BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN HỮU TÂN
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC GIẢI PHÁP LÂM SINH ÁP DỤNG
CHO RỪNG PHÒNG HỘ ĐẦU NGUỒN HỒ CHỨA NƯỚC CỬA ĐẶT
HUYỆN THƯỜNG XUÂN - TỈNH THANH HÓA Chuyên ngành: Lâm sinh
Mã số: 62 62 02 05 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP
1. Tính cấp thiết
Rừng phòng hộ đầu nguồn có vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng và
điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất và phòng chống xói mòn. Theo Quy chế quản
lý thì rừng phòng hộ đầu nguồn là rừng được xác lập nhằm tăng cường khả
năng điều tiết nguồn nước của các dòng chảy, hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt,
giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng sông, lòng hồ. Mùa lũ năm
2007 hồ đập Cửa Đặt bị vỡ, gây ảnh hưởng không nhỏ đến tính mạng, tài sản
và sinh hoạt của hàng triệu người dân vùng hạ lưu mà nguyên nhân chính là do
hệ thống rừng đầu nguồn chưa đáp ứng yêu cầu phòng hộ. Vì vậy, việc làm
sáng tỏ những cơ sở khoa học của các giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừng
phòng hộ đầu nguồn, nhằm sớm dẫn dắt rừng tới trạng thái cấu trúc rừng vừa
đáp ứng được mục đích phòng hộ, vừa giải quyết nhu cầu lâm sản của người
dân lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây là lý do để thực hiện luận án
"Cơ sở khoa học của các giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừng phòng hộ đầu
nguồn hồ chứa nước Cửa Đặt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá".
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Góp phần nâng cao hiệu quả của các giải pháp kỹ thuật
lâm sinh áp dụng cho rừng phòng phòng hộ đầu nguồn thuộc lưu vực hồ
chứa nước Cửa Đặt, cải thiện hiệu quả phòng hộ - kinh tế.
* Mục tiêu cụ thể: 1) Phân tích được một số đặc điểm của những nhân tố
phát sinh dòng chảy và xói mòn đất trong mối liên hệ với hiện trạng và xu
thế phát triển của thảm thực vật làm cơ sở khoa học cho các giải pháp kỹ
thuật lâm sinh ở khu vực nghiên cứu. 2) Đề xuất tiêu chuẩn cấu trúc và một
số giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào thảm thực vật rừng phòng hộ đầu
nguồn, để rừng sớm đạt đến cấu trúc rừng mong muốn.
3. Ý nghĩa của luận án
(1) Về lý luận, luận án đã xác định được mối quan hệ định lượng giữa
khả năng điều tiết nguồn nước và phòng chống xói mòn đất với những nhân
tố: mưa, địa hình, thổ nhưỡng và thảm thực vật.
hiếm khi xuất hiện dòng chảy bề mặt ngay cả khi lượng mưa lớn. Tuy nhiên,
3
khi rừng bị chặt hạ trở nên thưa thớt và độ dốc mặt đất lớn thì có thể tạo ra
nhiều lượng nước chảy bề mặt. 2) Về xói mòn đất: các công trình nghiên cứu
bước đầu đã xây dựng phương trình toán học để dự tính lượng đất xói mòn bề
mặt thông qua các chỉ số có liên quan. 3) Về cấu trúc rừng: cấu trúc rừng được
xác định thông qua các chỉ số đa dạng loài, chỉ số quan trọng (IV%), đã xây
dựng cấu trúc rừng hợp lý thông qua bảng tra hệ số C, xây dựng tiêu chuẩn cấu
trúc rừng phòng hộ đầu nguồn, 4) Về tái sinh rừng: tái sinh rừng mưa nhiệt
đới vô cùng phức tạp, cây tái sinh tự nhiên có phân bố cụm, một số khác có
phân bố Poisson; tái sinh rừng nhiệt đới có hai đặc điểm tái sinh phổ biến đó là
tái sinh vệt của loài cây ưa sáng và tái sinh phân tán liên tục của loài cây chịu
bóng. 5) Về khả năng phục hồi rừng: quá trình diễn thế thứ sinh trên cạn lặp lại
quá trình tái sinh tự nhiên trên các lỗ trống trong rừng nguyên sinh trên diện
rộng, đất càng bị phá hủy nhiều thì quá trình diễn thế thứ sinh trên cạn càng
giống với quá trình diễn thế nguyên sinh. 6) Vận dụng kết quả nghiên cứu vào
thực tiễn sản xuất: có rất nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng, điển hình như
việc duy trì cấu trúc rừng tự nhiên không đều tuổi thông qua các giải pháp tái
sinh, hoặc trồng bổ sung, chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên để dẫn dắt rừng đạt
đến cấu trúc gần với cấu trúc của rừng tự nhiên nguyên sinh, …. Công trình
nghiên cứu đã đề ra phương pháp phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn sông Mê
Kông,…. Từ đó, Chính phủ và Bộ, Ngành đã ban hành các văn bản, quy định
đối với rừng phòng hộ đầu nguồn làm cơ sở định hướng cho việc đầu tư quản
lý, phục hồi và phát triển rừng phòng hộ kết hợp kinh tế.
