Nâng cao hiệu quả giờ dạy của giáo viên trường trung học cơ sở bắc sơn bỉm sơn thông qua việc dự giờ thăm lớp - Pdf 24

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Email: [email protected]
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
***** *****
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY CỦA GIÁO VIÊN
TRƯỜNG THCS BẮC SƠN – BỈM SƠN
THÔNG QUA VIỆC DỰ GIỜ THĂM LỚP
Người thực hiện: Cao Thị Liên
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THCS Bắc Sơn
Bỉm Sơn – Thanh Hóa
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý
THANH HÓA - NĂM 2013
ĐỀ TÀI: NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ BẮC SƠN-BỈM SƠN THÔNG QUA VIỆC
DỰ GIỜ THĂM LỚP
A, LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 khóa XI đã nhấn mạnh: “Phát triển
giáo dục - đào tạo và khoa học – công nghệ là vấn đề đặc biệt quan trọng, được
coi là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế”.
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước, để thực hiện Nghị quyết hội nghị
Trung ương Đảng lần thứ 6 khóa XI, ngành giáo dục đã tiếp tục đặt ra cho hệ
thống giáo dục toàn quốc là phải nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục. Đây
là một yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý cũng như mỗi giáo viên trong
các nhà trường. Chất lượng giảng dạy và giáo dục của nhà trường phụ thuộc rất
nhiều vào giờ lên lớp của mỗi giáo viên. Chính vì vậy mà việc dự giờ thăm lớp
là một trong những việc làm hết sức quan trọng không những đối với mỗi giáo
viên mà còn đối với mỗi nhà quản lý chuyên môn trong mỗi nhà trường. Thông
qua việc làm này giúp giáo viên rất nhiều trong công tác phát triển chuyên môn
và thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy của mình, đồng thời giúp các nhà

B, NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
DỰ GIỜ THĂM LỚP
I, CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1, Quan niệm về kiểm tra đánh giá giờ dạy trên lớp của giáo viên: Là một việc
làm có tính hệ thống nhằm xem xét sự thành công của GV trong giờ dạy về nội
dung kiến thức bài dạy, về phương pháp dạy học đã áp dụng và tác phong, thái
độ của giáo viên trong giờ dạy, bao gồm mô tả định tính và định lượng kết quả
đạt được của giáo viên thông qua những nhận xét, so sánh với các tiêu chuẩn
đánh giá, xếp loại.
2, Tác dụng của việc dự giờ thăm lớp:
2.1. Đối với cán bộ quản lý nhà trường:
Giúp CBQL nắm bắt được năng lực sư phạm của từng giáo viên trong trường,
biết được thực trạng dạy và học trong nhà trường, từ đó có biện pháp phù hợp để
phát huy những ưu điểm, hạn chế những nhược điểm của giờ dạy trên lớp, ngăn
ngừa những biểu hiện sai lệch và sử dụng đúng người, đúng việc, phát huy được
năng lực sở trường của mỗi giáo viên.
2.2. Đối với giáo viên:
Thông qua việc dự giờ thăm lớp đã giúp cho giáo viên tự đánh giá được năng
lực chuyên môn của mình, đồng thời rút kinh nghiệm và học hỏi thêm từ đồng
nghiệp, từ các nhà quản lý, cách xác định mục tiêu bài học, về kiến thức, kỹ
năng, phương pháp dạy học, cách tổ chức các hoạt động của giáo viên và học
sinh trên lớp, tổ chức hoạt động nhóm… sao cho phù hợp với đơn vị kiến thức
và có hiệu quả, kết hợp kiểm tra đánh giá của thầy với trò và của trò với trò như
thế nào cho tốt…từ đó thúc đẩy quá trình tự học tự bồi dưỡng, tự vươn lên của
mỗi giáo viên.
II, THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DỰ GIỜ THĂM LỚP CỦA GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG
THCS BẮC SƠN-BỈM SƠN:
Trong những năm trước năm học 2008-2009 hoạt động dự giờ thăm lớp của
các giáo viên nhà trường chưa thực sự đạt hiệu quả cũng như chưa đạt được mục

