1
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
MỸ THUẬT HỌC
(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM MỸ THUẬT)
Mã số môn học: MT2338
Số tín chỉ: 03 (45 tiết)
Lý thuyết: 35 tiết
Bài tập, thảo luận: 10 tiết
Mục lục Trang
Lời nói đầu
Chương 1: Ngôn ngữ tạo hình
1. 1. Ngôn ngữ mỹ thuật
1. 1.1. Đường nét
1. 1.2. Màu sắc
1. 1.3. Hình khối
1. 1.4. Bố cục, nhịp điệu
1. 2. Đặc trưng ngôn ngữ
1. 2.1. Đặc trưng ngôn ngữ hội họa
1. 2.1.2. Đặc trưng ngôn ngữ hội họa
1. 2.2. Đặc trưng ngôn ngữ điêu khắc
1. 2.3. Đặc trưng ngôn ngữ đồ họa
3
3
4
4
5
5
6
6
7
7
Chương 3: Phân tích tác phẩm
4. 1. Những yếu tố cơ bản để phân tích đánh giá tác phẩm
4. 1.1. Khái niệm về phân tích tác phẩm
4. 1.2. Những yếu tố cơ bản trong phân tích tác phẩm
4. 2. Khái niệm thể loại hội họa và những yếu tố hợp thành tác phẩm hội họa
4. 3. Giới thiệu, phân tích tranh, tượng
4. 3.1. Giới thiệu, phân tích tranh dân gian Việt Nam
4. 3.2. Giới thiệu, phân tích tranh, tượng tiêu biểu của hoạ sĩ Việt Nam
4. 3.3. Giới thiệu, phân tích tranh, tượng tiêu biểu của hoạ sĩ thế giới
- Đề tài, thể loại, chất liệu hội họa, đồ họa, điêu khắc.
4. 3.4. Giới thiệu và đánh giá nhận xét tranh vẽ của thiếu nhi
35
35
37
39
41
43
45
46
47
48
Tài liệu học tập 49
2
Lời nói đầu
LỜI NÓI ĐẦU
Mỹ thuật hiểu là "nghệ thuật của cái đẹp". Đây là từ dùng để chỉ các loại nghệ thuật tạo
hình chủ yếu là hội hoạ, đồ hoạ và điêu khắc. Theo cách nhìn khác, từ mỹ thuật chỉ cái đẹp do
con người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhìn thấy được hay người ta còn dùng từ nghệ
thuật thị giác để nói về mỹ thuật.
Có nhiều cấp độ thưởng thức cái đẹp, phụ thuộc vào sự hiểu biết, khả năng thẩm mỹ và ý
- Hoàn thiện các kiến thức về thể loại, chất liệu căn bản của hội họa, đồ họa, điêu khắc.
Thái độ
- Biết và vận dụng kiến thức để phân tích được một tác phẩm cụ thể.
B) NỘI DUNG
Mỹ thuật là từ chỉ những loại hình nghệ thuật có quan hệ đến sự thụ cảm bằng mắt và sự
tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đa lên mặt phẳng hoặc một không
gian nào đấy. Mặt phẳng đó có thể là gỗ, giấy, vải, tường, trần nhà. Không gian có khi là ngoài
trời, có khi là trong một căn phòng nào đó… Ngôn ngữ mĩ thuật bao gồm các yếu tố như
hình – khối; đường – nét; màu – sắc; sự sắp xếp bố cục, nhịp điệu…
1.1. Ngôn ngữ mỹ thuật
1.1.1. Đường nét
Theo định nghĩa khoa học thì “Đường là tập hợp của nhiều điểm trong chuyển động”.
Trong tạo hình, đường nét là yếu tố ổn định nhất, nó là yếu tố cơ bản để tạo ra hình thể. Có nhiều
loại đường và nét. Ví dụ như: đường thẳng, đường cong, đường gấp khúc, đường tròn, đường
xoáy ốc… Nét đanh, nét thô, nét vung vẩy, nét chân thực, nét bay bướm, nét đóng, nét mở, nét
trơn, nét gai… Đường và nét được người nghệ sĩ sử dụng trong một tổ hợp, sự sắp đặt đó nhằm
mục đích tác động vào cảm giác của người xem và gây một hiệu quả nào đó về thẩm mỹ. Người
ta dùng nét vẽ để mô tả hình dạng cấu trúc, trạng thái của con người, sự vật và thiên nhiên, từ đó
đường nét truyền cảm trực tiếp đến tình cảm của con người qua thị giác. Nét có thể tạo mảng, tạo
hình, gợi khối và thậm chí gợi chất, gợi không gian. Nói đến khái niệm “đường- nét” sẽ bao gồm
nét và sự vận động của nét trong tác phẩm mĩ thuật. Khi xem xét một tác phẩm mĩ thuật cần chú
ý đến tính chất vật lý và sự biểu cảm của nét.
Đường nét với khả năng biểu đạt vô cùng đa dạng và phong phú của nó, đã là một yếu tố
tạo hình quan trọng làm nên tác phẩm mĩ thuật.
1.1.2. Màu sắc
Đường nét và màu sắc là những yếu tố tạo hình gắn liền với thị giác. Hai yếu tố tạo hình
này đã tạo nên đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ mĩ thuật. Màu sắc mang lại cho người xem sự
hứng khởi, niềm vui thích, lạc quan, yêu đời sự yên tĩnh, cảm giác thư thái, bình yên và cũng
chính màu sắc có thể mang đến cho ngời xem cảm giác ngột thở, sự sợ hãi, cảm giác buồn bã,
lạnh lẽo, cô đơn chán nản.
hình chữ nhật, hình elip, hình thoi, hình thang khi các hình kết hợp với nhau tạo ra thể tích,
không gian, đó chính là khối như khối lập phương, khối chữ nhật, khối tam giác, khối chóp
Nếu ta nhìn các khối ở một hướng mắt ta sẽ cảm nhận được một hình.
Mĩ thuật là loại hình nghệ thuật tạo hình, phản ánh thế giới hiện thực bằng các hình tượng
cụ thể, trực tiếp. Mỗi vật thể có một hình dáng nhất định. Vì vậy, trong các tác phẩm mĩ thuật
hình- khối đóng một vai trò quan trọng. Ngoài tính chất vật lý, khoa học các hình đều mang
trong nó tính biểu cảm, biểu đạt nhất định như tạo các cảm giác mạnh mẽ - nhẹ nhàng, thế động-
tĩnh Các nghệ sĩ tạo hình sẽ khai thác tính biểu cảm của hình khối để tạo hình trong tác phẩm
của mình.
1.1.4. Bố cục, nhịp điệu
Ở trên đã nói đến các yếu tố ngôn ngữ cơ bản của mĩ thuật: đó là đường nét, hình khối và
màu sắc. Ngôn ngữ nghệ thuật chưa phải là hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ đó chỉ trở thành hình
thức nghệ thuật khi nào nó được sắp đặt trong một tác phẩm nhằm phản ánh một nội dung cụ thể
nào đó. Như vậy, tuỳ theo nội dung chủ đề, các yếu tố ngôn ngữ tạo hình được người nghệ sỹ bố
trí, sắp đặt sao cho phù hợp, tạo ra tác phẩm đó chính là bố cục. Bố cục cũng có nhiều hình thức
biểu hiện: bố cục các nhân vật theo kiểu dàn đều hoặc theo tầng lớp, hàng nọ không che khuất
hàng kia. Thời kỳ Phục hưng người ta lại thích những bố cục theo kiểu cân đối chặt chẽ. Các
hình tượng trong tranh được sắp xếp trong các hình cơ bản, đặc biệt là hình tam giác tạo vẻ chắc
chắn hoặc bố cục tự do, đa dạng và rất phong phú. Khi sắp xếp các yếu tố đờng nét, hình khối,
màu sắc đã tạo nên nhịp điệu trong tranh, ngược lại chính nhịp điệu sẽ tạo nên sự sống động cho
các hình tượng nhân vật trong tác phẩm. Nhịp điệu của các mảng màu hay đường nét, hình khối
càng phong phú bao nhiêu thì tác phẩm càng đẹp và hấp dẫn bấy nhiêu. Vì vậy đối với mĩ thuật,
nhịp điệu cũng là một yếu tố ngôn ngữ. Nhịp điệu phản ánh sự vận động của các yếu tố ngôn ngữ
tạo hình trong tác phẩm, nó ẩn sau các yếu tố ngôn ngữ.