1.2. Những nội dung cần thực hiện tiếp
1) Tiếp tục nghiên cứu mở rộng về đặc điểm các nhân tố phát sinh dòng chảy
mặt và xói mòn đất của các thảm thực vật rừng để phát hiện ra quy luật tồn tại
trong tự nhiên và định lượng hóa những quy luật đó bằng các công cụ toán
học phù hợp. 2) Nghiên cứu cấu trúc và xu thế, tốc độ phát triển của thảm
3
, III
B
); rừng trồng (Keo tai tượng và rừng
Luồng). Các trạng thái thảm thực vật khác trong khu vực không thuộc phạm
vi nghiên cứu của đề tài.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Quan điểm và phương pháp luận
- Là một hệ sinh thái, khả năng phòng hộ hay cung cấp của rừng có giới
hạn nhất định, do đó yêu cầu về cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn đương
nhiên tồn tại như một thực thể khách quan. Trong đề tài này, yêu cầu cấu trúc
của thảm thực vật rừng phòng hộ đầu nguồn được hiểu là trị số của các nhân
tố cấu trúc mà qua đó tỷ lệ dòng chảy bề mặt và lượng đất xói mòn về cơ bản
đã giảm đến mức tối thiểu, còn lượng nước trong đất được giữ lại ở mức tối
đa. Hệ số dòng chảy mặt càng nhỏ, chứng tỏ khả năng điều tiết nước của rừng
5
càng tốt đặc biệt là khả năng phòng lũ vào mùa mưa. Lượng đất xói mòn và
lượng chất dinh dưỡng bị mất càng ít, chứng tỏ khả năng bảo vệ đất của rừng
càng tốt. Rừng phòng hộ đầu nguồn hồ chứa nước Cửa Đặt phải: 1) Giảm
thiểu lượng nước chảy bề mặt, nhằm góp phần giảm lũ vào mùa mưa. 2)
Giảm thiểu lượng đất xói mòn, nhằm hạn chế bồi lấp lòng hồ. 3) Tăng tối đa
lượng nước giữ lại trong đất, nhằm chống hạn vào mùa khô.
- Phương pháp nghiên cứu tổng quát của đề tài được xác định là: nghiên
cứu các chỉ tiêu cụ thể phản ánh đặc trưng tích giữ nước của lớp thảm thực
vật rừng và mối liên hệ của chúng với những nhân tố có ảnh hưởng quan
trọng. Đánh giá khả năng giữ nước tổng hợp của rừng. Cuối cùng là xác
định cấu trúc hợp lý của thảm thực vật rừng phòng hộ đầu nguồn, làm cơ sở
cho các giải pháp quản lý rừng theo hướng phát huy đồng thời và tối đa
chức năng giữ nước, đất và giá trị kinh tế của rừng.
30
, mm; năng lượng mưa E = 916 +
331.lg (I
BQ
), năng lượng mưa gây xói mòn E
*
= 11,9 + 8,7.lg (I
BQ
) và hệ số
xói mòn do mưa R = 0,01 x E
XM
x I
30
(phút-tấn/acre); tốc độ thấm nước của
đất V = S/T (mm/phút); lượng đất xói mòn bề mặt A =
4 3
(10 10 )/400
a
(tấn/ha/năm); các chỉ số phản ánh khả năng phòng hộ của thảm thực vật rừng
(diện tích tán tầng cây cao C
ai
, độ che phủ cây bụi, thảm tươi CP, % và độ che
phủ của vật rơi rụng TM, %); thiết lập các phương trình tương quan giữa các
nhân tố có liên quan với hệ số dòng chảy mặt và lượng đất xói mòn (sử dụng
phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp và phần mềm SPSS).