Chứng
chỉ tin
học
2006-
2007
37
28=75,7%
6 = 16,2 % 3 = 8,1% 5 = 13,5%
2007-
2008
35 26=74,3% 6 = 17,1 % 3 = 8,6% 5 = 14,3%
Qua thống kê (bảng 1) ta thấy: Trình độ giáo viên là Trung cấp (chưa đạt chuẩn)
vẫn đang còn từ 8,1% (năm 2007) đến 8,6% (năm 2008), trình độ Đại học (trên
chuẩn) còn thấp, chỉ mới đạt 16,2% (năm 2007) đến 17,1% (năm 2008), do đó
các GV có trình độ chuyên môn vững vàng, các GV nòng cốt của các môn học
chưa có nhiều. Về trình độ tin học của đội ngũ CBGV đang còn thấp, nhiều GV
còn chưa thông thạo nhiều về tin học, đây cũng là một trong những yếu tố hạn
chế tới việc thực hiện giờ dạy trên lớp đạt hiệu quả cao.
Bảng thống kê trình độ chuyên môn của đội ngũ CBGV:(bảng 2)
5
Năm học Tổng số Xếp loại chung chuyên môn
Giỏi Khá TB Yếu
2006-2007 37 12=32,4% 15= 40,5% 8 = 21,7% 2 = 5,4%
2007-2008 35 12=34,3% 14= 40,0% 7 = 20,0% 2 = 5,7%
Qua bảng 2 ta thấy: trong những năm qua mặc dù nhà trường có nhiều cố gắng
trong công tác nâng cao chất lượng đội ngũ, song tỉ lệ GV chuyên môn TB, yếu
vẫn còn tương đối cao, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc lựa chọn
phương pháp giảng dạy phù hợp trong các giờ lên lớp của giáo viên, từ đó dẫn
tới hiệu quả giờ dạy chưa cao.
Chất lượng giờ dạy của GV trong 2 năm 2006-2007 và 2007-2008:(bảng 3)

năng lực thực hành của GV còn yếu hoặc ĐDDH kém chất lượng. Việc sử dụng
CNTT vào giảng dạy ở nhiều GV còn chưa thạo. Những GV tuổi nghề cao vẫn
mang nặng phương pháp dạy cũ như thuyết trình, giảng giải, đọc chép Nhiều
GV trẻ chưa có kinh nghiệm nên PPDH chưa phù hợp mọi đối tượng HS. BGH
khi dự giờ đột xuất nhiều giờ dạy của GV phần nhiều xếp giờ TB và khá, rất ít
6
giờ được xếp giỏi. Điều đó cho thấy việc nâng cao hiệu quả giờ dạy trên lớp của
GV còn gặp rất nhiều khó khăn.
2. Thực trạng đánh giá kết quả xếp loại Hạnh kiểm, Văn hóa của HS trường
THCS Bắc Sơn-Bỉm Sơn trong 2 năm 2006-2007 và 2007-2008:
Xếp loại Hạnh kiểm: (bảng 4)
Năm học Số HS Tốt Khá
Trung
bình
Yếu
2006 - 2007 415 307=74% 77=18,6% 30=7,2% 1=0,2%
2007 - 2008 366 284=77,6% 71=19,4% 11=3% 0
Xếp loại Văn hóa: (bảng 5)
Năm học Số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu
2006 - 2007 415 19=4,6% 164=39,5% 208=50,1% 24=5,8%
2007 - 2008 366 17=4,6% 142=38,8% 193=52,8% 14=3,8%
Chất lượng mũi nhọn: (bảng 6)
Năm học Số HS Cấp thị Cấp Tỉnh Cấp Quốc
gia
Thi đỗ
PTTH
2006 - 2007 415 50 = 12%
06=1,4% 0 32,1 %
2007 - 2008 366 49=13,4% 06=1,6% 0 31,0 %
Qua các bảng 4,5,6 cho thấy chất lượng GD hai mặt, kết quả HSG cấp thị và cấp