1.2. Đặc trưng ngôn ngữ
1.2.1. Đặc trưng ngôn ngữ hội họa
1.2.1.1. Khái niệm
Hội họa là loại hình nghệ thuật tạo hình đặc trưng bởi sự biểu hiện không gian trên bề
mặt, đó là một không gian ảo, chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác, với các yếu tố như đường
nét, màu sắc, hình khối, đậm nhạt, bố cục… để xây dựng hình tượng nghệ thuật, biểu đạt cuộc
không chỉ bằng thị giác mà còn có thể cảm nhận tác phẩm bằng xúc giác. Khi sờ tay vào bức
tượng ta sẽ cảm được sự sống động, mềm mại hay thô ráp, xù xì; ấm áp hay lạnh lẽo…
Tác phẩm điêu khắc tồn tại như một vật thể có trọng lượng, có khối, có thể tích và chiếm
chỗ trong không gian. Điêu khắc cũng là một loại hình nghệ thuật tạo hình vì vậy nó có chung
kênh ngôn ngữ như nhiều loại hình nghệ thuật tạo hình khác đó là hình khối, màu sắc, đường nét,
bố cục… Nhưng do đặc trưng của điêu khắc, các yếu tố đó được khai thác ở những góc độ khác
với hội hoạ hay đồ hoạ…
1.2.2.2. Đặc trưng ngôn ngữ điêu khắc
Khối
Tất cả mọi vật thể, kể cả hình tượng con người đều được tạo nên bởi sự biến dạng, thay đổi
của các khối cơ bản. Nếu tách riêng từng phần, hình thể con người là sự phối hợp của rất nhiều
khối. Đó là sự phối hợp hài hòa, cân đối và thống nhất để tạo ra một cơ thể sống sinh động. Sự
vận động của khối trong không gian đã tạo ra một hiện thực phong phú. Đó là đối tượng để nghệ
thuật điêu khắc theo đuổi và biểu hiện. Trong nghệ thuật ta thường thấy sự biểu hiện của điêu
khắc ở các dạng khối như: khối lồi – khối lõm, khối đóng – khối mở, khối mềm – khối cứng,
khối tĩnh – khối động…
Mỗi cách tạo khối đa lại cảm giác khác nhau: khối lõm, mềm, mở dễ gây cảm giác động
và ngược lại. Trong hội họa, khối và hình là do đường nét và đậm nhạt tạo ra còn trong điêu khắc
khối, hình là có thực, nó tồn tại trong không gian 3 chiều, ta có thể sờ thấy, cảm nhận được qua
xúc giác, có thể đi xung quanh nó và nhận ra sự biến động phong phú của nó qua mỗi hướng
nhìn. Đây là đặc trưng của điêu khắc. Khi xem xét khối trong một tác phẩm điêu khắc, ta không
chỉ chú ý đến hình dạng, tỉ lệ… của khối mà cần chú trọng cách tạo bề mặt của khối. Bề mặt
nhẵn, láng, khối tròn cho ta thấy sự mềm mại, uyển chuyển, gợi sự tĩnh tại giàu chất thơ, bề mặt
thô nháp, sần sùi lại cho ta nhiều cảm giác khác.
6
Trong điêu khắc cổ, các tác giả thường chú ý đến cách tạo hình giống thực. Do đó thường
biểu hiện hình tượng điêu khắc bằng khối tròn, chắc và đóng kín. Cách sử dụng khối kiểu này sẽ
tạo ra các tác phẩm điêu khắc mang tính hiện thực. Sang thế kỷ XX với những trào lưu nghệ
thuật hiện đại, các nhà điêu khắc cũng tìm cho tác phẩm của mình những cách biểu hiện khối
mới. Bên cạnh khối lồi, trong nhiều tác phẩm ta thấy xuất hiện khối lõm, những biến dạng của
tố màu sắc nhưng màu sắc cũng có vai trò biểu cảm đối với tác phẩm. Nếu bức tượng được tô
màu sẽ đa lại hiệu quả giống thực và làm cho tượng có vẻ đẹp lộng lẫy, sang trọng và linh thiêng
hơn.
1.2.3. Đặc trưng ngôn ngữ đồ họa
1.2.3.1. Khái niệm
Đồ họa là một trong những loại hình nghệ thuật xuất hiện từ lâu đời nhất. Nếu như ta bắt
gặp những hình vẽ hội họa trong các hang động từ khi con người biết làm đẹp cho cuộc sống của
mình, thì đồ họa dường như cũng xuất hiện đồng thời. Ở nước ta, ngay từ thời xa xưa, tranh khắc
gỗ dân gian đã gắn bó với cuộc sống của người lao động, nó là tiếng nói về những ước mơ
nguyện vọng của con người, là vũ khí đấu tranh chống áp bức, bóc lột, phê phán kẻ thống trị, phê
phán thói hư tật xấu của đồng loại và nó sống mãi, tồn tại mãi trong các tầng lớp nhân dân.
Ngày nay, đồ họa vẫn giữ một vai trò quan trọng và đáng kể trong sáng tác nghệ thuật và trong
đời sống nhân dân, nó góp phần giáo dục thẩm mĩ, góp phần phát triển trí tuệ và là điểm gốc, chỗ
dựa cho một số ngành khoa học kỹ thuật khác: thiết kế kiến trúc, công nghiệp, sơ đồ cho khảo cổ
học, bản đồ cho địa lý, lịch sử, quân sự… Khả năng nhân bản (sản xuất ra hàng loạt) là thế mạnh
của đồ họa, bởi vậy nó giúp đắc lực cho các ngành thông tin, tuyên truyền, cổ động, quảng cáo,
7
trong sáng tác in ấn xuất bản sách báo nó dựng trong phác thảo hình tượng, tái tạo các tác phẩm
hội họa, điêu khắc và giúp ích cho các ngành nghệ thuật khác.
1.2.3.2. Đặc trưng ngôn ngữ đồ họa
Đường nét, chấm, vạch
Những nét vạch khắc trên các vách hang động từ thời tiền sử đã khẳng định vai trò của
ngôn ngữ này đối với đồ họa. Trong hội họa, đường và nét luôn đi song hành với nhau, đường
chỉ ra một hướng, đường làm nên nét, tập hợp của nhiều đường đơn lẻ tạo ra nét vẽ và ngược lại
sự tập hợp của nhiều nét vẽ cũng tạo ra một đường hướng nhất định trong tranh. Cũng tương tự
như vậy, đồ họa sử dụng đường, nét, chấm, vạch là ngôn ngữ chính, chủ yếu và cơ bản để thể
hiện. Theo tiếng Hi Lạp “graphich” (graphique) có nghĩa là viết còn “graphic” trong tiếng Anh
lại là từ chỉ nghệ thuật viết và vẽ. Từ những khái quát trên mà yếu tố mảng, màu trong đồ họa trở
lên thứ yếu trong một số loại đồ họa, hay nói cách khác có một số loại đồ họa như: tranh khắc
gỗ, áp phích, cổ động, minh họa sách báo… đường nét trở thành cơ sở ban đầu, đường viền bao
Màu sắc có nguồn gốc tự nhiên và cũng chứa trong mình ý nghĩa xã hội. Theo phân tích
của vật lý thì ánh sáng trắng chính là sự tổng hợp của bảy màu: đỏ - da cam - vàng – lục – lam -
chàm – tím. Trong thực tế ta vẫn quen gọi đó là 7 sắc cầu vồng. Màu sắc có thể tạo cảm giác về
gần xa, nóng lạnh, nặng nhẹ… nhờ những tương quan.
Những màu nóng, đậm dễ gợi cảm giác gần, những màu lạnh, sáng gây cảm giác ngược
lại…Những màu đối chọi như lam với vàng hay lục với cánh sen, đỏ và xanh lục… cho chúng ta
cảm giác mạnh mẽ. Nếu trên tranh sử dụng những màu cùng sắc độ dễ gây cảm giác đều đều,
buồn bã hay êm ái, nhẹ nhàng… Màu sắc là một trong những yếu tố ngôn ngữ biểu đạt đóng vai
trò quan trọng của mĩ thuật.