Ngoài ra việc xác định công thức tổ thành của từng trạng thái, các đặc
trưng về mức độ phong phú R, tỷ lệ hỗn loài Hl
1
0
13
’
13” đến 20
0
07
’
47” vĩ độ Bắc và 105
0
04
’
16”đến 105
0
20
’
50” kinh độ
Đông. Địa hình khu vực nghiên cứu tương đối phức tạp, xung quanh là
những dãy núi cao Bù Rinh 1280m (phía Bắc), Bù Hòn Hàn 1208m (phía
Nam), Bù Ginh 1183m (phía Đông), Cò Nghe 840m (phía Tây)…. Địa hình
nghiêng dần theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc bình quân
23
0
, độ cao trung bình 600m.
Từ những đặc điểm về địa hình, địa chất, thổ nhưỡng và hiện trạng tài
nguyên rừng tại Lương Sơn và Yên Nhân, cho thấy 2 xã này có những đặc
điểm cơ bản có thể đại diện được cho lưu vực hồ chứa nước Cửa Đặt. Vì vậy,
trong khuôn khổ luận án chúng tôi đã chọn 2 xã này làm địa bàn nghiên cứu.
Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm các nhân tố phát sinh dòng chảy và xói mòn đất
chiếm 17,59 - 26,99%, tập trung từ tháng 5-10 và
lớn nhất là tháng 6-9. Hệ số xói mòn do mưa ở địa bàn nghiên cứu biến
động giữa các năm từ 506,59 - 966,63 phút-tấn/acre. Chứng tỏ nguy cơ gây
xói mòn do mưa ở địa bàn là rất lớn. Do đó, rất cần có các biện pháp phòng
chống xói mòn thích hợp nhằm giảm thiểu tác hại do mưa gây nên.
4.1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá vai trò điều tiết dòng
chảy của rừng. Những nơi có điều kiện khác nhau về độ dốc và hướng dốc sẽ
có sự khác nhau về tính chất vật lý và khả năng giữ nước của đất, đặc biệt là
độ dốc sẽ ảnh hưởng lớn đến lượng đất xói mòn. Hướng phơi của các trạng
thái thực vật chủ yếu theo 2 hướng Đông Nam và Tây Nam. Độ dốc trong
khoảng từ 21 - 34
0
, trung bình là 27
0
.
4.1.3. Đặc điểm thổ nhưỡng
- Thành phần cơ giới đất ở các trạng thảm thực vật tại khu vực nghiên
cứu: thành phần hạt Sét 7,11-50,11%, Thịt 15,21-42,22%, Cát mịn 9,21-
27,93% và thành phần hạt Cát thô 5,43-44,38%.
- Hàm lượng mùn tổng thể (% OM) của các trạng thái thực vật có sự
biến động đáng kể giữa các trạng thái từ 1,01 ở trạng thái Ia đến 4,50 ở
trạng thái IIIB. Điều này cho thấy, đất đai khu vực nghiên cứu có hàm
lượng mùn thấp, đất xấu, nghèo dinh dưỡng.
- Khả năng thấm nước của đất
+ Tốc độ thấm nước ban đầu của đất rừng khá cao, biến động từ 6,78 -
14,87 mm/phút. Tốc độ thấm nước ban đầu của đất có rừng cao hơn so với
trảng cỏ và rừng tự nhiên cao hơn rừng trồng. Trên cơ sở đó đề tài đã thiết
lập được phương trình tương quan giữa tốc độ thấm nước ban đầu với độ
xốp và độ ẩm tầng đất mặt qua phương trình (4-2) với hệ số tương quan R
0,000
0,000V
c
=
-
10,548 + 0,3
32X (4
-
3)
0,852
0,000
0,755
0,000V
c
= 0,255 + 0,056H
đ
Vì xác suất t
a
(Sigt
a
) của phương trình (4-4) có giá trị > 0,05, nên tham
số a không tồn tại. Như vậy, có thể dự đoán tốc độ thấm nước ổn định của
đất theo phương trình (4-3) hoặc (4-5) tùy theo yêu cầu về mức độ chính
xác và các chỉ tiêu nhân tố điều tra hiện có; tốc độ thấm nước ổn định tỷ lệ
thuận với độ xốp và chiều dầy tầng đất.
