tranh vẽ truyền thống được sử dụng nhiều nhất ở chùa chiền, cung
điện. Hình vẽ kết hợp của 8 biểu tượng quan trọng trong phong thủy còn được goi là Bát bảo đồ,
được ứng dụng rộng rãi. Sự kết hợp này sẽ tạo nên sức mạnh chống lại tất cả các vận rủi, trong
đó có cả vận rủi về tình yêu và hôn nhân.
Là một công cụ phong thủy, tranh treo tường hình bát bảo có thể hoá giải tình trạng
phong thủy xấu do các cửa nhà bạn ở vào vị trí thẳng hàng, tranh bát bửu có tác dụng như một
bức màn cửa, làm giảm tốc độ của sát khí và đưa đến những điều may mắn.
Bát vật: Tám vật quý tượng trưng cho sự phong lưu và học thức. Tám vật đó là:
1. Bầu trói: quả bầu có eo ở giữa, dùng đựng rượu. Bầu rượu và túi thơ là 2 vật tiêu biểu cho sự
phong nhã của thời phong kiến.
2. Tháp bút: tượng trưng cho người trí thức
3. Quạt vả: cây quạt hình lá vả, tượng trưng cho phong cách thần tiên.

1.2.2.5. Sự kế thừa vốn trang trí cổ trong trang trí hiện đại
Trong lịch sử mỹ thuật dân tộc, nền mỹ thuật dân gian Việt Nam mang một dấu ấn riêng
và đã được ghi nhận như một bước phát triển quan trọng của ngôn ngữ tạo hình dân gian với
tiếng nói hiện thực và quan điểm nhân văn của nó.
Biến động lịch sử trong các thế kỉ XVI, XVII, XVIII đã cho tranh tượng dân gian một sắc
thái mới, một lý tưởng thẩm mỹ mới mà đặc tính là dân tộc và hiện đại. Trước những nhu cầu xã
hội – tâm lý – thẩm mỹ của thời kì ấy, nền nghệ thuật tạo hình dân gian đã thành công trong việc
giải quyết một số vấn đề then chốt, những vấn đề mà chính chúng ta ngày nay đang loay hoay cố
giải quyết cho thời đại của chúng ta.
Sự xuất hiện một ngôn ngữ tạo hình, với hình tượng những con người hiện thực làm
những việc trong đời sống hiện thực, với một nội dung xã hội của thời đại ấy là một sáng tạo lớn
trong lịch sử Mỹ thuật Việt Nam thời phong kiến.
Đặc điểm dễ thấy ngay của nghệ thuật tạo hình dân gian là chất hồn nhiên, ngộ nghĩnh.
Vì thế, khi khai thác vốn cổ tạo hình dân tộc trong học tập, nghiên cứu và sáng tác, đa số những
người tạo hình chúng ta có xu hướng bị ảnh hưởng vào các đặc điểm ngoại hình của hình thể một
cách cảm tính, ít quan tâm đến quá trình phát triển lý tính của nghệ thuật. Phải chăng, chính vì
quá say sưa với những đặc điểm ngoại hình của nghệ thuật tạo hình dân gian cổ truyền mà chưa
kịp nắm bắt được cái thần của cha ông trong sáng tác, chúng ta đã vội bắt cái hồn nhiên, cái ngộ
nghĩnh dân gian phục vụ ngay cho sáng tác thời nay một cách dễ dãi, cẩu thả? Cũng như thế,
phải chăng vì một lý do tương tự mà người ta dễ bắt ngay vào thị hiếu thẩm mỹ và các trào lưu
nghệ thuật ở phương Tây, khi chưa kịp tìm hiểu các quan điểm, các hình thái tư duy làm nền
tảng cho thị hiếu ấy, cho những trào lưu ấy?