8
Hình khối
Đối với cảm thụ của thị giác thì hình khối chính là do đường nét và đậm nhạt tạo thành
dưới tác động của ánh sáng. Như vậy, hình là đường viền của khối do đường nét tạo thành, còn
khối là do đậm nhạt tạo ra và được thị giác chấp nhận. Trong hình học có những hình cơ bản như
hình vuông, hình tròn, hình tam giác. Từ các hình cơ bản ta có những hình biến dạng như hình
chữ nhật, hình elip, hình thoi, hình thang khi các hình kết hợp với nhau tạo ra thể tích, không
gian, đó chính là khối như khối lập phương, khối chữ nhật, khối tam giác, khối chóp Nếu ta
nhìn các khối ở một hướng mắt ta sẽ cảm nhận được một hình. Mĩ thuật là loại hình nghệ thuật
tạo hình, phản ánh thế giới hiện thực bằng các hình tượng cụ thể, trực tiếp. Mỗi vật thể có một
hình dáng nhất định. Vì vậy, trong các tác phẩm mĩ thuật hình- khối đóng một vai trò quan trọng.
Ngoài tính chất vật lý, khoa học các hình đều mang trong nó tính biểu cảm, biểu đạt nhất định
như tạo các cảm giác mạnh mẽ- nhẹ nhàng, thế động- tĩnh Các nghệ sĩ tạo hình sẽ khai thác
tính biểu cảm của hình khối để tạo hình trong tác phẩm của mình.
Bố cục, nhịp điệu
Ở trên đã nói đến các yếu tố ngôn ngữ cơ bản của mĩ thuật: đó là đường nét, hình khối và
màu sắc. Ngôn ngữ nghệ thuật chưa phải là hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ đó chỉ trở thành hình
thức nghệ thuật khi nào nó được sắp đặt trong một tác phẩm nhằm phản ánh một nội dung cụ thể
nào đó. Như vậy, tuỳ theo nội dung chủ đề, các yếu tố ngôn ngữ tạo hình được người nghệ sỹ bố
trí, sắp đặt sao cho phù hợp, tạo ra tác phẩm đó chính là bố cục. Bố cục cũng có nhiều hình thức
biểu hiện: bố cục các nhân vật theo kiểu dàn đều hoặc theo tầng lớp, hàng nọ không che khuất
- Biết đặc điểm của từng thể loại và chất liệu mỹ thuật.
Thái độ:
- Hiểu đúng đắn được lịch sử phát triển của các thể loại và chất liệu trong mỹ thuật.
B) NỘI DUNG
2.1. Khái niệm nghệ thuật hội họa
Hội họa là một loại hình nghệ thuật tạo hình. Tuy vậy, để tìm hiểu sâu hơn về một loại
hình nghệ thuật, người ta thường phân chia thành nhiều thể loại nhỏ hơn. Sự phân chia này tuỳ
thuộc vào nhiều yếu tố. Có thể căn cứ vào nội dung đề tài, tác phẩm thể hiện. Ví dụ những bức
tranh vẽ về con người nhưng ở đó bộc lộ rõ cá tính, tính cách, đặc điểm riêng về ngoại hình, nội
tâm được gọi là thể loại tranh chân dung. Cũng về con người, nhưng những con người chung
chung đặt trong các sinh hoạt, hoạt động, công việc thì lại được xếp vào thể loại tranh sinh
hoạt
Khi phân loại người ta còn có thể căn cứ vào đặc điểm, tính chất, hình thức thể loại của
bức tranh hay khuôn khổ. Với tiêu chí này, hội họa có thể được chia thành các thể loại như: tranh
giá vẽ, tranh tường, theo cách hiểu thông thường tranh giá vẽ là thể loại tranh được thực hiện
trên giá vẽ, còn tranh tường là tranh vẽ trên tường hay còn gọi là bích họa.
Ngoài hai cách phân loại trên, chúng ta còn thấy có một số cách phân chia thể loại hội
họa khác. Cách phân loại này tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, châu lục hoặc phương
Đông, phương Tây Với phương Tây, hội họa bao gồm năm thể loại chính: tranh chân dung,
tranh sinh hoạt, tranh lịch sử, tranh phong cảnh, tranh tĩnh vật.
Đối với Trung Hoa, hội họa lại bao gồm tranh cuộn, tranh trục và tranh tường. Ngoài ra,
căn cứ vào nội dung, đề tài, tranh Trung Hoa được chia thành các thể loại như: Tranh sơn thủy,
tranh thảo trùng, tranh hoa điểu, tranh phong tục, tranh nhân vật, tranh tôn giáo (tranh Đạo -
Thích) tranh yên mã và tranh lâu các và nhiều thể loại tranh khác. Mặc dù vậy, khi vẽ sơn dầu thì
các hoạ sĩ Trung Quốc lại theo các thể loại Châu Âu. Nhìn chung, cách phân chia nào cũng
không hoàn toàn chính xác và hoàn thiện, có thể trùng lặp mà cũng có thể chưa kể hết các thể
loại.
2.2. Các thể loại hội họa châu Âu
2.2.1. Tranh sinh hoạt
Sinh hoạt (Life; Activities) là cuộc sống, đời sống hàng ngày. Tranh sinh hoạt là thể loại
động cảm xúc của người họa sĩ. Đối tượng chính được diễn tả trong tác phẩm tranh sinh hoạt vẫn
là con người. Hình tượng nhân vật trong tranh mang tính chất điển hình, chắt lọc bản chất của sự
việc, của con người trong thực tế với những diễn biến tâm lý và mỗi quan hệ đa dạng của họ.
Tranh sinh hoạt luôn thể hiện một tình yêu cuộc sống con người. Một đặc điểm nổi trội của tranh
sinh hoạt là tính chân thực và sống động. Có thể có nhiều cách biểu hiện, nhiều bút pháp đa dạng
song với thể loại tranh sinh hoạt, tả thực vẫn là phong cách chủ yếu nhằm biểu hiện cuộc sống
chân thực, sâu sắc và sinh động nhất.
2.2.2. Tranh chân dung
2.2.2.1. Khái niệm
Tranh chân dung là một thể loại căn bản của hội họa. Tranh chân dung vẽ một người hay
một nhóm người nào đó. Đối tượng của tranh chân dung đó là các nhân vật quan trọng, các anh
hùng, vĩ nhân, các nhà văn hóa, các nhà khoa học mà hình ảnh của họ được thể hiện và lưu giữ
lại cho đời sau. Tranh chân dung còn được vẽ về gia đình, người thân, bạn bè, những con người
bình thường. Đối tượng của tranh chân dung là những hình mẫu thực, hay bắt nguồn từ hình mẫu
thực.
2.2.2.2. Lịch sử phát triển và sự phân loại tranh chân dung
Tranh chân dung là một thể loại tranh có lịch sử lâu đời. Tuy vậy, có lẽ chậm hơn một
chút so với tranh sinh hoạt. Trong thời kỳ cổ đại với những nền văn minh sớm như Ai Cập, L-
ưỡng Hà, Hy Lạp, La Mã, Trung Hoa đã để lại khá nhiều tranh chân dung.
Ở thời kỳ La Mã cổ đại, để tôn vinh các hoàng đế La Mã nghệ thuật chân dung cũng rất phát
triển. Từ thế kỷ XV trở đi, tư tưởng nhân văn phát triển. Cùng với sự khám phá, nghiên cứu khoa
học, giá trị của con người cũng được phát hiện ra. Tranh chân dung cũng bắt đầu phát triển trở
lại. Những con người của thời đại Phục Hưng như những giáo hoàng danh tiếng, chân dung phụ
nữ được thể hiện.