- Quá trình thấm nước của đất
Trạng thái rừng giầu IIIB có tốc độ thấm nước cao nhất (14,87
mmm/phút), thời gian đạt đến tốc độ thấm nước ổn định cũng dài nhất (125
phút). Như vậy, khả năng thấm nước của trạng thái này là tốt nhất, sau đó
đến trạng thái IIIA
3
, IIIA
2
, IIIA
1
, IIB và IIA. Tiếp đến là rừng trồng Keo tai
tượng và Luồng. Tốc độ thấm nước kém nhất là trạng thái Ia, tốc độ thấm
vừa chậm và giảm nhanh, nhanh đạt đến trạng thái thấm nước ổn định, khả
năng điều tiết nước kém, dòng chảy mặt sớm xuất hiện khi có mưa.
4.1.4. Xác định các tham số K, R, C trong phương trình dự đoán xói mòn
đất của Wischmeier W.H và Smith D.D (1978)
Các tham số K và R trong phương trình mất đất phổ dụng của
Wischmeier W.H và Smith D.D (1978) đã được xác định ở trên, vì vậy
chúng ta chỉ cần xác định tham số thảm thực vật C thông qua phương trình
cải tiến (4-6) với hệ số quy đổi từ tấn/acre ra tấn/ha.
A = 2,47. R.K.L.S.C.P (4 -6)
2
– 1.9401e-010*x
3
(4-9)
0,620 0,000 0,000 0,000
C
=
0.013251 * exp( -0.002259* (C
ai
+CP+TM))
(4-10)
Phương trình (4-9) có Sigt
b
, Sigt
c
> 0,05 nên các tham số b và c không tồn
tại, vì vậy chỉ có thể áp dụng phương trình (4-8), (4-10) để xác định hệ số C, tuy
nhiên phương trình (4-10) có hệ số tương quan cao hơn (0,620). Vì thế, trong
khuôn khổ luận án có thể dùng phương trình (4-10) để dự đoán hệ số C của thảm
thực vật tại địa bàn nghiên cứu. Như vậy, muốn dự đoán hệ số C của thảm thực
vật tại một khu vực nào đó, cần xác định 3 chỉ tiêu: chỉ số diện tích tán (C
ai,
Sig t
b
0,960 0,000 0,000 0,000
BM/P(%) = 34,671 – 5,585* ln[
( )
*
ai
C CP TM
K
] (4-11)
0,946 0,000 0,000 0,000
BM/P(%) = 16,485 – 5,927* ln[
2
*
ai
C CP TM
K
] (4-12)
0,969 0,000 0,000 0,000
BM/P(%) = 52,498 – 4,675* ln[(C
ai
+CP+VRR)*
d
*
H
2
và IIIA
3
tăng nhưng
không đáng kể. Điều này chứng tỏ khả năng điều tiết dòng chảy và chống xói
mòn của các trạng thái rừng giầu, rừng trung bình là rất tốt. Lượng đất xói
mòn ở trạng thái đất trống là cao nhất (83,161 tấn) cao hơn các trạng thái đất
có rừng che phủ, trong khi độ dốc của trảng cỏ là thấp (22
0
). Điều này, chứng
tỏ thảm thực vật rừng có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế xói mòn
đất. Lượng đất xói mòn của trạng thái rừng trồng lớn hơn lượng đất xói mòn
của rừng tự nhiên, điều này một lần nữa lại khẳng định, thảm thực vật có vai
trò quyết định và có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng chống xói mòn.
Lượng đất xói mòn phụ thuộc vào các nhân tố khác như: thực vật, địa
hình, loại đất,…. và chiều dày tầng đất (H
đ
, cm), sự phụ thuộc này được
biểu diễn dưới dạng các phương trình tương quan từ (4-20) đến (4-25).
