ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA: SINH HỌC
Vũ Thị Hường
KHẢO SÁT HIỆU GIÁ VACXIN SỞI ĐƯỢC
SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM DÙNG CHO
THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC TẠI CHỨC
Ngành: Sinh học
Hà Nội – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA: SINH HỌC
Vũ Thị Hường
KHẢO SÁT HIỆU GIÁ VACXIN SỞI ĐƯỢC
SẢN XUẤT TẠI VIỆT NAM DÙNG CHO
THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC TẠI CHỨC
Ngành: Sinh học
Cán bộ hướng dẫn: ThS. BS. Nguyễn Nữ Anh Thu
GS. TS. Phạm Văn Ty
Hà Nội – 2009
Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ThS.BS. Nguyễn Nữ Anh Thu, phó
phòng Kiểm Định – Trung tâm Nghiên cứu, sản xuất Vacxin và Sinh phẩm Y tế. GS.
TS. Phạm Văn Ty đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này.
Trong thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ
và tạo điều kiện của thầy cô trong Bộ môn Vi sinh vật học, Khoa Sinh học và các thầy
cô Phòng Đào tạo, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tôi
xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó.
Toàn bộ nội dung nghiên cứu trong luận văn này đã được thực hiện và hoàn
1.4. Tình hình tiêm chủng vacxin sởi phòng bệnh tại Việt nam 17
1.5. Sản xuất vacxin sởi tại Việt nam 18
1.6. Kiểm định vacxin sởi sản xuất tại Việt nam 19
1.7. Thử nghiệm lâm sàng 19
Chương 2 - VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. Phương pháp chuẩn độ hiệu giá bằng tạo đám hoại tử 21
2.1.1. Nguyên vật liệu 21
2.1.1.1. Mẫu chuẩn 21
2.1.1.2. Hoá chất, môi trường 21
2.1.1.3. Dụng cụ 21
2.1.1.4. Tế bào sử dụng 22
2.1.1.5. Môi trường sử dụng 22
2.1.2. Quy trình thực hiện 24
2.1.2.1. Chuẩn bị mẫu và mẫu chuẩn 24
2.1.2.2. Pha loãng, gây nhiễm, nuôi 24
2.1.2.3. Phương pháp tính kết quả 26
2.2. Phương pháp khảo sát hiệu giá vacxin sởi dùng cho thử nghiệm lâm sàng 28
2.2.1. Phương pháp lấy mẫu 28
2.2.2. Quy trình chuẩn độ hiệu giá 29
2.2.3. Phương pháp khảo sát 29
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 30
3.1. Kết quả xác định hiệu giá vacxin sởi mẫu M-0107 30
3.2. Kết quả xác định hiệu giá vacxin sởi mẫu M-0207 32
3.3 Kết quả xác định hiệu giá vacxin sởi mẫu M-0307 34
3.4 Kết quả xác định hiệu giá vacxin sởi đối chứng (R) 36
KẾT LUẬN 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
MỞ ĐẦU
Bệnh sởi là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do virut sởi gây nên, lây nhiễm theo
đường hô hấp và dễ lây thành dịch, đặc biệt là ở trẻ em. Bệnh sởi tuy đã được nhận biết
giá của vacxin sởi được sản xuất tại Polyvac dùng cho thử nghiệm lâm sàng”. Nhằm
giải quyết 3 mục tiêu:
1. Hiệu giá vacxin Sởi sản xuất tại Polyvac đạt tiêu chuẩn của WHO
2. Hiệu giá vacxin tại bàn tiêm thử nghiệm lâm sàng cũng đạt tiêu chuẩn của
WHO
3. Biến động hiệu giá vacxin trong quá trình vận chuyển vacxin tới địa điểm
tiêm
2
Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1. Virut sởi
1.1.1. Phân loại
Virut sởi là một trong 3 thành viên trong chi Morbillivirut thuộc họ
Paramyxoviridae. Họ này gồm 3 nhóm
- Các Paramyxovidae:
+ Para - influenza 1, 2, 3, 4
+ Virut quai bị
+ Virut gây bệnh Newcastle
+ Virut Sendai
- Các virut Pneumo: Virut hợp bào đường hô hấp
- Các virut Morbilli:
+ Virut sởi
+ Virut gây bệnh Carre ở chó
+ Virut dịch hạch bò
Ba virut thuộc chi Morbilli có mối liên quan chặt chẽ với nhau ở những
điểm sau:
- Giống nhau về hình thái, kích thước
- Chúng có đặc điểm chung nổi bật là đều gây hiệu lực hủy hoại trên nuôi
cấy tế bào tạo các hợp bào đa nhân, các tiểu thể trong bào tương và trong nhân
- Ba virut này là các týp đơn. đều gây bệnh giống nhau trên vật chủ mẫn
cảm [20]
Kháng nguyên ngưng kết hồng cầu bền vững với nhiệt độ 60
0
C trong hơn
1 giờ, nhờ ở đặc điểm của vi rút sởi không có hoạt tính neuraminidaza [5].