Từ thế kỷ XVII đến nay, nghệ thuật tranh chân dung rất phát triển. Có những trường họa
chân dung nổi tiếng như trường họa Hác- Lem (Hà Lan) với đại diện như Phờ răng xhan. Một
trong những họa gia chân dung nổi tiếng Hà- Lan là họa sĩ Rem- brăng (Rembzandt) với những
tranh chân dung cá nhân hay tập thể nổi tiếng. Ngoài ra còn có nhiều tên tuổi khác như Giắc- cơ
Lui Đa-Vít (Jacques Louis David -1748-1825)), Đô- mi- ních-cơ- Anh- grơ (Dominique Ingres
11
cập tới một sự kiện lịch sử, một nhân vật trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc cũng như
lịch sử nhân loại, một giai đoạn cách mạng … Theo Từ điển thuật ngữ Mĩ thuật phổ thông, lịch
sử được hiểu ở phạm vi rộng. Đó là lịch sử một dân tộc, lịch sử một cá nhân hay lịch sử một giai
đoạn cách mạng.
2.2.3.2. Lịch sử phát triển của tranh lịch sử
Thể loại tranh lịch sử có nguồn gốc từ thời phục hưng sơ kỳ thế kỷ XIII – XV. Tuy vậy
với nguồn gốc này tranh lịch sử còn mang tính chất thần bí, tôn giáo mà chưa phải là những
trang sử của những con người. Đó là tranh lịch sử tôn giáo, lịch sử thần thoại. Từ thế kỷ XVII,
khi mà ở Châu Âu xuất hiện tầng lớp thị dân giàu có, muốn vươn lên thay thế giai cấp phong
kiến thì trong nghệ thuật tạo hình cũng nảy sinh thể loại tranh lịch sử diễn tả về những nhân vật,
sự kiện lịch sử hoặc đã xảy ra trong quá khứ hoặc đang xảy ra trong hiện tại. Lịch sử được làm
nên do những con người sống động thực sự. Từ đây đến thế kỷ XIX, tranh lịch sử thực sự đăng
quang. Với quan niệm này, loại tranh lịch sử cách mạng, lịch sử chiến trận xuất hiện. Trong lịch
sử có thể vẽ về các trận đánh lịch sử như trận Bô- rô- đi- nô, trận Oa- téc- lô, cuộc cách mạng tư
sản Pháp… Bên cạnh đó có thể vẽ một người anh hùng, ca ngợi hình tượng các lãnh tụ cách
mạng như tranh “Mara bị ám sát”, “Lễ đăng quang của Napôlêôn” của họa sĩ Tân cổ điển Đavít .
Trong quá trình phát triển của tranh lịch sử còn ghi nhận những tác phẩm tranh tường lịch sử của
Mêhicô với những tên tuổi như Si-kêy-rốt, Ri-vê-ra… Một thể loại tranh lịch sử hoành tráng xuất
hiện và phục vụ cho đông đảo quần chúng, cho cách mạng Mêhicô. Như vậy cùng với lịch sử
phát triển của thể loại lịch sử, ta cũng có thể phân loại tranh lịch sử bao gồm:
- Tranh lịch sử tôn giáo, thần thoại.
- Tranh lịch sử cách mạng, chiến trận.
12
- Tranh vẽ một nhân vật lịch sử.
2.2.3.3. Đặc điểm, tính chất của tranh lịch sử
Tranh lịch sử phải phản ánh một cách trung thành sự thật lịch sử. Lịch sử phải được nhìn
nhận ở góc độ đúng đắn, dưới thế giới quan của giai cấp để phân tích, để tìm hiểu và để vẽ cho
thật đúng với lịch sử. Đã là tranh lịch sử thì các hình tượng nhân vật, cảnh quan, không
gian… cũng phải mang tính lịch sử. Phải chú ý đến cả những yếu tố nhỏ nhất như trang phục,
đầu tóc, đồ trang sức (nếu có), cây cối, nhà cửa… để tác phẩm mang được tính lịch sử chân thực
một phần nhỏ của tác phẩm. Mãi đến tận thế kỷ XVII, khi người Hà Lan giành được độc lập,
tách ra khỏi xứ Phờ- lăng- đrơ, thoát khỏi sự phụ thuộc vương triều Tây- Ban- Nha, vì muốn lưu
giữ thể hiện những cảnh đẹp của đất nước mình, các họa sĩ Hà Lan mới vẽ tranh phong cảnh. Từ
đó, thể loại tranh phong cảnh mới xuất hiện và tồn tại đến ngày nay.
2.2.4.3. Đặc điểm và sự phân loại tranh phong cảnh
Đặc điểm
Dù là tranh phong cảnh hiện thực, ấn tượng, lãng mạn hay lập thể… thì đặc điểm nổi bật
và xuyên suốt vẫn là diễn tả, biểu hiện thiên nhiên ở mọi nơi, mọi lúc. Ở đó thiên nhiên đã gây
nên ấn tượng, cảm xúc mạnh mẽ cho họa sĩ. Trước hết tranh phong cảnh là một thể loại tranh
phản ánh chân thực các hiện tượng, cảnh tượng tự nhiên. Xem tranh phong cảnh, chúng ta có thể
cảm nhận được những nơi, những địa điểm, địa danh của quê hương, đất nớc ta. Chỉ riêng thể
loại phong cảnh lịch sử, do tâm hồn hoài cổ nêu trên nền của thiên nhiên thực, các họa sĩ có thể
tạo nên những kiến trúc cổ đại, những con ngời và sự tích cổ… Do đó bên cạnh yếu tố phong
cảnh, trong tranh loại này có thêm yếu tố lịch sử. Vì vậy khi xem tranh phong cảnh lịch sử của
Pútsanh hay Lo-ranh chúng ta có cảm giác được trở về với lịch sử cổ đại. Ở đó vương vấn yếu tố
13
lãng mạn, yên bình, tĩnh lặng… trên nền của những cảnh thực mà bất kỳ ngời ý nào cũng dễ
dàng nhận ra. Người nghệ sĩ khi vẽ tranh phong cảnh, ngoài sự mô tả sự thật tự nhiên, họ
còn “thổi” vào phong cảnh những hơi thở nồng ấm của cảm xúc vui buồn, cô đơn, hờn giận hay
cảm thông chia sẻ… Họ gửi gắm vào phong cảnh những tình cảm đó và thông qua tranh phong
cảnh để bộc lộ lòng mình khi lời nói không thể hiện được.
Qua tranh phong cảnh, chúng ta có thể dễ dàng cảm nhận được những tâm trạng tình
cảm đó của nghệ sĩ.
Phân loại tranh phong cảnh
Tranh vẽ về nội dung gì thì nó là thể loại ấy: Ví dụ tranh phong cảnh nông thôn, tranh
phong cảnh đô thị, tranh phong cảnh điểm người, vật… Nếu dựa vào phong cách, bút pháp ta có
những loại phong cảnh như: phong cảnh lịch sử, phong cảnh lãng mạn, phong cảnh ấn tượng,
phong cảnh lập thể… Nhưng cho dù ở loại nào, tranh phong cảnh vẫn nhằm mục đích ca ngợi,
tìm hiểu, khám phá vẻ đẹp nhiều mặt: màu sắc, hình khối… của thiên nhiên, đất nước. Thông
qua đó bộc lộ tư tưởng, tình yêu cảnh đẹp quê hương, đất nước, con người.
các đồ vật khác. Qua đó, tác giả cho ta thấy rõ đời sống thường ngày của những người dân thế kỷ
XVI, XVII. Tác phẩm được thể hiện nhằm mục đích ca ngợi cuộc sống vật chất ngày càng phong
phú của con người.
Trong các thế kỷ sau, tranh tĩnh vật đơn giản hơn về mẫu vật, đối tượng diễn tả, có khi
chỉ là một bình hoa hay một vài trái quả. Nhưng tranh diễn tả có khối, có chiều sâu không gian.
Thế kỷ XIX, sự ra đời của khuynh hướng nghệ thuật ấn tượng kéo theo nhiều cuộc cách mạng
lớn đối với nghệ thuật hội họa. Tranh tĩnh vật ở thời kỳ này dường như được gắn thêm một chức
năng mới, các tác giả còn dùng nó để biểu hiện quan điểm nhìn nhận và sáng tác của mình.