Nói đến sự khai thác và phát triển truyền thống dân tộc trong tạo hình, trước hết là đi
tìm cái thần, cái hồn của cha ông trong sáng tác. Cái thần ở đây là sự bao trùm, là tổng hòa của
những quan niệm, những quan điểm, thái độ, nếp nghĩ và cách nhìn của cả một lớp người, trong
cả một thời, trước xã hội, trước cộng đồng, trước thiên nhiên, trước cái đẹp… Cho nên, nếu vội
vàng ép cái hồn nhiên, cái ngộ nghĩnh dân gian vào các nhân vật trong tranh thời nay, trong
nhiều trường hợp là biến các nhân vật đó thành những hình nộm vô hồn. Đã là hình nộm vô hồn
16
thì không tiêu biểu cho bất cứ tầng lớp nào trong xã hội, ở bất cứ thời điểm nào của lịch sử, càng

túc, thấu đáo. Chúng ta cần phải hiểu đến nơi đến chốn những tư tưởng, quan niệm, cách nhìn khi
phản ánh hiện thực cũng như tư duy tạo hình và quan niệm thẩm mỹ của cha ông ta xưa mới thấy
hết giá trị đích thực của nền mỹ thuật dân gian để có thể kế thừa và phát triển trong thời đại ngày
nay một cách có hiệu quả.
Chúng ta có thể bàn đến một khái niệm "Không gian" của tranh tượng dân gian chẳng
hạn. Nổi bật lên ở đây là cách nhìn ước lệ, khái quát, bất chấp quy luật thị giác thông thường,
khác hẳn nhận thức vật lý chật chội. Nếu ta mở rộng thêm nghĩa của không gian thì có thể nói
rằng, không gian trong tranh tượng dân gian còn mang nội dung xã hội, nội dung triết học nữa.
Đó là một không gian tạo hình không chấp nhận những công thức thị giác thông thường, được
mở ra mọi chiều, mọi hướng để chứa đựng một không gian xã hội - tư tưởng. Mặt khác, nếu
nghệ thuật là một hệ thống tín hiệu thì nghệ thuật tạo hình dân gian có hàm lượng thông tin rất
lớn. Những nụ cười châm biếm vừa sắc sảo vừa tế nhị như những tin phóng sự đi sâu vào tâm
tình của những người lao động
17
Trong không gian chật hẹp của thôn xã Việt Nam xưa kia, ông cha ta chỉ còn một hướng
hành động duy nhất: nhìn thẳng vào cuộc sống hiện thực thấm đẫm nước mắt và mồ hôi. Do đó,
họ đã phát hiện ra một phương tiện mới- một tiếng nói tạo hình mới, khác hẳn tiếng nói tạo hình
của cung đình và tôn giáo. Đó là chất hiện thực và hiện đại hiện rõ trên điêu khắc đình làng, trên
các dòng tranh dân gian quen thuộc.
Như vậy, yếu tố có thể khai thác của nền nghệ thuật tạo hình dân gian truyền thống Việt
Nam để xây dựng tiếng nói tạo hình của thời đại chúng ta, đối với những người học tập và sáng
tác mỹ thuật không phải là một ngoại hình ngộ nghĩnh hay ngây thơ, một không gian đơn giản,
ước lệ nào đó mà là một thái độ, một quan niệm mới về không gian, cả không gian tạo hình lẫn
không gian xã hội - nhân văn. Tìm hiểu để khai thác nền nghệ thuật tạo hình dân gian truyền
thống còn biết bao vấn đề, biết bao khía cạnh, có thể rất lý thú và bổ ích mà chúng ta chưa kịp
lưu ý đến. Điều đó cũng không có nghĩa: nền nghệ thuật ấy là một cái kho bị bỏ quên mà chúng
ta có thể tuỳ hứng nhặt nhạnh trong đó một vài chất liệu để nhằm phục vụ kịp thời hay lâu dài
một ý tưởng nào đó của những người cùng thời với mình. Những nghệ sĩ tạo hình Việt Nam,
những sinh viên đang học mỹ thuật ngày nay cần phải tìm cho mình chất liệu trong cuộc sống
thời nay và biết khai thác, phát huy những bài học của nền nghệ thuật tạo hình dân gian truyền

hoa cúc, cây trúc, cây tùng…
Con hổ tượng trưng cho sức mạnh và sự thiêng liêng trong tín ngưỡng Việt cổ. Gà trống
là con vật tương ứng với tháng giêng và ngày mồng một đầu tháng, tiếng gà gáy sớm không chỉ
là báo hiệu một ngày mới đã đến mà còn ẩn chứa sắc thái tín ngưỡng, tiếng gà xua đi bóng đêm
và đón nhận ánh sáng mặt trời.