R Sig F Sig t
a
Sig t
b
0,961 0,000 0,000 0,000
A (tấn/ha/năm) = 101,831 - 17,205* ln[
*
ai
C CP TM
K
H
K
] (4-23)
Các phương trình trên đều có hệ số tương quan rất chặt (R từ 0,954 trở lên)
nên có thể áp dụng các phương trình này cho việc dự đoán tổng lượng đất xói
mòn thông qua các chỉ tiêu tổng hợp. Trong đó, phương trình (4-23) có hệ số
tương quan cao nhất với R = 0,972. Qua đó cho ta thấy, lượng đất bị xói mòn còn
chịu ảnh hưởng của nhân tố độ dày tầng đất (H
đ
, cm). Để thuận lợi cho việc tính
toán luận án sử dụng phương trình (4-22) để dự báo lượng đất xói mòn đất xói
mòn tại khu vực nghiên cứu. Lượng đất xói mòn trung bình của khu vực khoảng
36,13647 tấn/ha/năm thuộc cấp xói mòn 2 (cấp xói mòn mạnh). Vì vậy, vấn đề
phục hồi lại thảm thực vật rừng để sớm phát huy khả năng phòng hộ điều tiết
nguồn nước, giảm thiểu lượng đất xói mòn, chống bồi lấp lòng hồ và tăng tuổi
thọ công trình hồ chứa nước Cửa Đặt lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
13
4.2.3. Mối quan hệ giữa lượng nước chảy bề mặt với lượng đất xói mòn
Lượng đất xói mòn có quan hệ mật thiết với hệ số dòng chảy bề mặt và nó tỉ
lệ thuận với hệ số dòng chảy mặt theo phương trình (4-24) và (4-25).
R Sig F Sig t
a
Sig t
b
0,978 0,000 0,001 0,000
A (tấn/ha/năm) = 1,869 + 0,318* [
%
định qua các năm. Tuy nhiên, hệ số của công thức tổ thành loài tại Ô9 (trạng
thái IIIA
1
) giảm 1 loài trong năm 2012; tại Ô11 (trạng thái IIA) tăng lên 1 loài
trong năm 2010. Điều này cho thấy tại các trạng thái rừng nghèo đang có biến
động về mật độ cây cũng như thành phần các loài cây.
4.3.1.2. Các chỉ số đặc trưng của cấu trúc rừng
Kết quả điều tra cho thấy, rừng tự nhiên khu vực nghiên cứu có mật độ
tương đối cao, mật độ tầng cây cao lớn nhất thuộc trạng thái rừng IIB (từ 725-
755 cây/ha) thấp nhất thuộc trạng thái IIIB (từ 445-450 cây/ha). Đối với rừng
giầu và trung bình các chỉ số về tỷ lệ ưu trội, tỷ lệ hỗn loài tương đối ổn định;
14
rừng nghèo chỉ số về tỷ lệ ưu trội giảm dần theo thời gian, còn chỉ số tỷ lệ hỗn
loài lại tăng lên. Điều này cho thấy rừng nghèo tại khu vực nghiên cứu đang
được phục hồi tốt, số lượng cá thể trong mỗi loài tăng lên theo thời gian. Tỷ số
hỗn loài Hl
1
ở các trạng thái rừng qua các năm tương đối cao từ 1/4,3 đến 1/3,2
và tỷ Hl
1
lớn hơn ít nhất 3 lần Hl
2
. Điều này cho thấy, rừng tự nhiên khu vực
nghiên cứu đã xuất hiện nhóm loài cây ưu thế.
4.3.1.3. Phân bố thảm thực vật
Kết quả tính toán cho thấy, phân bố N/H
VN
và N/D
1.3
/ha/năm) các trạng thái rừng tự nhiên khác >
10 m
3
/ha/năm. Trữ lượng gỗ của các loài có giá trị kinh tế ở trạng thái rừng non
và rừng nghèo thấp hơn trữ lượng của những cây gỗ ít giá trị kinh tế. Đối với
trạng thái rừng giầu và trung bình thì ngược. Qua đó cho thấy, đối với các trạng
thái rừng giầu và rừng trung bình cần có các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt tránh
tình trạng khai thác lâm sản trái phép, vì các loài cây gỗ thuộc các trạng thái này
có nhiều nguy cơ bị chặt hạ hơn đối với các loài cây ít giá trị kinh tế.