14
Tranh tĩnh vật còn cho ta thấy đặc điểm riêng, độc đáo, những đặc sản hoa, quả, chim muông,
thú vật của từng địa phương, vùng miền đất nước. Người xem tranh sẽ thấy được vẻ đẹp, sự quí
giá và lợi ích của hoa lá, đồ vật, con vật mà người họa sĩ đã chọn lọc, khắc họa và ngợi ca. Qua
đó truyền tình yêu quê hương, đất nước và ham muốn tham quan, khám phá những đất nước
khác trên thế giới cho mọi người.
Tĩnh vật là một thể loại tranh tương đối mới so với mỹ thuật truyền thống của dân tộc ta.
Trước thế kỷ 20, ở Việt Nam tranh tĩnh vật chưa có một sự tồn tại độc lập với ý nghĩa là một thể
loại tranh riêng biệt. Trong mỹ thuật dân gian, chủ yếu của dòng tranh Đông Hồ, Hàng Trống,
“Ngũ quả” là một trong những tranh tĩnh vật hiếm hoi còn thấy được. Ngoài ra còn có dạng tranh
tứ bình (mai, lan, cúc, trúc) cũng tương đối phổ biến. Tuy nhiên, có thể nói tranh tĩnh vật như
một thể loại chỉ thực sự xuất hiện và phổ biến ở nền hội họa hiện đại. Trước khi Trường Mỹ
thuật Đông Dương ra đời một vài tác giả Việt Nam cũng đã vẽ tranh tĩnh vật, tuy điều này về mỹ
cảm khác với quan niệm truyền thống.
Giai đoạn sau của nghệ thuật Việt Nam, nhất là từ năm 1954 đã phát triển một cách mạnh
mẽ, trong đó có mảng tranh tĩnh vật. Tranh sơn mài “Tĩnh vật” của Lê Huy Hòa tuy là một bức
tranh nhỏ nhưng có dấu ấn rất lớn cho thể loại này giai đọan thập niên 60 thế kỷ trước. Với
không gian chật và đơn giản, cái động và tĩnh trong tranh được thể hiện qua sự tinh tế và chắt lọc
của hình theo ngôn ngữ hội họa phương Đông. Những nét mảnh và rối của cánh hoa màu trắng
chuyển động trong cái khung tĩnh của chiếc ghế tre, đường cong của chiếc bình ẩn trong hình
vuông của ghế và thổ cẩm, tạo ra từng cặp đối xứng giữa tĩnh và động làm thành một không gian
vừa lặng lẽ vừa vui tươi.
Bước ngoặt quan trọng đã đưa thể loại tranh phong cảnh tách khỏi tranh nhân vật vào đời
Hán tới đời Đường thì hoàn chỉnh cả về bút pháp lẫn ý tưởng sáng tạo. Lý Tư Huấn và Vương
Duy là những người khái quát ra thể loại “tranh lục sơn thuỷ” và “thuỷ mặc sơn thuỷ”.
Tranh sơn thuỷ không chỉ là một bức cảnh đẹp của thế giới vật chất mà chính là cái đẹp ở
thái độ tâm lý của tác giả khi tiếp xúc với thế giới sự vật hiện tượng. Dù chỉ là sỏi đá, là những
bụi cây cằn cỗi, mộc mạc nhưng với một thái độ đẹp, một tâm lý đẹp người ta đã chuyển hoá nó
thành những bức tranh đậm tình người. Chỉ với một tờ giấy, một mảnh lụa mỏng, một chút mực
và một cây bút lông người nghệ sỹ Trung Hoa đã khéo dựng một nền nghệ thuật hội hoạ sơn
thuỷ rất độc đáo mang tính chất dân tộc riêng của Trung Hoa có những thành tựu đóng góp to
lớn dùng cái đẹp tượng trưng qua bức tranh đã làm cảm hoá lòng người. Tất nhiên mọi thứ đều
có những biến động nhưng tranh sơn thuỷ cũng có một thời của nó.
2.3.1. Tranh phong tục
Phong tục theo nghĩa đen là những thói quen trong xã hội. Lúc mới xuất hiện tranh phong
tục đề cập tới những đề tài mang tính giáo dục, giáo huấn, những lời răn dạy của bề trên với kẻ
dưới như tranh “ Nữ sử châm đồ quyển” của Cố Khải Chi. Nhưng về sau, nội dung của tranh
phong tục là những sinh hoạt, hoạt động của con người trong xã hội. Tranh phong tục cũng có
thể coi như giống thể loại tranh sinh hoạt trong thể loại châu Âu.
2.3.2. Tranh nhân vật
Đây là thể loại tranh cũng vẽ về con người, song khác tranh phong tục. Đôi khi cũng khó
phân biệt hai thể loại này. Tuy vậy, tranh nhân vật manh tính chất đặc tả tính cách, ít đề cập tới
bối cảnh. Tranh nhân vật gần với thể loại tranh chân dung của châu Âu. Cùng với tranh nhân vật
còn có thể loại tiếu tượng. Đây cũng là thể loại tranh vẽ con người nhưng vẽ theo tưởng tượng,
mang tính lý tưởng hoặc tượng trưng. Tranh nhân vật đề cập đến nhiều đối tượng con người như
chân dung các nhà thơ, nhà sư, các vị tổ của Khổng giáo, Đạo giáo, Phật giáo hoặc các nhân vật
trong cung đình, các bậc đại phu…
2.3.3. Tranh sơn thủy
Tranh sơn thủy là một thể loại tranh diễn tả phong cảnh, trong đó hai đối tượng chính
được chú trọng là núi và nước.
Tranh sơn thủy được bắt đầu từ khoảng thế kỷ VII, từ thế kỷ XIII trở đi là thể loại phát
triển lấn át cả tranh nhân vật. Đời Đường với Ngô Đạo Tử là người sáng tạo ra thể loại sơn thủy,
mài chính là lúc họa sĩ tạo nên hiệu quả và thành công cho tác phẩm của mình. Vì vậy, từ khoảng
1931- 1932 đến 1935 các họa sĩ Việt Nam đã nghiên cứu để đa chất liệu sơn ta trong sáng tạo mĩ
nghệ thành chất liệu sơn mài trong hội họa.
2.4.1.2. Các nguyên liệu sử dụng trang trí
Chất liệu sơn mài là nhựa của cây sơn trộn với màu vẽ ở dạng bột thành sơn vẽ. Cây sơn
có nguồn gốc ở vùng trung du Phú Thọ.
Trên thế giới, người Á châu đã sớm dùng nhựa cây này (Trung Quốc). Thời kỳ nhà Chu
các tầng lớp quý tộc có nhu cầu trang trí kiến trúc rất lớn, do đó sơn mài phát triển mạnh. Sự
xuất hiện chất liệu kèm theo kỹ thuật pha chế và vẽ sơn. Thời kỳ này chưa có sự phát triển trong
nghệ thuật tạo hình. Màu sắc chỉ dừng lại ở các màu cơ bản: Đỏ, đen, vàng, bạc. Đến thời kỳ nhà
Hán, nghệ thuật sơn ta phát triển mạnh, mở ra hành loạt xưởng sơn mài, mang tính chất thủ công
mỹ nghệ. Họ dừng lại ở 3 lối vẽ cơ bản:
- Phẳng: Trên vật dụng chấm rất ít sơn, vẽ phẳng lên trên sản phẩm làm nền.
- Vẽ nổi: Dùng nhựa sơn một cách thoải mái tạo trên bề mặt lồi, lõm như bức phù điêu.
- Vẽ xong rồi mài bóng.
Một sản phẩm sơn mài sử dụng khá nhiều nguyên liệu: đó là sơn, màu và các nguyên liệu
khác. Có thể kể ra đây một vài nguyên liệu phổ biến như:
Sơn: khai thác từ nhựa cây sơn, ngoài ra còn dùng dầu trẩu, dầu trám, nhựa thông, và nhựa dó
Màu: sơn mài cổ truyền dùng 2 màu cơ bản là sơn cánh gián và sơn then, loại màu chế từ khoáng
chất vô cơ (ví dụ: son) nên không bị phân huỷ trước ánh sáng và thời gian.