nhân.
10 = 41,7% 9=37,5% 5=20,8%
4
Lựa chọn phương pháp phù hợp
với loại bài học và đối tượng học
sinh
20 = 83,3% 3 = 12,5% 1 = 4,2%
5
Chuẩn bị chu đáo đồ dùng và
thiết bị dạy học
16 = 66,7% 3 = 12,5% 5 = 20,8%
Thông qua giờ lên lớp
6
Rèn luyện tư duy sáng tạo cho
HS thể hiện ở chỗ tạo ra những
tình huống có vấn đề.
14=58,3% 4=16,7% 6=2,5%
7
Tăng cường vấn đáp tìm tòi, tạo
ra các cuộc tranh luận, thảo luận.
15=62,5% 5= 20,8% 4=16,7%
8 Rèn luyện cho HS cách tự học 8=33,3% 12= 50% 4=16,7%
9 Gây hứng thú cho HS 16=66,7% 5= 20,8% 3=12,5%
10
Kết hợp hài hòa học tập cá nhân
với học tập hợp tác nhóm
6 = 25% 16=66,7% 2=8,3%
11
Rèn luyện các kỹ năng thực
hành, kỹ năng sống sống cho HS;

1. GIẢI PHÁP THỨ NHẤT: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên về tầm
quan trọng của việc dự giờ thăm lớp:
Một khi giáo viên có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về tầm của quan trọng của
việc dự giờ thăm lớp thì họ có thể tự đánh giá được chính công việc giảng dạy
của mình, tự nhận ra những phần còn hạn chế để khắc phục, phát huy những mặt
mạnh. Từ đó họ sẽ cố gắng vươn lên, tự học tự bồi dưỡng thường xuyên để có
nghiệp vụ chuyên môn vững vàng, thúc đẩy quá trình lên lớp đạt hiệu quả cao
hơn.
Cách thực hiện: - Thông qua việc phổ biến, học tập các văn bản của ngành tại
các buổi họp hội đồng giáo dục…
- Thông qua các buổi hội thảo về “Đổi mới phương pháp dạy
học”, “Đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục”…
9
- Thông qua những buổi tập huấn, bồi dưỡng về công tác dự
giờ thăm lớp cho các cán bộ cốt cán như tổ trưởng, tổ phó chuyên môn…để họ
làm tốt việc đánh giá giờ dạy trên lớp.
2. GIẢI PHÁP THỨ HAI: Nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ
của CBQL và các giáo viên cốt cán nhà trường.
Hiện nay ngành giáo dục và đào tạo cả nước đang từng bước thay đổi, điều
chỉnh để hoàn thiện nội dung, chương trình sách giáo khoa, đổi mới PPDH cho
các bậc học, trong đó có bậc THCS sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của
đất nước, với tình hình thực tiễn của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất phục
vụ cho giảng dạy và vừa học tập được các nước tiên tiến trên thế giới. Chính vì
vậy người cán bộ quản lý (CBQL) phải có trình độ chuyên môn vững vàng, có
nghiệp vụ sư phạm vững chắc và phải gương mẫu trước tiên trong học tập, trau
dồi, rèn luyện bản thân để có được cái “tâm” và cái “tầm” để thực sự đưa sự đổi
mới nền giáo dục vào trong nhà trường; phải xây dựng cho mình một phong
cách khoa học, sâu sát, bằng cách:
- Tham gia học các lớp nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý do cấp
trên tổ chức.