Cách kết hợp các mô-típ người, vật, hoa cỏ và chữ Hán thường mang ý nghĩa ẩn dụ,
tượng trưng, phản ánh quan niệm của người phương Đông. Đó là mối quan hệ tồn tại giữa con
người và tự nhiên trong một thể thống nhất.
Chữ trên tranh có thể là câu thơ, câu đối, lời chúc tụng hay chỉ là câu nói thường ngày
nhưng ý nghĩa lại rất rộng và sâu xa. Chữ trên tranh không chỉ có tác dụng làm rõ thêm ý nghĩa,
nội dung mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc sắp xếp bố cục tranh sao cho cân đối, chặt
chẽ.
C) TÀI LIỆU HỌC TẬP
1. Phạm Thị Chỉnh (2005), Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, Nxb ĐHSP.
2. Tạ Phương Thảo (2005), Giáo trình Trang trí, Nxb ĐHSP.
3. Thái Bá Vân, Chu Quang Trứ (1980), Tranh dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa.
4. Phạm Quang Vinh và nhóm tác giả (2000) Nghệ thuật Việt Nam, NXB Kim Đồng.
5. Viện Nghệ thuật - Bộ văn hóa (1975), Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam (qua các bản rập).
D) CÂU HỎI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG
- Sinh viên nghiên cứu, sưu tầm và vẽ lại hoa văn thời Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và
Đông Sơn.
- Sinh viên chép lại 02 đồ án hình người, tiên, quái vật trong chạm khắc thời Lý -Trần
- Sưu tầm các đồ án Tứ linh, Bát quả, Tứ thời.
- Viết bài so sánh 02 dòng tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống có những đặc điểm gì giống
và khác nhau về nguồn gốc, hoạ tiết, màu sắc, đề tài, kỹ thuật làm tranh…
19
CHƯƠNG 2
Phương pháp nghiên cứu vốn cổ
Số tiết: 12 (Lí thuyết: 6 tiết; Kiểm tra: 2; Thực hành: 4 tiết)
A) MỤC TIÊU:

động cộng đồng. Kể cả thời kỳ đầu, khi ngôi chùa làng chưa phổ biến như từ thời Trung hưng về
sau, thời kỳ này, tại những địa phương có chùa, sân chùa cũng là một địa điểm dành cho hoạt
động cộng đồng, nhưng chủ yếu là lễ hội vui chơi hát xướng vào các dịp lễ tiết. Cho đến nay ở
những ngôi chùa cổ vùng Kinh Bắc vẫn còn dấu vết về các hoạt động này như chùa Dâu, chùa
Nành
Vào đầu công nguyên, khi bị nhà Hán xâm lược, văn hóa Hán dần xâm nhập vào nước ta,
tín ngưỡng thờ Xã thần du nhập theo chân các cư dân Hán. Các đàn thờ xã thần (xã đàn) được
lập lên tại các làng xóm. Xã ban đầu chỉ là một cái nền đất đắp cao, xung quanh trồng một số
loài cây làm biểu tượng cho sự no đủ. Hàng năm vào các tháng trọng xuân và trọng thu, người ta
tổ chức cúng tế tại đây để báo đáp công sinh dưỡng vạn vật của đất đai. Về sau, tín ngưỡng xã
20
thần diễn biến dần, chuyển hóa thành tín ngưỡng thờ thần đất (thần thổ địa) – vị thần có quyền
lực chở che coi sóc cho một địa phương, mang nhiều chức năng xã hội hơn. Dần dần, miếu thờ
Thổ địa được dựng lên thay thế Xã đàn. Cùng với những miếu thờ thần linh bản địa khác, miếu
Thổ địa trở thành một trong những địa điểm sinh hoạt cộng đồng của làng. Vào các dịp lễ tết,
dân chúng tụ tập đến trước những đền miếu này làm lễ tế thần, ca hát vui chơi.