Các sản phẩm từ vàng, bạc như bạc thếp, bạc dán , bạc xay, bạc dầm
Các vật liệu khác: vỏ trứng, vỏ trai, vỏ ốc, bột điệp
Ngày nay, người ta đã chế tạo thành công các loại sơn công nghiệp có thể thay thế các
loại sơn mài cổ truyền do có nhiều ưu điểm, nhất là dễ dàng trong sản xuất tranh và màu sắc thì
vô cùng phong phú.
2.4.1.3. Vài nét về sự hình thành và phát triển chất liệu sơn mài ở Việt Nam
Dấu mốc quan trọng là năm thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương. Màu sắc cũng vẫn
chỉ ở bảng màu cổ truyền: đỏ- đen - vàng được qui định cho từng hoạ tiết. Năm 1932 bắt đầu mài
bóng, bảng màu phong phú hơn. Việc lấy nhựa của cây sơn để pha chế và sử dụng trong trang trí
mĩ nghệ và đồ dùng phục vụ cuộc sống hàng ngày đã được nghiên cứu biết đến từ rất sớm ở
sơn mài ngày càng đa dạng và sâu sắc.
Kỹ thuật thể hiện
Muốn có một bức tranh sơn mài, người họa sĩ phải trải qua một quá trình lâu dài với kỹ
thuật phức tạp bao gồm các khâu:
+ Phác thảo, làm bản vẽ nét, hình chi tiết – can hình lên vóc, vẽ chi tiết, mảng dát vàng, bạc, vỏ
trứng phủ sơn và ủ cho sơn khô, mài bằng đá màu (đá gan gà) than uran hoặc giấy ráp với nước
trong, sạch, đánh bóng.
Khả năng biểu đạt của chất liệu sơn mài
Tranh sơn mài giầu hiệu quả trang trí, sang trọng, lộng lẫy mà sâu thẳm, lung linh. Không
gian trong tranh sơn mài thường là ước lệ. Có khi chỉ là nền vóc đen, đỏ. Tuy vậy bằng cách sắp
xếp các mảng màu nhân vật chi tiết gợi cho người xem cảm giác về không gian sống động, xa
thẳm mà rất tinh giảm. Ánh sáng trong tranh sơn mài cũng là ánh sáng mang tính ước lệ, tượng
trưng bằng cách sử dụng các mảng sáng, tối phẳng ít diễn khối. Khả năng biểu đạt cao của sơn
mài đã dẫn đến thành công trong nhiều thể loại như: “Chiều vàng” của họa sĩ Dương Bích
Liên “Tĩnh vật” của Lê Huy Hòa; “ Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” của Nguyễn Sáng; “Lò nồi
thủ công” của Nguyễn Kim Đồng, “Em Liên” của Huỳnh Văn Gấm. Sơn mài có thể biểu hiện
thành công nhiều mảng đề tài: Nông nghiệp, công nghiệp, đấu tranh, lịch sử, chân dung thiếu
nữ… Bút pháp tả thực kết hợp với cách dùng mảng phẳng trang trí đã tạo nên vẻ đẹp riêng cho
tranh sơn mài.
Sơn mài với cách làm vóc, chất liệu sơn ta và kỹ thuật đa dạng đã trở thành một chất liệu
khá bền chắc. Tranh sơn mài có thể giữ được lâu, màu sắc ít bị đổi thay do thời gian. Mặc dù có
rất nhiều ưu thế, song với sự độc đáo về nguyên liệu làm tranh, kỹ thuật phức tạp, đôi khi còn lệ
thuộc vào thời tiết đã phần nào hạn chế đến sự phổ biến rộng rãi chất liệu trong công chúng.
Hạn chế
- Chất liệu đắt, kỹ thuật khá phức tạp.
- Khả năng tả thực bị hạn chế, không phong phú, đa dạng như các chất liệu khác, nhất là trong tả
khối và tả chất.
2.4.2. Sơn dầu
2.4.2.1. Khái niệm
Nếu như sơn mài đặc biệt là ở kỹ thuật, thì cái tạo nên đặc điểm cho chất liệu sơn dầu
ra cũng có thể vẽ sơn dầu trên bìa cát tông…
Khả năng biểu đạt cảm xúc cũng như khả năng tả chất, tả khối, ánh sáng của sơn dầu có
thể nói là hàng đầu trong các chất liệu vẽ tranh. Sơn dầu cũng là chất liệu bền, chắc với thời gian.
Những tác phẩm của các hoạ sĩ thời Phục Hưng đến nay vẫn còn nguyên màu sắc ban đầu. Tuy
vậy, muốn tranh bền lâu không bị xỉn, xuống màu người vẽ cần nắm chắc kỹ thuật vẽ sơn dầu.
Sơn dầu là chất liệu thích hợp với nhiều đề tài, nội dung, không bị hạn chế như một số
chất liệu khác. Mặt khác do đặc tính của sơn dầu nên cũng có thể tạo nên nhiều bút pháp phong
phú. Có thể vẽ dày như trát vữa, vẽ nét tút tát nhưng cũng có thể vẽ mỏng, mịn màng, vờn khối
nhẹ nhàng…
Tuy có nhiều ưu thế, song sơn dầu cũng có một số hạn chế. Màu vẽ là hóa chất, do đó khi
pha trộn với nhau có thể tạo ra các phản ứng, tạo thành hợp chất mới có màu khác. Vì vậy tranh
sơn dầu để lâu cũng không tránh khỏi bị xỉn, xạm màu hay phai, bạc. Nền tranh là gỗ, vải… rất
phong phú và dễ tìm kiếm. Song cũng có hạn chế do ẩm thấp, mối mọt gỗ dễ bị hỏng. Nền vải thì
lại khó cố định, do đó khi di chuyển, mang vác cần giữ gìn để tránh cho nền tranh bị rạn, nứt.
2.4.3. Lụa
2.4.3.1. Tranh lụa
Tranh lụa là một trong những loại hình nghệ thuật có từ lâu đời của Việt Nam, Trung
Quốc, Nhật Bản. Khác với các loại tranh khác, ở đây, họa tiết được thể hiện trên tấm vải lụa. Ở
Việt Nam ngày nay còn lưu lại một bức chân dung Nguyễn Trãi và một bức chân dung Phùng
Khắc Khoan từ đời nhà Lê. Tranh lụa hiện đại Việt Nam mới ra đời từ thập niên 1930. Điểm
khác biệt nhất giữa kỹ thuật vẽ tranh lụa cổ và tranh lụa hiện đại Việt Nam là ở chỗ: tranh lụa cổ
thường được vẽ trực tiếp trên lụa khô, trong khi quá trình tranh lụa hiện đại giống như sự nhuộm
đi nhuộm lại màu lên mặt lụa; lụa được căng trên khung gỗ và trong quá trình vẽ họa sĩ có thể
rửa lụa nhiều lần rồi vẽ tiếp tới khi như ý. Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) được coi là họa sỹ
đã khai phá loại hình tranh lụa hiện đại Việt Nam. Những bức vẽ thành công của ông có một
phong vị đặc biệt Việt Nam, đồng thời phù hợp với quan niệm hội họa hiện đại: những mảng
màu đơn giản, ấm áp, nhuần nhị, những đường viền mềm mại, những khoảng trống rất đúng chỗ.
Ngoài ra, nhân vật và bối cảnh Việt Nam được nghiên cứu đơn giản và cách điệu độc đáo. Thành
công của ông đã lôi cuốn các bạn cùng lứa và các họa sỹ thuộc lớp sau, mỗi người đã đóng góp
làm phong phú thêm kỹ thuật vẽ tranh lụa. Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Lê Thị Lựu là những người
kháng chiến chống thực dân Pháp. Vào cuối giai đoạn kháng chiến này, đã xuất hiện một số hoạ
sĩ vẽ lụa mới: Lê Vinh, Phan Thông, Trọng Kiệm…
Tranh lụa của thời kỳ này có thêm những yếu tố mới. Các hoạ sĩ đi sâu vào nhiều đề tài
của cuộc kháng chiến. Năm 1955, sau hoà bình lập lại, trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam
được mở cửa tại Hà Nội với khoá trung cấp mang tên Tô Ngọc Vân. Năm 1957, trường mở khoá
đại học đầu tiên sau hoà bình. Từ đó chuyên khoa lụa được chính thức đưa vào chương trình đào
tạo. Cho đến nay, có nhiều hoạ sĩ vẽ lụa. Khuynh hướng của thời kỳ sau này mang nhiều vẻ, rất
phong phú. Có những hoạ sĩ cố tìm cách đơn giản, cô đọng, có những hoạ sĩ lại dùng những hoà
sắc mạnh mẽ hơn, không chỉ dừng lại ở các hoà sắc êm dịu.