tác giảng dạy, trong chuyên môn để có uy tín với học sinh, phụ huynh. Tới năm
học sau lại tiếp tục dự đúng giờ dạy đó để xem sau khi được góp ý ở năm học
trước thì có tiến bộ hơn không, sự tiếp thu và chỉnh sửa chỗ sai sót như thế nào.
3.2:Thực hiện kế hoạch dự giờ kiểm tra đánh giá của CBQL đối với GV:
3.2.1: BGH chuẩn bị trước khi dự giờ, kiểm tra đánh giá GV:
- Bám sát kế hoạch đã đề ra xem dự giờ GV nào trong từng tuần của tháng,
xem sổ báo bài giảng của GV để định hướng dự dạng bài dạy nào?…giúp GV
tháo gỡ vướng mắc về PPGD hay kiến thức kỹ năng?
- Cần xem trước bài dự trong SGK và gợi ý hướng dẫn trong SGV để định
hướng được những vấn đề mà GV dễ mắc phải.
- Kiểm tra việc soạn bài: Kiểm tra xem GV soạn bài có đúng, đủ theo quy định
không: Ngày soạn, ngày giảng, tên môn, tên bài; mục đích yêu cầu; thực hiện
theo phân phối chương trình của BGD&ĐT và chương trình giảm tải (nếu có),
11
các hoạt động của thầy và trò, trọng tâm kiến thức; hệ thống câu hỏi , cần khắc
sâu kiến thức nào? HS dễ mắc sai lầm ở chỗ nào?, liên hệ thực tế (nếu có)….
3.2.2. Dự giờ thăm lớp kiểm tra đánh giá:
- Đối với việc chuẩn bị đồ dùng, phương tiện dạy học:
Đánh giá việc sử dụng các đồ dùng, phương tiện dạy học có thành thạo không?,
tinh thần chịu khó, tính sáng tạo của GV, phương tiện dạy học sử dụng trong bài
có phù hợp không?
- Đối với việc giảng bài trên lớp của giáo viên:
Kiểm tra xem tiến trình dạy học có đúng theo quy định không?
Độ chính xác, khoa học của kiến thức ở mức độ nào ? Có đảm bảo tính hệ thống
không? Có phần kiến thức nào bị bỏ sót không? Có thể hiện rõ kiến thức trọng
tâm hay không? Sử dụng phương pháp dạy học có đắc trưng bộ môn không? Có
phù hợp với đối tượng học sinh và kiểu bài lên lớp không? Có kết hợp giữa hoạt
động nhóm với hoạt động cá nhân HS không? Lời nới của giáo viên có rõ ràng,
chuẩn mực không? Hệ thống câu hỏi có hợp lô gic không? GV có làm cho HS
chủ động tích cực, hứng thú học không? Học sinh hiểu bài được bao nhiêu %?

hoạt động sư phạm mà GV đã làm được, biết chất lượng dạy và học, nề nếp của
lớp…từ đó để có kế hoạch bồi dưỡng năng lực chuyên môn, trình độ sư phạm
cho mỗi GV.
Như vậy, thông qua việc dự giờ thường xuyên CBQL đã góp phần thúc đẩy sự
nổ lực phấn đấu không mệt mỏi về chuyên môn, về năng lực sư phạm của mỗi
GV và trên cơ sở đó giờ dạy của GV sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
3.3.2: Dự giờ đột xuất: Là việc dự giờ không báo trước chỉ nằm trong mục tiêu
cần đạt của CBQL. Mỗi GV lên lớp đều phải chấp hành việc dự giờ đột xuất bất
kỳ của CBQL.
Tuy là dự giờ đột xuất nhưng nó phải nằm trong chủ định của CBQL: dự GV
nào? Dự vào thời điểm nào? Dự tiết nào, lớp nào? Kiểu bài dạy? Dự nhằm mục
đích gì? Muốn làm được điều đó CBQL phải căn cứ vào phân phối chương
trình và sổ báo bài giảng của GV để dự giờ. Chẳng hạn như ở hình thức dự giờ
13
thường xuyên một GV đã dạy một tiết thực hành thì khi dự giờ đột xuất GV này
CBQL nên chọn bài dạy lý thuyết hoặc tiết chữa bài tập…
Thông qua việc dự giờ đột xuất CBQL đã góp phần thúc đẩy, kích thích hoạt
động dạy học của mỗi GV, họ luôn chuẩn bị tâm thế đón dự giờ đột xuất bất cứ
tiết nào, từ đó GV luôn có ý thức chuẩn bị bài tốt hơn trước khi lên lớp. Lâu dần
thành thói quen, GV cảm thấy không bị áp lực khi CBQL dự giờ đột xuất nữa
mà thông qua cách dự giờ đột xuất này của CBQL nhiều GV đã khẳng định
được sự vững vàng về chuyên môn và sự cần cù, miệt mài bên giáo án của họ
trước tập thể. Chính vì vậy mà hiệu quả giờ dạy được nâng cao hơn.
3.3.3: Dự giờ thao giảng chọn giáo viên giỏi:
CBQL không những là một thành viên trong ban giám khảo mà còn phải tổ
chức, chỉ đạo và điều hành tốt đợt thao giảng này.
Hoạt động này hằng năm thực hiện theo quy định của BGD&ĐT nhằm tôn
vinh những người có năng lực sư phạm tốt, có chuyên môn vững vàng. Qua đó
thúc đẩy được sự sáng tạo, sự đột phá, sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy,
khích lệ được mọi GV cố gắng vươn lên trong chuyên môn để khẳng định mình

