Đề tài một số biện pháp bảo hộ ngành sản xuất ô tô trong nước khi gia nhập cộng đồng kinh tế asean 2015 - Pdf 24

BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
KHOATHƯƠNG MẠI
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI:MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO HỘ NGÀNH SẢN XUẤT Ô TÔ
TRONG NƯỚC KHI GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2015 .
GVHD :
SVTH :
MSSV :
LỚP :
ĐÁNH GIÁ ĐỀ TÀI SINH VIÊN.
Giảng viên hướng dẫn:
TP. HỒ CHÍ MINH
NHẬN XÉT CỦA GVHD ĐIỂM:
TP. HCM, ngày….tháng….năm 2014
Giảng Viên Hướng Dẫn

Bên cạnh đó , dù Việt Nam đã có những chính sách bảo hộ hiện tại đối với
ngành sản xuất ô tô nhưng có đem lại hiệu quả như mong muốn ? Trong 10 năm ,
ngành ô tô Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển khi các linh kiện , phụ tùng để sản
xuất ra một chiếc ô tô trong nước chiếm tới 70% là phải nhập khẩu từ nước ngoài ,
tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm còn thấp dẫn đến giá thành cao hơn xe lắp ráp ở Thái Lan
20% trên một chiếc .
Ngoài ra các doanh nghiệp sản xuất ô tô có yếu tố nước ngoài sẽ có thêm
nhiều sự lựa chọn thị trường một khi Cộng đồng Asean 2015 ra đời , họ sẽ ưu tiên
chọn các thị trường vốn đã có được nền tảng sản xuất nhất định như Thái Lan ,
Malaysia hay Indonesia chứ không chọn Việt Nam . Đó là một bất lợi khác nữa của
nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp sản xuất ô tô nói riêng khi đó
là một ngành công nghiệp chủ chốt của một quốc gia nhưng còn trên đà phát triển .
Nhận thấy được điều đó nên em đã quyết định chọn đề tài “ Một số biện
pháp bảo hộ ngành sản xuất ô tô trong nước khi gia nhập cộng đồng kinh tế
Asean 2015 “
2. Mục tiêu nghiên cứu :
- Đánh giá chung hoạt động sản xuất ô tô trong nước hiện nay cũng như tình
hình nhập khẩu ô tô trong nước .
- Phân tích , đánh giá thực trạng các chính sách bảo hộ ngành sản xuất ô tô trong
nước hiện nay , nêu ra những mặt tích cực để tiếp tục phát huy và những bất cập của
các chính sách để khắc phục .
- Đề ra các giải pháp để nâng cao tính bảo hộ của các chính sách bảo hộ sản
xuất ô tô trong nước .
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng nghiên cứu là các chính sách bảo hộ sản xuất ô tô trong nước ,
đặc biệt là định hướng các chính sách đó khi cộng đồng kinh tế Asean 2015 ra đời.
- Phạm vi nghiên cứu : các chính sách bảo hộ trong nước Việt Nam đối với
ngành sản xuất ô tô .
4. Kết cấu của báo cáo :
Ngoài phần mở đầu và kết luận , báo cáo được kết cấu làm ba chương :