15
4.3.2.2. Đặc điểm thảm thực vật về hiệu năng phòng hộ
Chỉ số diện tích tán, độ tàn che, độ che phủ,… có ý nghĩa quan trọng
trong việc phát huy chức năng phòng hộ của rừng. Chỉ số diện tích tán tăng
dần qua các năm ở tất cả các trạng thái rừng cao nhất thuộc trạng thái IIA,
điều này nói lên thảm thực vật khu vực nghiên cứu ngày càng phát huy tốt
hiệu năng phòng hộ. Độ che phủ của cây bụi, thảm tươi ở trạng thái rừng
giầu và trung bình giảm dần theo thời gian. Đối với rừng nghèo, đất trống
và rừng Luồng độ che phủ cây bụi thảm tươi tăng dần theo thời gian, riêng
rừng Keo tai tượng độ che phủ cây bụi, thảm tươi tăng lên trong giai đoạn
từ 2008 đến năm 2010 và sau đó lại giảm dần. Điều này cho thấy độ che
phủ cây bụi thảm tươi luôn đồng biến với C
ai
khi C
ai
thấp, nhưng khi C
ai
tăng đến một mức độ nhất định, độ che phủ cây bụi thảm tươi lại có xu
hướng nghịch biến với đại lượng này. Độ che phủ của vật rơi rụng tăng dần
tế, mật độ cây tái sinh rất thấp (160-1000 cây/ha). Rừng tự nhiên, công thức tổ
thành gồm các loài cây gỗ chịu bóng có giá trị kinh tế cao, mật độ cây tái sinh
>3000 cây/ha, phẩm chất tốt chiếm tỷ lệ cao (>55%). Riêng trạng thái IIA số
cây có phẩm chất tốt chiếm tỷ lệ thấp (< 30%) và trạng thái IIIB có phẩm chất
tốt chiếm tỷ lệ cao nhưng mật độ cây tái sinh lại thấp (<1500 cây/ha).
4.3.4.2. Sự gia tăng về chỉ số diện tích tán (C
ai
)
Từ số liệu điều tra về chỉ số C
ai
của thảm thực vật rừng qua các năm đã
xây dựng các phương trình tương quan giữa lượng tăng trưởng của chỉ số
diện tích tán (ZC
ai
) với chỉ số diện tích tán (C
ai
)
R Sig. Sigt
a
Sigt
b
Sigt
c
0,877 0,001 0,001 0,014 0,031
Z(C
ai
) = 6,237 – 0,035*C
như bất biến. Nên muốn giảm thiểu được lượng đất xói mòn và hệ số dòng
chảy mặt cần phải tác động đến thảm thực vật, cụ thể là cần nâng cao chỉ
tiêu tổng hợp (C
ai
+ CP + TM).
Mối quan hệ giữa hệ số dòng chảy mặt và lượng đất xói mòn bề mặt với
các chỉ tiêu tổng hợp (C
ai
+CP+ TM)* H
đ
/(α*K) được thể hiện qua biểu đồ
hình 4.21.
17
Hình 4.21. Biến thiên của hệ số dòng chảy mặt, lượng đất xói mònvới
chỉ tiêu tổng hợp
4.4.1.1 Tiêu chuẩn thảm thực vật bắt đầu có ý nghĩa giảm xói mòn đất
Trị số của chỉ tiêu tổng hợp nhỏ hơn 1.000, đường biểu diễn hệ số dòng
chảy mặt và lượng đất xói mòn bắt đầu giảm có ý nghĩa. Vì vậy, trị số
1.000,0 được coi là trị số nhỏ nhất của chỉ tiêu tổng hợp mà từ đó trở lên tác
dụng nuôi dưỡng nguồn nước và bảo vệ đất.
U = (C
ai
+ CP + TM)* H
đ
/(α*K) ≥ 1.000 (4-33)
hay (C
ai
+ CP + TM) ≥ 1.000*α*K/H
đ
30
35
40
45
1
0
0
2
0
0
0
5
0
0
0
8
0
0
0
1
1
0
0
0
1
4
0
0
0
1
40
50
60
70
80
90
tấn/ha/năm
BM/P(%)
A18
Trong mọi trường hợp, khi độ dốc lớn hơn 5
0
đều cần có lớp phủ của cây
bụi thảm tươi để bảo đảm khả năng phòng hộ bảo vệ đất. Do vậy, để giảm
xói mòn đất không nên dọn sạch hoặc loại bỏ hoàn toàn cây bụi thảm tươi
trên sườn dốc. Tỷ lệ che phủ của lớp thảm thực vật ngay cả ở độ dốc 5
0
và
độ dày tầng đất 200 cm thì cũng phải vượt quá 15,0%. Độ dốc mặt đất càng
cao, yêu cầu độ che phủ của lớp thảm thực vật càng lớn. Tỷ lệ này, có thể
dao động từ 33,0% khi độ dốc là 5
0
, hệ số xói mòn đất là 0,060 và độ dày
tầng đất là 200 cm đến 14.740,0 % khi độ dốc là 40
0
, hệ số xói mòn đất là
0,335 và độ dày tầng đất là 20 cm. Khi cần độ che phủ của lớp thảm thực
vật >300%, nhất thiết phải xây dựng rừng hỗn loài hay rừng tự nhiên với
, II
B
mật độ cây tái sinh 3000cây/ha, trong
đó có hơn 2000 cây tái sinh có triển vọng, phân bố đều.