Các nghiên cứu cho thấy các thụ thể do hoạt tính ngưng kết hồng cầu
của vi rút sởi không bị phá hủy bởi các enzyme phá hủy thụ thể. Các kháng
nguyên ngưng kết hồng cầu cũng không nhạy cảm với các enzyme ARN-aza
và ADN-aza [7].
Kháng nguyên tan máu là một glycoprotein có trên bề mặt vỏ ngoài virut
với chức năng dung hợp tế bào để tạo các hợp bào. Hoạt tính tan máu của virut
sởi có liên quan chặt chẽ với khả năng gây hủy hoại tế bào sớm, nó giúp cho
virut sởi dễ dàng xâm nhập vào bên trong tế bào và tương ứng với khả năng gây
nhiễm của virut.
Kháng nguyên tan máu có pH thích hợp là 8,0 [14].
Kháng nguyên trung hòa nằm ở vỏ ngoài virut và tham gia vào phản ứng
trung hòa [3,6].
1.2. Bệnh sởi
1.2.1. Chu kỳ phát triển của virut sởi trong cơ thể bệnh nhân
Bệnh sởi là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp có khả năng lây nhiễm
cao. Bệnh này hay lây đến nỗi 90% những người tiếp xúc với bệnh nhân sẽ bị lây
sởi nếu chưa tiêm phòng. Virut sởi có ở mũi và cổ họng của bệnh nhân. Họ
thường đã có thể lây bệnh cho người khác 4 ngày trước khi vết đỏ xuất hiện. Khi
bệnh nhân ho, hắt xì, hay nói chuyện, những giọt nước rất nhỏ có chứa virut sẽ
bắn ra không khí và người khác có thể hít vào và họ sẽ bị lây bệnh. Một khi virut
5
sởi vào cơ thể bệnh nhân, chúng thường nhân lên trong những tế bào đường hô
hấp trên. Sau đó bệnh sẽ lan khắp cơ thể kể cả hệ hô hấp và da.
* Triệu chứng bệnh: Khoảng 10 tới 12 ngày sau khi tiếp xúc với virut
sởi, những triệu chứng sau đây có thể xảy ra:
- Sốt, Ho khan, Chảy nước mũi, Mắt đỏ,
da báo [10].
Sởi không điển hình
Một số trường hợp bênh sởi biểu hiện không giống như miêu tả ở trên như
trong trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, ban có thể không điển hình.
Các trường hợp này thường thấy ở bệnh nhân AIDS, hội chứng thận hư, điều trị
thuốc ức chế miễn dịch.
1.2.2. Đáp ứng miễn dịch tự nhiên với virut sởi
Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào là biểu hiện quan trọng cả giai
đoạn bệnh lý và phục hồi bệnh. Ức chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu bắt đầu cùng
với những biểu hiện lâm sàng của bệnh, trước khi phát ban và kéo dài trong vòng
vài tuần sau khi hồi phục bệnh. Các kháng thể do đáp ứng miễn dịch tự nhiên
ngay khi ban xuất hiện. Khởi đầu là IgM tiếp sau là các IgG và IgA trong huyết
thanh và dịch tiết. Các kháng thể này sinh ra nhằm chống lại các kháng nguyên
lạ trong cơ thể chúng đạt đỉnh cao vào ngày thứ 7 đến thứ 10 sau khi phát ban,
7
sau đó giảm nhanh và biến mất. Các kháng thể được sinh ra để trực tiếp kháng
lại các protein khác nhau của virut được phát hiện không giống nhau bằng các
xét nghiệm huyết thanh học. Kháng thể với protein N được sản xuất nhanh và
nhiều, được xác định ngay giai đoạn nhiễm trùng tiên phát bằng kỹ thuật kết hợp
bổ thể. Chính vì sự hình thành kháng thể kháng N ở mức độ nhiều như vậy cho
phép nhận định kết quả là âm tính khi không phát hiện được chúng trong huyết
thanh [7]. Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chúng ta sẽ có kháng thể chống bệnh nên ta
sẽ không mắc bệnh sởi lại nữa. Nếu bạn sinh trước năm 1957, bạn thường đã có
kháng thể chống bệnh dù chưa hề chủng ngừa. Ðó là vì bạn đã sống qua nhiều
thời kỳ mà bệnh sởi hoành hành rất nhiều và nhiều phần bạn đã có nhiễm virut
dù có thể không lộ ra. Do đó bạn đã có được miễn dịch.