Đầu thế kỷ XV, tục thờ Thành hoàng làng cũng bắt đầu phát triển. Trên thực tế, tín
ngưỡng Thành hoàng đã được truyền đến nước ta vào thời Đường - Tống, tuy nhiên cho đến thế
kỷ XIV, vẫn chỉ có Đô thành hoàng, chưa có Thành hoàng làng. Để tín ngưỡng Thành hoàng trở
thành tục thờ Thành hoàng làng đậm màu sắc Việt thì phải tính từ thế kỷ XV sau khi nhà Minh
chiếm được nước ta. Một số chính sách về thờ cúng tế tự được ban hành, trong đó mệnh lệnh lập
thêm Thành hoàng ở các phủ châu huyện được thực thi, kể từ đó tín ngưỡng Thành hoàng phát
triển mạnh ở nước ta và đây chính là thời kỳ Thổ địa và Phúc thần địa phương được nâng cấp
thành Thành hoàng làng.
Vậy là cho đến trước khi có dấu vết tồn tại của ngôi đình (cuối thế kỷ XV), lễ Nhập tịch
Tàng câu, tục thờ Thành hoàng và các sinh hoạt cộng đồng khác của người Việt như xử lý việc
làng, bao gồm xử các tranh chấp kiện cáo nhỏ trong làng, các hành vi vi phạm lệ làng, giải quyết
các vấn đề về thuế má quan dịch. Cả việc tập họp dân làng để nghe các lệnh lệ của triều đình đều
đã tồn tại và được thực hiện từ lâu đời tại các địa điểm công cộng của làng như các đền miếu thờ
thần linh, thổ địa và sân chùa, trên thực tế, nhu cầu về một địa điểm dành cho tất cả các hoạt

tôn giáo.
Vào thế kỷ XVII - XVIII, cùng với sự phát triển mạnh của kinh tế văn hóa, tại hầu khắp
các làng xã, người ta đua nhau xây dựng đình làng với kiến trúc to lớn vững chãi. Kể từ giai
đoạn này, ngôi đình làng mới thực sự hoàn thiện cả về kiến trúc cũng như các chức năng xã hội
của nó, trở thành một biểu tượng văn hóa đặc sắc của làng xã Việt Nam.
Trong các đình của người Việt, ta biết rằng đình chắc chắn đã có từ thế kỷ 15. Về vật
chất của đình Làng, niên đại sớm nhất ta mới tìm thấy từ năm 1531, đó mới chỉ là niên đại trùng
tu ở đình Thụy Phiêu (Ba Vì), và sau đó là các đình Tây Đằng, Lỗ Hạnh…
Các đình đã dính đến thờ thần thành hoàng Làng thì dần dần người ta lấy cái đó là yếu tố
tín ngưỡng thờ cúng rất cao. Từ đó, kiến trúc đình mang tư cách ba tầng của vũ trụ. Ví dụ, tầng
mái gắn với tầng trời, tầng giữa là tầng người và thần linh quan hệ và tầng dưới là tầng đất. Ngôi
đình Làng là sản phẩm thuần khiết gắn với văn hoá làng, hội tụ biểu tượng cao độ về đời sống
vật chất và tinh thần của Làng. Giá trị của nó nằm ở thành tựu kiến trúc và điêu khắc trang trí cổ
Việt Nam, ở đó đã kế thừa và phát triển cao, độc đáo nghệ thuật điêu khắc truyền thống của
người Việt.
Những ngôi đình Làng này, tuỳ theo từng thời đại mà mức độ chạm khắc có khác nhau
kỹ thuật khi chạm nông, lúc chạm nổi, chạm kênh, chạm bong, chạm lộng nhưng tất cả đều đã
thể hiện tài nghệ của các nghệ nhân xưa vừa giỏi kiến trúc vừa tài hoa chạm khắc.