2.4.3.3. Nghệ thuật và đặc tính của tranh lụa
Vấn đề tạo hình
Khi xây dựng hình bao giờ hoạ sĩ cũng tìm mảng hình khái quát của sự vật ở toàn bộ hình
mảng chung của sự vật ấy một cách gạn lọc. Trong sự gạn lọc này, người hoạ sĩ phải có mỹ cảm
để nhìn nhận sự vật, phải đứng ở góc độ nào để thấy được vẻ đẹp điển hình. Qua sự xây dựng
hình, còn cần chú ý đến cấu tạo của nét. Nét được cấu tạo trong sự vật có nhịp điệu, thường được
hoạ sĩ phương Đông khai thác, nhưng nét cũng phải được chọn lọc để thống nhất với hình.
Sự sinh động trong tạo hình của tranh lụa là một yêu cầu quan trọng vì không gian trong
tranh lụa đã giản lược, góc độ ánh sáng chiếu vào từng sự vật đã gạn lọc đi rồi. Vì vậy, việc xây
dựng hình trong tranh lụa cần có một phương pháp nhận xét linh hoạt, tế nhị, làm sao để hình có
sức sống, có thần. Nhân vật trong tranh dù ngồi yên lặng cũng phải thấy được sự sinh động.
Vẻ đẹp của tranh lụa cho ta một cảm giác tươi mát, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh thoát.
Đi vào nghệ thuật vẽ tranh lụa, hoạ sĩ phải có khả năng nhận xét nhạy bén và thấu đáo về bản
chất của sự vật, không những chỉ về hình thức của sự vật, mà cả về tinh thần cốt cách của đối
20
tượng. Sự vật được thể hiện thông qua người hoạ sĩ vẽ lụa phải gạn lọc và nâng lên để thấy hiện
thực hơn. Do đó, tranh lụa không cho phép sao chép thực tế.
Hoạ sĩ vẽ lụa cảm xúc và thể hiện sự vật không bằng bề mặt phiến diện của nó, họ đi vào
bề sâu để tìm một sự thực bản chất của sự vật và đều tìm được đúng vẻ đẹp điển hình.
Đặc tính nghệ thuật của tranh lụa là do sự cấu tạo trong tạo hình, trong bố cục của mỗi
hoạ sĩ. Do cảm xúc khác nhau, phong cách khác nhau của mỗi hoạ sĩ, mà tranh lụa cũng phong
các bố cục của Việt Nam xưa như trong tranh dân gian, tranh thờ và các phù điêu cổ, mà ngày
nay các hoạ sĩ Việt Nam đã khai thác và phát triển trong nhu cầu muốn cô đọng và tập trung vào
chủ đề. Trong trường hợp hoạ sĩ không dùng phối cảnh, các mảng trống trong tranh trở thành yếu
tố, là thành phần của bố cục. Hoạ sĩ phải làm cho những mảng hình và mảng bỏ trống ăn ý, hoà
hợp với nhau. Mảng trống làm tôn ý chính của toàn bộ bức tranh.
Vai trò của các mảng trống là tạo nên nhịp điệu cho bố cục. Vì vậy khi tìm bố cục tức là
sự phân bố giữa các mảng hình và các mảng trống.
Màu sắc và hiệu quả ánh sáng trong tranh lụa
Từ bố cục đến xây dựng hình cho tranh lụa đã là một sự gạn lọc cô đọng thì màu sắc cũng
vậy. Hoạ sĩ vẽ lụa cũng lấy màu sắc thiên nhiên làm tài liệu. Nhưng khi đã được sự gạn lọc của
cảm xúc, thì vẻ đẹp của màu sắc cũng do hoạ sĩ sáng tạo để rút ra vẻ đẹp của màu sắc tập trung
cho cảm xúc ấy.
Sự hài hoà trong màu sắc của mỗi hoạ sĩ, cũng là tiếng nói cảm xúc và phong cách của mỗi
hoạ sĩ. Sự hình thành màu sắc trong một tranh lụa cho phép hoạ sĩ hoàn toàn chủ động. Vì trong
khi thể hiện không bao giờ trực tiếp diễn tả sự vật, mà người hoạ sĩ đã phải hiểu sự vật từ trước
21
rồi, vả lại sự diễn tả đã không còn là sự sao chép tự nhiên nữa. Nhưng màu sắc lại đi đôi với độ
như bóng với hình. Màu không có độ thì màu bị nhợt nhạt.
Các tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh trước năm 1945 gần như chỉ dùng một hoà sắc nâu
đen. Những mảng màu đen, nâu chín đến độ nhìn không biết chán mắt. Nhìn kỹ những màu nâu
của Nguyễn Phan Chánh ta thấy nó sâu óng ánh có cả lục, vàng, đỏ trong đó.
Ánh sáng trong tranh lụa do nhịp điệu và sắc độ của mỗi sự vật, do sự sắp xếp cung bậc của hoạ
sĩ tạo ra.
Bức tranh có nhịp điệu sinh động cho cảm giác như có sáng tối. Sáng, tối do sắc độ của
các sự vật mà thành chứ không phải do ánh sáng ở đâu chiếu vào từng sự vật. Không diễn tả trực
tiếp ánh sáng, nhưng màu sắc và độ của toàn bộ bức tranh đã cho cảm giác về ánh sáng. Đó là
một đặc điểm của tranh lụa.
Sự trong trẻo và mềm mại của mặt lụa đã cho cảm giác dễ chịu. Có khi toàn bộ bức tranh
sáng sủa cũng cho cảm giác đầy ánh sáng. Việc sử dụng chất nước trong khi pha màu làm cho
ranh giới màu sắc nhuyễn với nhau khiến ta không phân biệt sự sắc cạnh của từng mảng màu.
ra bàn để vẽ như vẽ trên giấy. Hoạ sĩ Trung Quốc thường vẽ nét, chủ yếu là mực đen, điểm màu,
nét vẽ rất phong phú và sinh động, lúc đậm lúc nhạt, lúc nét khô, lúc nét nhoè.
- Tính chất của tranh phương Bắc Trung Quốc: tranh phương Bắc Trung Quốc thường vẽ tranh
nhân vật là chính, bố cục chặt chẽ, nét vẽ trau chuốt, màu sắc nhẹ.
- Tính chất của tranh phương Nam Trung Quốc: khuynh hướng vẽ tranh phong cảnh là thịnh
hành. Đời Tống có Mã Viễn và Hạ Khuê là những người khởi xướng lối vẽ thuỷ mặc. Mã Viễn
dùng mảng nhiều, có chỗ bỏ lửng làm thấp thoáng những mỏm núi khóm cây, gợi không gian xa
xa. Đến nay tranh đời Đường còn lại rất ít, một số tranh được vẽ lại ở đời Tống. Tranh Đường và
22
Tống có nhiều nét hiện thực, về phương pháp người ta nghiên cứu sâu bằng cách quan sát và
nhập tâm.
Thời cổ, nhiều hoạ sĩ Nhật Bản sang học ở Trung Quốc. Một số khi về nước rồi tìm ra lối
vẽ có tính chất dân tộc. Thời kỳ đầu tranh phong cảnh Nhật giống tranh lụa Trung Quốc. Thời kỳ
sau người ta dùng mảng đơn giản, không diễn tả chiều sâu. Những đường thẳng thường vẽ bằng
thước kẻ, và hầu như không diễn rả không gian. Người Nhật còn vẽ thếp vàng, dùng nhiều màu
xanh của ngọc thạch tán ra pha với keo da hươu, dùng trắng của vỏ sò giã mịn. Người vẽ thuỷ
mặc đầu tiên của Nhật là Sesshu (1420-1506). ông là người đã từng sang tìm hiểu hội hoạ của
Trung Quốc (1467).