yêu cầu tất cả các GV khác trống giờ lên dự. Tất cả các GV đều được dự giờ
dạy. Việc làm này dần dần đi vào nề nếp, đã giúp GV tự giác, tích cực hơn rất
nhiều trong hoạt động dự giờ, thậm chí có những GV muốn học tập kinh nghiệm
nhiều hơn nữa về đổi mới PPDH của đồng nghiệp ở tổ khác đã tự xin dự giờ
thêm ngoài lịch sắp xếp của BGH.
Đây là một hoạt động theo chúng tôi là rất có hiệu quả, người dạy luôn chủ
động chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: từ chuẩn bị giáo án, đồ dùng dạy học, tiến
trình lên lớp, tổ chức các hoạt động của thầy và trò, sử dụng CNTT, tâm thế sư
phạm… nên chất lượng tiết dạy sẽ cao hơn rất nhiều; còn người dự thì không
những dự được đủ số tiết theo quy định mà còn vượt chỉ tiêu đặt ra, mà cái được
hơn cả là cả hai cùng rút ra được kinh nghiệm cho bản thân để chủ động dạy lần
sau và các bài sau tốt hơn, vì vậy hiệu quả giờ dạy sẽ dần được nâng lên.
4.2: Hoạt động rút kinh nghiệm giờ dạy của các giáo viên.
15
Vì “Học thầy không tày học bạn” nên ngoài ý kiến tư vấn của CBQL cho GV
dạy thì việc góp ý giờ dạy của các giáo viên đi dự trong tổ, trong nhóm vô cùng
quan trọng.
- Để tạo điều kiện cho GV mạnh dạn góp ý giờ dạy của đồng nghiệp, BGH
chúng tôi yêu cầu GV ghi lại những ý kiến đóng góp của mình vào phiếu dự giờ,
sổ dự giờ hoặc sổ ghi chép để khi sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn dựa vào đó
mà phát biểu, xây dựng tiết dạy cho đồng nghiệp. Nếu có các ý kiến đóng góp
cho một tiết dạy trái ngược nhau thì tổ trưởng sẽ thống nhất ý kiến để đi đến kết
luận chung và cần lưu ý rằng mỗi GV đều có PPDH của mình sao cho HS dễ
hiểu bài, các thầy cô dự giờ không nên yêu cầu đồng nghiệp phải dạy theo cách
của mình, vì như thế chưa chắc HS sẽ tiếp thu bài tốt hơn.
Nếu có trường hợp xảy ra có những ý kiến đóng góp không chân tình cho đồng
nghiệp mà chỉ lợi dụng góp ý của mình để hạ thấp đồng nghiệp thì BGH chúng
tôi sẽ xử lý nghiêm minh.
- Một điều đặc biệt nữa là chúng tôi đã bố trí cho các GV cùng đi dự một tiết
dạy giống nhau của các giáo viên khác nhau để khi rút kinh nghiệm qua mỗi tiết