Tầng mái gắn với tầng trời, ngói và linh vật gắn với tầng trời. Đôi rồng chầu có 5 tóc đều
có nghĩa: 5 là sấm chớp đánh về 5 phương Đông, Tây, Nam, Bắc và trung phương), có ước vọng
nhờ vũ ở trong này đem hạnh phúc về với trần gian sức mạnh. Tất cả mọi thứ đều xoay quanh cái
âm dương đối đãi. Rồng biểu hiện cho mưa, mưa là tinh dịch của trời trao cho đất, cho muôn loài
sinh sôi. Ở thế kỷ thứ 17, có rất nhiều hình điêu khắc con vật nhỏ leo trèo trên con rồng, vì con
rồng là mưa, con vật leo trèo biểu hiện ước vọng phồn thực.
Con lân là con vật đứng kiểm soát tâm hồn của kẻ hành hương bởi nó cũng là con vật linh
ở trên trời, là hiện thân của trí tuệ, hiện thân của sức mạnh thần linh. Cửa giữa là lối của thần đi,
có đường linh thường đặt bằng đá, còn hai bên là lối đi của người dân.
Ngói lợp đình thường là loại ngói ở đầu mũ có nổi lên hình chữ U, có các vạch chạy
xuống là tia sáng tượng trưng cho các vị tinh tú.
Kiến trúc thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 thường là các đầu rồng quay vào gian giữa, còn các

xã hội đương thời. Các phù điêu được đẩy lên cao dành không gian cho sinh hoạt, ánh sáng tự
nhiên hắt mạnh từ nhiều phía. Từ những mảng chạm nông chuyển dần sang chạm bong, kênh với
kỹ thuật chạm sâu vào bên trong khối gỗ, tạo thành nhiều lớp không gian mà dường như không
còn khái niệm về nền. Đó là bước tiến của chạm khắc truyền thống với những ưu thế: tạo chiều
sâu không gian, hiệu quả tương phản sáng tối, có thể đục một, hai tầng tạo nên sự uyển chuyển
sinh động, cảm giác nhẹ nhàng thanh thoát mà không ảnh hưởng đến kết cấu công trình Kỹ
thuật chạm lộng khoét sâu trong lòng thân gỗ, mảng chạm không còn cảm giác về nền mà uyển
chuyển trong mối quan hệ sinh động về đời sống về sinh hoạt mang đậm phong vị dân gian và
giàu tính lãng mạn. Thủ pháp không gian, thời gian đồng hiện trong chạm lộng nhằm thể hiện
nhiều hình ảnh, đề tài về cuộc sống thường ngày được coi là đặc trưng đậm nét của điêu khắc
đình làng. Cái đẹp của tự nhiên, sự mộc mạc mang tính cởi mở, chứa đựng vẻ đẹp nhân hậu của
tâm hồn khiến cho sự ''phi lý'' về tỉ lệ thông thường lại trở nên thuận lý nhờ tính phóng khoáng,
mạnh mẽ mang lại cảm thụ mới mẻ chiêm nghiệm sâu lắng. Cách chạm tự nhiên thoải mái, hứng
khởi rõ ràng đã tạo được một phong cách, giàu hơi thở cuộc sống. Gắn chặt với kết cấu kiến trúc,
chạm lộng chú trọng phương pháp thể hiện khái quát chủ yếu diễn tả nội dung, tạo điểm nhấn
phóng dụ, bố cục luôn luôn chú ý sự liên hoàn giữa các nhân vật, giữa các bộ phận các mảng
đặc, thủng được cân nhắc tạo sự hài hoà mềm mại nhưng vẫn đảm bảo sự vững chắc của bề mặt
tác phẩm.
Nghệ nhân Làng bằng cảm hứng phong phú đã tìm thấy sự biến hoá của nhát đục chạm
với những hiệu quả lớn về nghệ thuật. Trong đình Làng, hầu như tất cả các mặt gỗ trừ cột và cân
đầu, đều được đục chạm đủ dạng: Rường, xà, cốn, lá gió các thanh kẻ, bẩy, v.v… Các đầu dư
phía trên cột các đầu bẩy, đầu kẻ dưới gờ mái, ván lá gió và các cốn cũng như ván lá đề, đều là
đế gỗ rộng cho nghệ nhân thả sức tung hoành chạm khắc.