hợp phức tạp hơn có thể bao hàm các lĩnh vực văn hoá , môi trường và các mối
quan tâm khác .
- Tóm lại , Chính sách bảo hộ nói chung trong thương mại quốc tế
(Protectionism) là việc chính phủ áp dụng các biện pháp rào cản thuế quan và phi
thuế quan cùng những rào cản thương mại khác nhằm bảo vệ nền sản xuất trong
nước , đẩy mạnh việc sản xuất và xuất khẩu ra nước ngoài .
SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 8
GVHD: Ths.Hà Minh Hiếu
- Theo quan điểm cá nhân , em cho rằng bảo hộ sản xuất trong nước là
Chính phủ hay Nhà nước sẽ có áp dụng phương thức là áp đặt thuế hay các hàng rào
phi thuế quan hoặc sẽ gây những khó khăn đối với việc tiêu thụ sản phẩm nhập
khẩu để kích thích và khuyến sản xuất , tiêu thụ sản phẩm đó trong nước .
1.1.2 Vai trò của bảo hộ :
- Đảm bảo ngành cần được bảo hộ sẽ phát triển tốt trong nước và đủ sức
cạnh tranh với các thị trường bên ngoài .
- Hạn chế tối đa việc nhập khẩu sản phẩm hay hàng hoá cần được bảo hộ ,
khuyến khích các nhà đầu tư trong nước phát triển và tăng quy mô sản xuất .
- Khuyến khích người dân tiêu dùng hàng hoá trong nước để các doanh
nghiệp trong nước sản xuất và đầu tư nhiều .
- Đề phòng và tránh việc nguy cơ đất nước sẽ không có khả năng phát triển
1 ngành công nghiệp hay 1 loại hàng hoá nào đó , ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế của một đất nước , đặc biệt là trong thời điểm hội nhập hiện nay , hàng hoá nhập
khẩu sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi từ các hiệp định thương mại được kí kết.
- Bảo vệ các đơn vị , các doanh nghiệp , các nhà sản xuất trong nước trước
các sản phẩm nhập khẩu cùng loại từ nước ngoài . Hướng đến một đất nước có đầy
đủ các ngành công nghiệp , các hàng hoá sản phẩm được sản xuất trong nước , tránh
tình trạng bị phụ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu .
- Giải quyết việc làm trong nước , giảm thiểu tình trạng thất nghiệp , trong
một số trường hợp đó là sự trả đũa của các quốc gia với nhau .
1.1.3 Đặc điểm của bảo hộ :

đứng , sản phẩm vẫn có thể bán được , doanh nghiệp vẫn hoạt động sản xuất bình
thường được , không ảnh hưởng đến kinh tế của đất nước .
SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 10
GVHD: Ths.Hà Minh Hiếu
1.2.2 Hàng rào phi thuế quan :
- Là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại
mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình đẳng Hàng rào phi thuế quan
thường được áp dụng đối với hàng nhập khẩu Hình thức của hàng rào phi thuế quan
rất phong phú, gồm: Các biện pháp hạn chế định lượng, các biện pháp tương đương
thuế quan, các rào cản kỹ thuật, các biện pháp liên quan đến đầu tư nước ngoài, các
biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời .
- Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật: Đây là hệ thống bảo hộ bằng rào cản kỹ
thuật hiệu quả nhất thế giới hiện nay và phù hợp với xu thế chung của thương mại
thế giới, nên ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng, trong đó có EU. Tại
EU, đây là biện pháp bảo hộ phi thuế quan chủ yếu và phổ biến nhất cho các hàng
hóa nhập khẩu từ các nước khác. Hệ thống này được cụ thể hóa qua 5 tiêu chuẩn
của sản phẩm bao gồm: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêu
chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về
lao động. Với nhiều nước xuất khẩu là nước đang phát triển, các tiêu chuẩn về bảo
vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động là những tiêu chuẩn rất khó vượt qua được.
- Biện pháp hạn chế định lượng là một trong những hàng rào phi thuế mà
hàng hóa và DN Việt Nam sẽ gặp phải khi thâm nhập vào thị trường quốc tế. Đây là
biện pháp nhằm trực tiếp giới hạn khối lượng hoặc giá trị hàng hóa nhập khẩu vào
một quốc gia, do đó có tính chất bảo hộ rất cao. Các biện pháp bao gồm:
• Thứ nhất : cấm nhập khẩu. Các nước trên thế giới chỉ được sử dụng
biện pháp này vì mục tiêu bảo vệ đạo đức công cộng, sức khỏe con
người, tài nguyên thiên nhiên, an ninh quốc phòng Vì thế, những
hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu của các quốc gia thường là
vũ khí, đạn dược nhưng nhìn chung hàng xuất khẩu của Việt Nam ít
bị hạn chế bởi biện pháp này do quy định của các nước nhập khẩu khá