trưởng, tổ phó chuyên môn cùng góp ý cho GV dạy chuyên đề từ việc soạn bài
và trao đổi về bài dạy trước khi tiến hành giảng bài; Hiệu phó trực tiếp chỉ đạo
các tổ rút kinh nghiệm sau mỗi giờ dạy chuyên đề.
Như vậy: Thông qua việc đẩy mạnh hoạt động của tổ nhóm chuyên môn trong
việc dự giờ thăm lớp, GV nắm bắt được phương pháp dạy của một dạng bài nào
đó, tháo gỡ được các khó khăn vướng mắc chuyên môn của khối của tổ, làm chỗ
dựa vững chắc cho GV tuổi nghề còn ít học tập chuyên môn. Cũng qua hoạt
động này đã thúc đẩy phong trào đúc rút sáng kiến kinh nghiệm trong quá trình
dạy học của cán bộ, giáo viên nhà trường phát triển mạnh mẽ và tôn vinh những
nhà giáo có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy. Từ đó mới nâng cao hiệu quả
giờ dạy, nâng cao dần chất lượng giáo dục trong nhà trường.
6. GIẢI PHÁP THỨ SÁU: Đổi mới công tác thi đua khen thưởng đối với hoạt
động dự giờ thăm lớp.
17
Trong những năm trước đây, trường chúng tôi chưa để ý tới việc khen thưởng
cho các cá nhân GV và tập thể tổ chuyên môn thực hiện tốt việc dự giờ thăm lớp
nên phong trào dự giờ thăm lớp chưa phát triển, nhiều sáng kiến kinh nghiệm
được đúc rút từ thực tế giảng dạy của GV chưa có chất lượng cao, thậm chí có
người còn sao chép sáng kiến kinh nghiệm của người khác để đối phó. Chính vì
thế mà chất lượng giáo dục của trường chúng tôi luôn đứng ở tốp cuối trong các
trường THCS trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn.
Trước tình hình thực tế đó, trong những năm gần đây, trường chúng tôi đã đổi
mới công tác thi đua khen thưởng. Chúng tôi không chỉ khen thưởng cho các
GV có học sinh giỏi các cấp, các GV đạt danh hiệu CSTĐ các cấp, lao động tiên
tiến…mà còn tuyên dương kịp thời đến các GV và tập thể đi đầu trong phong
trào dự giờ thăm lớp qua sơ kết mỗi đợt thi đua. Mặc dù không có thưởng về vật
chất (do kinh phí nhà trường quá hạn hẹp vì là trường miền núi của thị xã)
nhưng chúng tôi đã tặng thưởng về tinh thần; chính sự tôn vinh trước tập thể đó
đã làm cho họ-những cá nhân và tập thể được tuyên dương- ngày càng làm tốt
hơn việc dự giờ thăm lớp, từ đó đã kéo theo những cá nhân và tập thể GV làm

Đ thị

CSTĐ
tỉnh
Chứng
chỉ tin học
2009-2010 29 10=34,5% 19=65,5% 0 03 0 15=48,4%
2010-2011 25 12=48,0% 13=42,0% 0 03 0 22= 84,6%
2011-2012 23 16=69,6% 07=30,4% 0 04 2 23=100%
2012-2013 24 17=70,8%
2 GV đang
học ĐH
07=29,2% 0 04 24=100%
Qua bảng 8 thống kê trên ta thấy: Trình độ giáo viên đã được chuẩn hoá 100%
tỉ lệ giáo viên có trình độ đại học đạt từ 16,2% (2007) đến 68,0% (2013) đã tăng
thêm đến 51,8%. Về TĐ tin học của GV: đến 2013 đã có 100% CBGV có chứng
chỉ tin học, nhiều GV đã đạt bằng B và bằng trung cấp, đại học về tin học.
Sau 4 năm thực hiện, đề tài không những góp phần thúc đẩy nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, mũi nhọn và năng lực sư phạm, năng lực CM của đội
ngũ GV mà còn thúc đẩy phong trào viết SKKN phát triển mạnh mẽ:
* Kết quả Sáng kiến kinh nghiệm trong 4 năm: (bảng 9)
Năm học Tổng số CBGV Xếp loại cấp thị Xếp loại cấp Tỉnh
2009 -2010 31 10 (1 loại A) =32,2% 1(B)
2010 - 2011 31 11 (2 loại A)=35,5% 2(1B,1C)
2011 - 2012 26 11 (1 loại A)= 42,3% 1(loại A)
2012 - 2013 24 11(3 loạiA)=45,8% 03 đang đề nghị
Qua bảng thống kê 9 cho thấy: Chất lượng các SKKN đã được nâng lên. Liên
tục cứ mỗi năm có từ 1 đến 2 SKKN được xếp loại cấp Tỉnh, đặc biệt trong năm
học 2012-2013 đã có 01 SKKN được xếp loại A. Riêng năm học 2012-2013 đã
có 03 SKKN đang đề nghị xét cấp tỉnh.