- Nhóm trạng thái IIIA
1
và II
A
mật độ cây tái sinh <3000 cây/ha, trong
đó cây tái sinh có triển vọng khoảng < 1500 cây/ha, nhưng mạng hình phân
bố thuộc phân bố ngẫu nhiên và không đều.
- Nhóm trạng thái đất trống Ic mật độ cây tái sinh và cây tái sinh có triển
vọng > 1000 cây/ha, phân bố đều.
- Nhóm trạng thái đất trống Ib, Ia mật độ cây tái sinh và cây tái sinh có
triển vọng < 600 cây/ha, phân bố không đều.
4.5.2. Phân chia thảm thực vật rừng theo thời gian phục hồi
Trên cơ sở thời gian để các trạng thái rừng đạt đến ngưỡng an toàn về
khả năng phòng hộ đầu nguồn, đã phân chia thảm thực vật như sau:
- Đối với trạng thái rừng giầu (III
B
và IIIA
3
) đã đạt đến ngưỡng an toàn
phòng hộ chống xói mòn đất.
- Đối với rừng trung bình trạng thái IIIA
2
thời gian để cả 2 ô đạt đến
ngưỡng an toàn chỉ cần từ 8 - 9 năm, cần bảo vệ nuôi dưỡng rừng.
- Đối với rừng trung bình thuộc trạng thái II
B
mạng hình phân bố của nhóm loài cây tái sinh triển vọng chưa đáp ứng yêu
cầu thành rừng, cần nâng cao mật độ và điều tiết phân bố.
20
- Nhóm trạng thái đất trống (Ia, Ib), với độ dốc (α) từ 24-25
0
, mật độ và
mạng hình phân bố cây tái sinh chưa đủ đáp ứng yêu cầu phục hồi rừng, cần
phục hồi rừng thông qua tái sinh nhân tạo.
- Nhóm trạng thái đất trống (trảng cỏ Ia), với độ dốc khoảng 20
0
, mật độ
cây tái sinh thấp, phân bố không đều cần trồng rừng toàn diện.
4.5.4. Đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phát huy hiệu quả phòng hộ
Trạng thái trảng cỏ (Ia): Các chỉ tiêu tổng hợp của thảm thực vật chưa
đạt ngưỡng bắt đầu có ý nghĩa giảm xói mòn đất, độ dốc 20
0
. Cần tiến hành
trồng rừng toàn diện tại khu vực này với các loài cây bụi bản địa hoặc cây
phân xanh, cây cải tạo đất như Muồng, Cốt khí, Đậu triều, Keo dậu,
Dứa,…. Nên trồng hỗn giao theo hàng, xen cây với mật độ dày, chỉ xử lý
thực bì và làm đất cục bộ hoặc có thể trồng xen các loài cây nông nghiệp
tạo độ che phủ mặt đất theo hướng nông lâm kết hợp.
Trạng thái Ib: Các chỉ tiêu tổng hợp của thảm thực vật chưa đạt ngưỡng
bắt đầu có ý nghĩa giảm xói mòn đất, mật độ cây tái sinh còn thấp, phân bố
không đều, độ dốc 24
0
. Cần tiến hành trồng rừng cục bộ, với những nơi
chưa có điều kiện có thể áp dụng giải pháp nuôi dưỡng, bảo vệ trồng bổ
sung, bảo vệ cây che phủ mặt đất trong mùa mưa.
A3
: Đây là hai trạng thái rừng tự nhiên đã có
thời gian phục hồi khá tốt, các chỉ tiêu thảm thực vật đã đạt mức đáp ứng
khả năng phòng hộ bảo vệ đất, dộ dốc từ 29-31
0
. Hai trạng thái rừng này
đều nằm ở những nơi xa xôi, địa hình phức tạp nên điều kiện trồng rừng là
rất khó khăn. Vì vậy, hướng tác động chính là khoanh nuôi, nuôi dưỡng,
quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt.