Nghệ thuật tranh lụa Việt Nam còn rất trẻ. Nó là sự tiếp thu những phương pháp khoa học
của châu Âu, kết hợp với sự thừa kế những di sản nghệ thuật dân tộc, mà có được phương pháp
sáng tác và phương pháp xử lý kỹ thuật riêng. Ở Việt Nam đã có rất nhiều hoạ sĩ vẽ lụa. Kỹ thuật
vẽ tranh lụa cũng phát triển qua quá trình sáng tác của nhiều thế hệ hoạ sĩ.
2.4.3.5. Chất liệu, dụng cụ dùng cho vẽ tranh lụa
Lụa để vẽ
Lụa vẽ thường là lụa tơ tằm, không lỗi, mịn hoặc hơi thô, dệt thủ công hay dệt bằng máy.
Gần đây, do yêu cầu của ngành mỹ thuật, các nhà máy dệt đã sản xuất loại lụa chuyên dùng để
vẽ tranh, mỏng và hơi thưa, nhìn rõ thớ lụa.
Màu vẽ trên lụa
Hoạ sĩ Trung Quốc trước đây hay dùng mực tàu và các màu chế biến từ đá, đất son đánh
thành thỏi, khi vẽ mài vào từng bát hay nghiên mực. Tranh cổ còn dùng cả vàng thếp. Thông
23
rồi lại tiếp tục vẽ. Nhiều hoạ sĩ khác cũng đã dùng phương pháp này. Do đó nhất thiết phải có
khung căng lụa, không thể trải lụa ra vẽ như các hoạ sĩ Trung Quốc.
- Khung căng lụa không cần dày quá như khung căng vải vẽ sơn dầu vì lụa mỏng manh không
cần căng mạnh.
- Gỗ làm khung căng lụa cần hơi mềm để có thể cắm đinh dễ dàng.
- Mặt gỗ của khung phía giáp với mặt lụa cần bào nghiêng vát đi 45 độ để tránh khi lụa gặp
nước, chùng xuống không bị dính vào mặt khung quá nhiều.
Cách căng lụa: Căng lụa lên khung có thể dùng hồ dính dán lụa vào thành khung hoặc dùng
đinh rệp.
Cách 1: Căng lụa bằng hồ dán
Hồ phải thật dính, dùng hồ nếp quấy chín đặc, cũng có thể dùng sợi bún. Hồ bôi kín bốn
cạnh ngoài của khung, dính tạm lụa lên bốn cạnh khung dùng bút lông rộng bản quét nước trong
lên mặt lụa để lụa giãn chùng ra sau đó lần lượt dán chặt một cạnh, vừa căng vừa miết mạnh
cạnh đối diện sao cho lụa bám chắc vào khung, chú ý sao cho thớ lụa thẳng.
Cách 2: Căng lụa bằng đinh rệp (punaises)
Dùng đinh dính tạm thời lên 4 cạnh khung, lấy bút to bản quét nước đều kín mặt lụa cho
lụa dãn ra, sau đó lần lượt dùng đinh căng từng cạnh đối diện nhau. Khi kéo lụa để cắm đinh cần
giữ cho thớ lụa thẳng, không bị vặn vẹo
Hồ lụa Với loại lụa chưa hồ dễ nhòe loang khi vẽ màu, muốn dễ vẽ cần phải hồ.
Cách hồ lụa
Sau khi lụa đã căng và khô, dùng nước cơm chắt lúc cơm sôi, hơi sánh hoặc có thể dùng
bột tẻ (bột lọc) quấy loãng, một cục phèn chua nhỏ bằng hạt ngô cho vào chén nhỏ, đổ một chút
nước sôi cho phèn tan ra rồi đổ nước phèn lẫn vào nước cơm, dùng bút sạch khuấy đều cho nước
phèn tan đều trong nước cơm (trên lưng bát cơm cho một khuôn khổ lụa 80 x 60).
Chú ý: Không nên cho nhiều phèn chua, mặt lụa sẽ bị đanh lại khó bắt màu.
Dùng bút lông rộng bản quét đều nước cơm lên mặt lụa bằng cách quét ngang rồi quét dọc
sao cho nước cơm được dàn đều trên mặt lụa. Quét xong để mặt lụa nằm ngang để tránh hồ dồn
đọng về một phía. Chú ý không để ruồi đậu hay gián bò lên mặt lụa hồ ướt. Vết chân của chúng
làm cho mặt lụa bị những vết mất hồ, khi vẽ lụa sẽ bị chỗ ăn nhiều màu chỗ ăn ít màu. Khi hồ
Thông thường, ý định sáng tác của hoạ sĩ chuẩn bị qua các bước phác thảo. Đối với người
mới vào nghề thì bước chuẩn bị này rất quan trọng. Chỗ dựa của ý định bố cục là các tư liệu,
những ký hoạ đã ghi chép từ trước. Cũng như các chất liệu khác, bố cục tranh lụa cũng tuân theo
các qui luật bố cục đã được đúc kết. Chỗ khác là hoạ sĩ cần tìm tòi gạn lọc để bố cục đáp ứng
được cảm xúc của mình và phù hợp với chất lụa vốn mỏng manh, nhẹ, trong trẻo và óng ả.
Nhiều khi, ý định sáng tác nảy ra tử tiếp xúc với thực tế, có lúc những ghi chép nhanh, bất
chợt lại gợi cho hoạ sĩ ý định bố cục. Nhưng khi ý định hình thành rồi, nghĩa là được phác ra trên
giấy rồi, thì cần có những nghiên cứu bổ sung vì những ghi chép nhanh thường không đầy đủ.
Việc nghiên cứu bổ sung lại giúp nảy sinh ra những ý mới và làm cho bố cục hoàn chỉnh.
Nhiều người ít quan tâm đến việc chuẩn bị này. Họ thường thiếu kiên nhẫn trong việc
nghiên cứu sâu, và cứ yên trí với những tư liệu sơ lược. Việc tìm hoà sắc cho bố cục cũng vậy,
cần tìm ra hoà sắc cho thích hợp và việc này cũng đòi hỏi kiên nhẫn.
Phóng to phác thảo bố cục
Phác thảo thường được tìm ở khuôn khổ nhỏ, dễ quán xuyến toàn bộ bố cục và có thể điều
phối các mảng hình nhanh chóng. Khi phác thảo đã ổn định thì phóng to bằng khuôn khổ lụa
định vẽ. Khi phóng to lên, lại có thể nảy sinh những vấn đề mới về tỉ lệ các mảng và cả chi tiết,
có thể nảy sinh ý mới làm hoàn chỉnh thêm bố cục. Từ lúc bắt đầu đến lúc phóng to phác thảo là
một quá trình tiếp diễn của sự tìm tòi. Không nên đóng đinh vào ý định ban đầu và sao chép nô
lệ cái ý phác thảo ban đầu. Bước này các hình trong bố cục đã được phóng to, rất có thể cần đến
nghững nghiên cứu bổ sung cho hình, và cũng là lúc cần tìm tòi xây dựng những hình đẹp. Khi
phác thảo đã phóng to và hoàn chỉnh việc xây dựng hình, phân phối mảng, có thể dùng giấy can
đặt lên can lại, lúc này vẵn có thể điều chỉnh tiếp nếu thấy cần thiết. Nên dùng mực đen, hoặc bút
chì đen đậm can hình lên giấy can để khi bản hình đặt dưới lụa, các nét hằn lên dễ nhìn.
Chú ý: Không nên phóng to bản hình bằng đúng khuôn khổ lụa đã căng vì khi vẽ xong thế
nào lụa cũng bị xén lẹm ở các cạnh, và như vậy sẽ ảnh hưởng đến bố cục. Vì vậy khi phóng bản
hình cần trừ hao mỗi cạnh ít nhất la từ nửa đến một phân so với khổ lụa đã căng hình.
Can hình lên mặt lụa
Đặt một tấm ván mỏng (gỗ dán hoặc carton) nhỏ hơn lòng khung căng lụa. Kê cao tấm ván
lên bằng hoặc cao hơn một chút chiều dày của khung căng lụa. Nửa tấm ván co màu đậm, thì cần
dính lên một tờ giấy trắng và đặt ngay ngắn bản hình bằng giấy can lên. Việc này nhằm làm cho