u
2010-2011
21 10 68 50=64.1% 23= 29.5% 5 = 6.4% 0
2011-2012
19 8 73 55=67.9% 23= 28.4% 3 = 3.7% 0
2012-2013
20 7 76 65=78.3% 17= 20.5% 1 = 1.2% 0
Qua bảng thống kê 11 ta thấy chất lượng giờ dạy của GV trong những năm thực
hiện đề tài tăng cao rõ rệt. Đã không còn giờ dạy yếu. Tỉ lệ giờ dạy đạt loại giỏi
tăng lên rõ rệt từ 12.3% (năm 2006-2007) đến 78.3% (năm 2012-2013); tỉ lệ giờ
dạy khá giảm từ 52.5% (năm 2006-2007) đến 20.5% (năm 2012-2013); và tỉ lệ
giờ dạy trung bình giảm nhiều từ 30.3% (năm 2006-2007) xuống còn 1.2% (năm
2012-2013). Từ những số liệu thực tế trên cho thấy hiệu quả của đề tài rất cao
* Bảng thống kê chất lượng xếp loại Hạnh kiểm, Xếp loại Văn hóa và Học
sinh giỏi trường THCS Bắc sơn-Bỉm Sơn từ năm học 2009-2010 đến nay:
Xếp loại Hạnh kiểm (bảng 12)
Năm học Số HS Tốt Khá Trung
bình
Yếu
2009 - 2010 271 226=83,5% 33=12,1% 12=4,4% 0
2010 - 2011 277 240=86,6% 31=11,2% 6=2,2% 0
2011 - 2012 248 225=90,8% 20=8,0% 3=1.2%
0
2012 - 2013 235 214=91,1% 18=7,7% 3=1,2% 0
20
Xếp loại Văn hóa (bảng 13)
Năm học Số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu
2009 - 2010 271 28=10,3% 140=51,7% 100=36,9% 3=1,1%
2010 - 2011 277 34=12,3% 150=54,2% 91=32,8% 2=0,7%
2011 - 2012 248 31=12,5% 130=52,4% 84=33,9% 3=1,2%

trường THCS trong toàn thị xã và đã được cấp trên giao nhiệm vụ từng bước
21
hoàn thiện các tiêu chí để xây dựng trường chuẩn Quốc gia giai đoạn 2015-
2020. Năm học 2012-2013 trường đang đề nghị công nhận trường đạt danh hiệu
Tập thể lao động xuất sắc.
Từ những số liệu thực tế trên cho thấy hiệu quả của đề tài rất cao.
C, KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
I, Kết luận:
Các giải pháp trong đề tài cần phải được thực hiện một cách đồng bộ nhằm
hỗ trợ cho nhau trong quá trình quản lý, chỉ đạo.
Với kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn của nhiều năm làm quản lý, đề tài
này đã có hiệu quả thiết thực đối với trường THCS Bắc Sơn-Thị xã Bỉm Sơn.
Tôi nghĩ rằng nó ít nhiều cũng có tác dụng đối với các trường THCS ở trong và
ngoài tỉnh, đặc biệt đối với các CBQL nhà trường, nếu được phổ biến rộng rãi.
Đề tài này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp
ý của các đồng chí giàu kinh nghiệm để đề tài này được hoàn thiện hơn.
II, Kiến nghị:
1, Đối với Phòng giáo dục và đào tạo Bỉm Sơn:
- Đề xuất với SGD&ĐT có phương án bổ sung những đồ dùng dạy học không
đảm bảo chất lượng và hư hỏng do dùng lâu ngày ở các bộ môn Vật lý, Hóa học,
Sinh học, Công nghệ…để có đủ đồ dùng thí nghiệm, ĐDDH góp phần nâng cao
hiệu quả giờ dạy của GV.
- Tiếp tục tổ chức các lớp bồi dưỡng về kỹ năng sử dụng đồ dùng thí nghiệm
cho các GV dạy các môn có đồ dùng thí nghiệm như Vật lý, Hóa học, Sinh học,
Công nghệ…
- Đề xuất với các cấp có thẩm quyền biên chế thêm cho các nhà trường THCS
Bỉm Sơn nói chung và THCS Bắc Sơn nói riêng một GV phụ tá thí nghiệm để
tạo điều kiện cho GV thực hiện bài dạy trên lớp đạt hiệu quả cao hơn.
2, Đối với Sở giáo dục và đào tạo Thanh hóa:
Có phương án bổ sung những đồ dùng dạy học không đảm bảo chất lượng và

4, Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban
hành quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học
cơ sở.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status