1.2.3. Biến chứng của bệnh sởi
Các biến chứng thường gặp của sởi là viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy,
viêm não. Chính các biến chứng này làm kéo dài thời gian bệnh, ảnh hưởng đến
dinh dưỡng của trẻ. Hậu quả là suy dinh dưỡng.
có thể xuất hiện 5 năm thậm chí 15 năm sau khi mắc sởi.
8. Các biến chứng thần kinh khác là hội chứng Guillain-Barrée, liệt nửa
người, huyết khối tĩnh mạch não, thường ít gặp [11].
1.2.4. Tình hình mắc bệnh sởi hiện nay
1.2.4.1. Tình hình mắc bệnh sởi trên Thế giới
9
Bệnh sởi có mặt ở khắp các nước trên Thế giới. Ở những nước tiêm phòng
vacxin rộng rãi, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do sởi giảm xuống rõ rệt, tuy nhiên
trong những năm gần đây, bệnh sởi dần quay chở lại và dịch sởi bắt đầu bùng nổ
ngay cả ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Hà Lan, Anh, Trung Quốc.
Theo thống kê, kể từ năm 1995 khi áp dụng hệ thống thống kê bệnh nhân
hiện đại thì số bệnh nhân sởi ghi nhận được ở Anh và xứ Wales vào năm 1998 là
56 trường hợp. Đến năm 2006 số bệnh nhân mắc loại bệnh này tăng lên đột biến:
tính riêng trong năm 2006 số bệnh nhân sởi đã tăng từ 78 tới 740 trường hợp,
năm 2007 đã là 990 trường hợp và trong 9 tháng đầu năm 2008 con số này đã
tăng lên tới 1049 trường hợp.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 30
triệu người trên toàn Thế giới bị nhiễm sởi. Chỉ tính riêng năm 2006, đã có hơn
240 ngàn người, chủ yếu là trẻ em bị tử vong do mắc sởi.
Sở dĩ bệnh sởi trong mấy năm trở lại đây tăng đột biến ở Anh và xứ Wales
là do ngày càng nhiều các ông bố, bà mẹ hoặc là quên, hoặc là từ chối không
tiêm vacxin phòng bệnh sởi, bệnh quai bị, bệnh rubella cho trẻ.
Mà nguyên nhân của vấn đề này là do vào năm 1998 có xuất hiện giả thiết
về khả năng tự miễn dịch với bệnh sởi, bệnh quai bị, bệnh rubella, do đó ít nhiều
có ảnh hưởng đến tâm lý của các bậc cha mẹ. Mặc dù khi đó, các nhà khoa học
đã lên tiếng bác bỏ giả thiết này, song tỷ lệ miễn dịch ở trẻ vẫn ở mức thấp.
Người đại diện của Cơ quan Bảo vệ sức khoẻ cộng đồng của Anh cho biết,
việc trẻ em không tiêm phòng bệnh sởi, bệnh quai bị, bệnh rubella có thể là
nguyên nhân chính dẫn tới sự phát triển nhanh của loại bệnh lây nhiễm này trong
thời gian gần đây.
Việt Nam.Tỷ lệ lưu hành bệnh sởi ở Việt Nam hiện đã giảm đến 573 lần so với
trước năm 1985, thời điểm bắt đầu chương trình TCMR. Căn bệnh này đang
được khống chế tốt và dự kiến sẽ bị loại trừ vào năm 2010.
Tình hình bệnh sởi ở Việt Nam thời kỳ trước khi tiêm 1 liều vacxin sởi
trong chương trình TCMR cũng tương tự như ở các nước trên Thế giới. Trong
thời kỳ này được ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam với tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất là
65/100.000 người dân (năm 1981), tỷ lệ mắc cao nhất là 137,7/100.000 người
dân (năm 1979) và 125,7/100.000 người dân (năm 1983) và đây là 2 đỉnh của
một chu kỳ dịch sởi cách nhau khoảng từ 4-5 năm. Bệnh sởi lưu hành địa
phương ở mọi nơi trong cả nước và phổ biến ở trẻ em, nhất là ở trẻ dưới 5 tuổi.