Hình ảnh con người ở chạm khắc đình làng con người là trung tâm của nghệ thuật, đặc
biệt là người lao động luôn được khắc hoạ với dáng vẻ hồn nhiên, yêu đời. Hình chạm khắc
23
không cầu kỳ nhưng đầy vẻ đẹp và sức sống. Dáng vẻ cốt cách tâm hồn của người Việt chuyển
động, tàng ẩn trong từng nét chạm đục mạnh mẽ và tinh tế của các nghệ nhân.
Các bức chạm nối tiếp nhau đan xen khung cảnh và đề tài với cách thức biểu cảm đặc
sắc. Tất cả việc làng, chuyện làng, đời sống làng với những ước nguyện được các nghệ sĩ Làng

khắc đình làng của 2 thế kỷ này đại diện điển hình nhất cho toàn bộ nghệ thuật điêu khắc ở đồng
bằng Bắc Bộ.
Điêu khắc, trang trí đình Làng là tác phẩm của những nghệ nhân nông dân. Nghệ thuật
của họ xuất phát từ đời sống và cái nhìn có tính bản năng thuần phác của người nông dân. Trong
họ đồng thời có 2 con người: người nghệ nhân với kỹ thuật chạm khắc điêu luyện và người nghệ
sĩ với sự tự do trong tưởng tượng, phản ánh, bộc lộ cái cảm tự thân về hiện thực, bằng bất kỳ thủ
pháp nào mà họ cho là phù hợp. Nhiều thủ pháp tạo hình được sử dụng để sáng tạo ra các
bứcchạm khắc, thể hiện cái nhìn hồn nhiên, mộc mạc, hóm hỉnh, đầy sức sống như cái nhìn của
trẻ thơ.
24
Trong chạm khắc trang trí người nghệ nhân xưa đã kết hợp hai yếu tố của cõi huyền và
cõi thực thông qua thủ pháp kết hợp trang trí và tả thực vào trong một bố cục, tạo nên đặc trưng
độc đáo của điêu khắc đình Làng. Ngay từ những chạm khắc của những ngôi đình từ thế kỷ XVI
đã thể hiện rõ tư duy này.
Ta có thể nhận thấy nghệ thuật chạm khắc dân gian có một lịch sử phát triển khá phong
phú với những hình tượng độc đáo về thiên nhiên, về con người Việt Nam từng thời kỳ dưới
dạng thần linh hay con người thế tục. Mỗi một thời kỳ, họa tiết chạm khắc trang trí lại mang một
phong cách đặc trưng riêng.
Nghệ thuật chạm khắc trang trí đình Làng chứa đựng những giá trị tạo hình độc đáo, thể
hiện xu hướng có tính lưỡng nguyên, đó là xu hướng nhập thế và thoát ly. Hai xu hướng này đan
xen vào nhau, tuy đậm nhạt có mỗi lúc khác nhau. Thế kỷ 16, 17 xu hướng nhập thế thể hiện tính
trội, khi các hoạt cảnh của đời sống tràn vào các ngôi đình với cảm hứng dạt dào. Chính nó đã
làm nên giá trị độc đáo nhất của điêu khắc đình làng. Từ thế kỷ 18 trở đi, xu hướng nhập thế
giảm dần nhường chỗ cho xu hướng thoát ly có nhiều nhiều yếu tố tâm linh, tín ngưỡng. Xu
hướng thoát ly được tăng cường cùng với việc sử dụng nhiều mô típ trang trí có tính biểu tượng,
nhằm sùng bái và linh thiêng hóa vị Thành hoàng Làng.
Trong các đình của người Việt, ta biết rằng đình chắc chắn đã có từ thế kỷ 15. Về vật
chất của đình Làng, niên đại sớm nhất ta mới tìm thấy từ năm 1531, đó mới chỉ là niên đại trùng
tu ở đình Thụy Phiêu (Ba Vì), và sau đó là các đình Tây Đằng, Lỗ Hạnh…
Các đình đã dính đến thờ thần thành hoàng Làng thì dần dần người ta lấy cái đó là yếu tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status