Trạng thái rừng III
B
: Đây là trạng thái rừng tự nhiên đã có thời gian phục
hồi khá tốt, các chỉ tiêu thảm thực vật đã đạt mức đáp ứng khả năng phòng hộ
bảo vệ đất, trữ lượng rừng tương đối cao. Tuy nhiên, mật độ cây tái sinh còn
tương đối thấp, đặc biệt là nhóm cây tái sinh triển vọng mới đạt 1240 cây/ha.
Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xúc tiến tái sinh thông qua chặt nuôi dưỡng,
chặt thấu quang, kết hợp mở tán để xúc tiến tái sinh tự nhiên, điều chỉnh tổ
thành loài, tạo mật độ hợp lý. Được phép khai thác điều chỉnh tổ thành, mật
độ, độ tàn che với cường độ không vượt quá 10%. Các biện pháp kỹ thuật áp
dụng cho đối tượng này được thực hiện theo quy phạm ngành (QPN 14-92).
Trạng thái rừng trồng Keo tai tượng và Luồng: do người dân trồng và
quản lý với mục đích chính là kinh doanh theo hướng ổn định và bền vững.
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Đặc điểm các nhân tố phát sinh dòng chảy và xói mòn đất
1.1.1. Đặc điểm nhân tố mưa
Lượng mưa khu vực nghiên cứu tương đối lớn trên 2000 mm, phân bố
không đều tập trung từ tháng 5 đến tháng 10. Lượng mưa trong năm có
ngưỡng gây xói mòn từ 1112 - 1943 mm. Năng lượng mưa dao động từ
158.798- 198.422,72 J/m
ai
+CP+VRR)* H
đ
/(α*K)]
1.2.2. Đặc điểm lượng đất xói mòn
- Lượng đất xói mòn thuộc cấp xói mòn mạnh, thấp nhất là 8,488
tấn/ha/năm ở trạng thái III
B
và cao nhất là 83,161 tấn/ha/năm ở trạng thái
Ia, giảm dần từ rừng tự nhiên đến rừng trồng, cao nhất trảng cỏ. Lượng đất
xói mòn bề mặt phụ thuộc vào các nhân tố tổng hợp và độ dày tầng đất
(H
đ
, cm), với hệ số tương quan 0,971.
A (tấn/ha/năm) = 156,844 – 14,412* ln[(C
ai
+ CP + TM)*H
đ
/(α*K) ]
- Hệ số dòng chảy mặt và lượng đất xói mòn có mối quan hệ rất
chặt, hệ số tương quan là 0,978 theo phương trình tuyến tính.
A (tấn/ha/năm) = 1,869 + 0,318* [BM/P%]
1.3. Đặc điểm xu thế biến động của thảm thực vật
1.3.1. Đặc điểm xu thế cấu trúc thảm thực vậtMật độ cây gỗ tương đối cao từ 445-755 cây/ha, số loài biến động từ 23-
48 loài/ô, số loài tham gia vào công thức tổ thành biến động từ 7 - 15 loài. Tổ
thành loài được kết hợp giữa thành phần loài của các loài cây ưa sáng và các
+ 6,537E-5* C
ai
2
1.4. Đề xuất tiêu chuẩn thảm thực vật đáp ứng yêu cầu bảo vệ đất
- Tiêu chuẩn thảm thực vật bắt đầu có ý nghĩa giảm xói mòn đất:
(C
ai
+ CP + TM) ≥ 1.000*(α*K)/H
đ
- Tiêu chuẩn thảm thực vật đáp rừng yêu cầu phòng hộ bảo vệ đất:
(C
ai
+ CP + TM) ≥ 22.000*(α*K)/H
đ
.
1.5. Phân chia thảm thực vật theo giải pháp kỹ thuật tác động
1.5.1. Phân chia thảm thực vật theo khả năng phục hồi
Xét trên khả năng phục hồi rừng của các trạng thái thảm thực vật, luận
án đã phân chia thảm thực vật thành 5 nhóm trạng thái cơ bả(Nhóm trạng
thái III
B
; Nhóm trạng thái IIIA
3
, IIIA
2
, II
B
; Nhóm trạng thái IIIA