Việc gây miễn dịch phòng bệnh sởi bằng một liều vacxin sởi sống giảm
độc lực được bắt đầu trong chương trình TCMR ở Việt Nam từ tháng 10 năm
1985. Sau 5 năm, tỷ lệ tiêm 1 liều vacxin sởi cho trẻ em từ 9 - 11 tháng tuổi đã
tăng dần từ 19% (năm 1985) tới 89% (năm 1989) và tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm
xuống từ 91/100.000 người dân (năm 1986) xuống 23/100.000 người dân (năm
1989). Từ đó đến năm 2000, tỷ lệ tiêm 1 liều vacxin sởi luôn được duy trì trên
90% và tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm đến mức thấp nhất là 8,55/100.000 người dân
và cao nhất là 19,01/100.000 người dân (năm 1993) và 23,16/100.000 dân (năm
2000) và đây cũng là 2 đỉnh của một chu kỳ dịch sởi cách nhau khoảng từ 8 - 9
năm của thời kỳ sau khi tiêm vacxin sởi. Như vậy, sau 16 năm thực hiện tiêm 1
liều vacxin sởi cho trẻ em từ 9 - 11 tháng tuổi tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm xuống
84%, chu kỳ dịch sởi đã kéo dài gấp đôi và tỷ lệ mắc bệnh cao đã được chuyển
12
dịch lên nhóm tuổi cao hơn. Tuy nhiên, bệnh vẫn còn tản phát ở nhiều nơi và vẫn
xảy ra dịch sởi với quy mô có nhỏ hơn thời kỳ chưa tiêm vacxin sởi. Tình hình
này cũng tương tự như ở các nước khác trên Thế giới.
Theo Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, đến nay có 30 tỉnh, thành phố
có người bị bệnh sởi và sốt phát ban dạng sởi; số ca dương tính sởi là 650.
Tại Hà Nội ngày 23/02 có thêm 29 ca sốt phát ban dạng sởi, tổng số từ đầu
vụ dịch đến nay là 1.235 ca, trong đó 230 ca được xác định dương tính với sởi,
không có miễn dịch hoặc miễn dịch kém thì khả năng bị lây nhiễm cao.
1.3. Phòng và điều trị bệnh sởi
Sởi thường xuất hiện nhiều vào cuối năm cũ, đầu năm mới. Không chỉ gây
các biến chứng như kiết lỵ ra máu mũi, tiêu chảy kéo dài, viêm phổi, sởi còn có
thể là nguyên nhân gây còi xương, suy dinh dưỡng, thậm chí tử vong ở trẻ dưới 5
tuổi nếu không được điều trị đúng.
1.3.1. Vacxin phòng bệnh sởi
Cách phòng bệnh tốt nhất là tiêm phòng. Phòng bệnh bằng vacxin được
khuyến cáo khi trẻ đủ 9 tháng tuổi, tuy nhiên người ta thấy rằng việc tiêm một mũi
vacxin duy nhất không đủ tạo ra miễn dịch bền vững và rộng rãi trong cộng đồng
vì tỷ lệ trẻ tiêm phòng bệnh sót cũng như tỷ lệ đạt được miễn dịch của vacxin này
cũng chỉ đạt khoảng 90%. Do vậy cần phải tiêm nhắc lại mũi thứ 2, thời gian tiêm
14
là khi trẻ đủ 6 tuổi, độ tuổi bước vào lớp 1. Việc tiêm liều thứ 2 có thể tạo miễn
dịch tới 99%. Chương trình TCMR Việt Nam đã thực hiện mũi nhắc lại này trên
cả nước từ năm 2006. Tại các địa phương còn xuất hiện những vụ dịch sởi nhỏ,
đối tượng mắc không chỉ trẻ em thì cần thiết phải thực hiện những chiến dịch tiêm
nhắc cho người dân khu vực này để tạo miễn dịch lớn và bền vững trong cộng
đồng trong nhiều năm. Có hai loại vacxin phòng bệnh sởi là vacxin bất hoạt bởi
focmalin và vacxin sống giảm độc lực.
1.3.1.1. Vacxin bất hoạt
Vacxin bất hoạt bằng formalin có nguồn gốc từ chủng Edmonston đã được
cấp phép tại Mỹ năm 1963 và được sử dụng cho đến năm 1967.
Phác đồ tiêm chủng là 3 liều vacxin bất hoạt hoặc hai liều vacxin bất hoạt
và một liều vacxin sống được tiêm cách tháng. Vacxin bất hoạt gây đáp ứng
miễn dịch ngắn và có một số phản ứng phụ đặc biệt là mắc sởi không điển hình
nên sau đó ít được sử dụng [16].