có sự phân biệt đối xử khi tính giá thông thường giữa nước có nền kinh tế thi trường
với nước không có nền kinh tế phi thị trường. Theo ADA và pháp luật chống bán
phá giá của nhiều nước khác như Hoa Kỳ, EU, malayxia, Ấn Độ ….ngoài các cách
SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 12
GVHD: Ths.Hà Minh Hiếu
tính giá thông thường như PLCBPG năm 2004 đã quy định, thì ADA và pháp luật
các nước này còn cho phép cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có quyền
bỏ qua các cách thức tính giá thông thường nêu trên và tự mình xác định cácc thức
mà mình cho là phù hợp nếu nước có sản phẩm bị điều tra chống bán phá giá là
nước có nền kinh tế phi thị trường. Thông thường trong trường hợp này sau khi kết
luận nước có sản phẩm đang bị điều tra là nước có nền kinh tế phi thị trường thì cơ
quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có thể không sử dụng giá bán sản phẩm
tường tự tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu mà chọn một nước thứ bat hay
thế. Theo đó, giá trị thông thường được xác định dựa trên giá bán sản phẩm tương
tự này tại thị trường nước thứ ba. Nước thứ ba thay thế được chọn để xác định giá
trị thông thường phải là nước có nền sản xuất sản phẩm tương đồng với nước xuất
khẩu sản phẩm bị điều tra để bảo đảm mức độ tương đồng giữa hai thị trường (thị
trường của nước thứ ba thay thế và thị trường của nước xuất khẩu có sản phẩm bị
điều tra) về chi phí sản xuất, chi phí quản lý, lợi nhuận hợp lý nhằm đảm bảo sự
công bằng cho các bên liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn các vụ kiện chống bán phá
giá nhằm vào các nước có nền kinh tế bị coi là nền kinh tế phi thị trường đều chứng
tỏ việc xác định giá thông thường theo cách này đã không đảm bảo công bằng. Thực
tế Việt Nam đã hứng chịu chịu nhiều thiệt hại khi bị sử dụng cách tính này khi bị
kiện bán phá giá ở thị trường nước ngoài. Ví dụ: trong vụ kiện chống bán phá giá cá
tra và cá ba sa của Việt Nam vào thị trường Mỹ năm 2002. Tuy nhiên, bên cạnh đó
thì pháp luật hiện hành Việt Nam về việc xác định hành vi bán phá giá hàng hóa
nhập khẩu vào Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định so với quy định
pháp luật chống bán phá giá của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là so với Hiệp
định ADA, thể hiện:
• Thứ nhất: Các vấn đề như: thế nào là “điều kiện thương mại thông

nguyên tắc so sánh giữa giá thông thường với giá xuất khẩu để tính
biên độ bán phá giá . Về mặt lí luận và thực tiễn cho thấy , muốn
xác định được hành vi bán phá giá với biên độ bán phá giá được
xác định cụ thể làm căn cứ để áp dụng biện pháp chống bán phá giá
thì cơ quan điều tra chống bán phá giá của nước nhập khẩu phải xác
định được giá thông thường , xác định được giá xuất khẩu , sau đó
SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 14
GVHD: Ths.Hà Minh Hiếu
thực hiện các điều chỉnh cần thiết với giá thông thường và giá xuất
khẩu để đưa chúng về mức tại khâu xuất xưởng . Cuối cùng tiến
hành so sánh giã thông thường với giá xuất khẩu được điểu chỉnh ,
qua đó mới tính toán được biên độ phá giá cụ thể . Tuy nhiên , quy
trình tính toán biên độ phá giá như trên đã không được Pháp Luật
Chống Bán Giá năm 2004 quy định đầy đủ . Nghị định số 90/2005
thì có đề cập đến quy trình này tại Điều 25 , Điều 26 và Điều 27
nhưng nguyên tắc trong việc so sánh giá thông thường và giá xuất
khẩu như thế nào thì không được quy định . Hạn chế này có thể dẫn
đến sự tuỳ tiện trong việc so sánh giữa giá thông thường với giá
xuất khẩu khi tính toán biên độ phá giá của cơ quan điều tra chống
bán phá giá , dẫn đến kết quả của các cuộc điều tra chống bán phá
giá sẽ có nhiều sai lệch .
- Tỷ lệ nội địa hoá bắt buộc : một cách thức ngăn cản hàng hóa nhập khẩu,
theo đó một quốc gia quy định một mặt hàng nào đó phải đạt một tỷ lệ nội địa hóa
mới được tiêu thụ tại quốc gia đó.
- Trợ cấp : đây là một trong những căn cứ mà nước tiêu thụ hay còn gọi là
nước nhập khẩu sẽ lấy để làm khó và đánh một loại thuế đặc biệt lên sản phẩm được
chứng minh là có sự trợ giúp của Nhà nước của nước xuất khẩu trong quá trình sản
xuất . Ví dụ điển hình trường hợp Cá Ba Sa của Việt Nam . Liên qua đến cơ chế thị
trường .
1.3 Cộng đồng kinh tế Asean 2015 :