1.3.1.2. Vacxin sống giảm độc lực
Chủng virut dùng trong sản xuất vacxin sống giảm độc lực được tạo ra
bằng cách cấy truyền liên tiếp trên các tế bào nuôi cấy để chọn dòng virut đã mất
chủng virut vacxin
rubella RA27/3. Có thể có vacxin sởi phối hợp với rubella mà không có thành
phần quai bị. Hai loại vacxin MMR khác cũng được cấp phép, một loại có chứa
chủng sởi CAM-70 và loại kia chứa chủng Shawrz F88. Số liệu nghiên cứu miễn
16
dịch và an toàn cho thấy việc kết hợp kháng nguyên sởi và kháng nguyên quai
bị, rubella rất an toàn và hiệu quả [17].
1.3.2. Điều trị bệnh sởi
Hiện nay, chúng ta vẩn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với virut sởi. Vì
vậy, việc chẩn đoán bệnh sớm được đặt ra nhằm ngăn chặn sự lây lan và phát
triển thành dịch ở những nơi đông dân cư.
Bệnh nhân sởi được điều trị không đặc hiệu: chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi
và điều trị triệu chứng:
+ Cho bệnh nhân dùng những thức ăn giàu chất dinh dưỡng, dễ tiêu hóa,
không cần thiết kiêng cữ. Lưu ý dùng thêm thức ăn nhiều vitamin A để tránh
biến chứng loét giác mạc, mù mắt.
+ Vệ sinh răng miệng, da, mắt.
+ Hạ sốt: Lau mát, thuốc hạ sốt thông thường (Paracetamol, không dùng
Aspirin vì dễ gây hội chứng Reyes).
+ Giảm ho bằng Dextromethorphan, Codein, thuốc long đàm.
+ Kháng Histamin: Pipolphen, Dimedron.
+ Sát trùng mũi họng, nhỏ mắt bằng nước muối sinh lý, vitamin A chống
khô mắt.
+ Chỉ sử dụng kháng sinh khi có biến chứng: viêm thanh quản, viêm phổi.
+ Các biện pháp hồi sức cấp cứu được áp dụng tùy theo tình trạng của
bệnh nhân: thở oxy hỗ trợ, thở máy, hồi sức tim mạch.[10]
1.4. Tình hình tiêm chủng vacxin sởi phòng bệnh tại Việt nam
17
Tất cả trẻ em Việt nam từ 9 – 12 tháng đều được tiêm chủng vacxin sởi để
phòng bệnh sởi. Vacxin sởi là trong các vacxin nằm trong chương trình Tiêm
4) Thử nghiệm độ ẩm tồn dư
5) Thử nghiệm an toàn chung trên động vật
6) Thử nghiệm quan sát trạng thái vacxin
Thử nghiệm hiệu giá của vacxin sởi là thử nghiệm nhằm xác định hàm
lượng virut sởi. Có nhiều phương pháp chuẩn độ hiệu giá như :
- Chuẩn độ vi lượng, gây nhiễm trên tế bào cảm thụ Vero kín 1 lớp, quan
sát đám hoại tử và tính hàm lượng virut theo công thức Kaber hoặc Reed -
Muench, đơn vị tính CCID
50
/0,5 ml (liều huỷ hoại 50% tế bào).
- Phương pháp tạo đám hoại tử, gây nhiễm trên tế bào cảm thụ Vero kín 1
lớp, nhuộm và đếm số lượng đám hoại tử, tính hàm lượng virut, đơn vị tính
PFU/0,5 ml.
Hiện tại Polyvac đang sử dụng phương pháp tạo đám hoại tử để chuẩn độ
hiệu giá vacxin sởi sản xuất tại cơ sở.
Theo tiêu chuẩn của WHO, vacxin sởi phải chứa ≥ 3000 CCID
50
/ liều /
0,5 ml (hoặc ≥ 3000 PFU / liều). Tương đương ≥ 3 lg CCID
50
/ liều / 0,5 ml
(hoặc ≥ 3 lg PFU / liều)
1.7. Thử nghiệm lâm sàng
19
Theo quy chế cấp phép sử dụng vacxin của Bộ Y tế, mọi vacxin mới đều
phải qua giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, là giai đoạn thử nghiệm trên người tình
nguyện nhằm đánh giá: tính an toàn và tính sinh miễn dịch nhằm bảo vệ người
tiêm vacxin không mắc bệnh sởi.
Vacxin sởi sản xuất tại Polyvac mặc dù có quy trình công nghệ giống với
vacxin đang sản xuất tại Nhật Bản, nhưng chưa từng được sử dụng tại Việt Nam