tư, vốn và lao động có tay nghề ; Một khu vực kinh tế có sức cạnh tranh cao . Một
khu vực phát triển kinh tế đồng đều, nhất là thực hiện có hiệu quả Sáng kiến liên kết
ASEAN . Một khu vực ASEAN hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu . Đồng
thời, ASEAN nhất trí đề ra cơ chế thực hiện và lộ trình chiến lược thực hiện kế
SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 16
GVHD: Ths.Hà Minh Hiếu
hoạch tổng thể . ASEAN cũng nhất trí xác định 12 lĩnh vực ưu tiên đẩy nhanh liên
kết với lộ trình hoàn thành đến năm 2010, đó là: Hàng nông sản ; Ô tô ; Điện tử ;
Nghề cá ; Các sản phẩm từ cao su ; Dệt may ; Các sản phẩm từ gỗ ; Vận tải hàng
không ; Thương mại điện tử ASEAN ; Chăm sóc sức khoẻ ; Du lịch ; Logistics.
1.3.2.3 Định hướng Asean 2015 :
- Là ASEAN sẽ chuyển hóa dần từ một Hiệp hội khá lỏng lẻo thành một tổ
chức hợp tác liên Chính phủ có mức độ ràng buộc pháp lý cao hơn và liên kết sâu
rộng hơn, nhưng không trở thành một tổ chức siêu quốc gia; sẽ trở thành một thực
thể chính trị-kinh tế gắn kết hơn, một cộng đồng “thống nhất trong đa dạng”; tiếp
tục là một tổ chức hợp tác khu vực mở và có vai trò quan trọng ở Châu Á-Thái Bình
Dương . Liên kết ASEAN sẽ sâu rộng hơn, nhưng mức độ liên kết sẽ không đồng
đều trong ba lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội, do sự đa dạng
khá lớn giữa các nước thành viên, nhất là về khoảng cách phát triển, chế độ chính trị
- xã hội cũng như những tính toán chiến lược và lợi ích quốc gia.
1.3.2.4 Định hướng ngành công nghiệp ô tô khi gia nhập Asean 2015 :
Sau đây là những cam kết và những định hướng khi Việt Nam gia nhập cộng
đồng kinh tế Asean 2105 :
- Gỡ bỏ các chính sách thuế đối với các nước thành viên trong cộng
đồng kinh tế Asean 2015 đối với mặt hàng ô tô vì họ cũng sẽ gỡ bỏ
các hàng rào thuế đối với nước ta về một số ngành hàng khác .
- Đến năm 2018 phải giảm thuế nhập khẩu xe ô tô về mức 0% như
đúng cam kết khi gia nhập cộng đồng kinh tế Asean 2015 .
- Nâng cao chất lượng ô tô trong nước thông qua việc nâng cao tỷ lệ
nội địa hoá sản phẩm lắp ráp trong nước , năng suất lao động , nâng

SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 18
GVHD: Ths.Hà Minh Hiếu
nghiệp sản xuất, chế biến, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc
sản phẩm tiêu dùng.
- Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ được xem là một trong những chính
sách ưu tiên hàng đầu của Việt Nam nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công
nghiệp, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Tuy
nhiên, thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam còn yếu và cần những chính
sách phù hợp để phát triển.
1.4.3 Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI):
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment , viết tắt là FDI )
là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng
cách thiết lập cơ sở sản xuất , kinh doanh . Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ
nắm quyền quản lí cơ sở sản xuất kinh doanh này .
- Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI : Đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)
có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý
tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính
khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở
nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường
hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi
nhánh công ty".
1.4.4 Chuyển giao công nghệ :
- Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ: là việc chủ sở hữu công nghệ
chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công nghệ
cho tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thực
SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 19
GVHD: Ths.Hà Minh Hiếu
hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp

1.4.6 Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công :
- Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt
được chi phí sản xuất thấp, nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê
mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương
được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong
quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường
hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được doanh
nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút
FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương
cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
1.4.7 Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu :
- Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ doanh nghiệp có
vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các doanh nghiệp khác trong nước
có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao
động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới
sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.
1.4.8 Cơ sở hạ tầng giao thông :
- Cơ sở hạ tầng có thể được hiểu là hệ thống giao thông vận tải – đường bộ,
đường song , đường biển , đường sắt , đường hàng không , đường ống ; hệ thống
liên lạc viễn thông , hệ thống cung cấp năng lượng , nước , v v Hệ thống cơ sở hạ
tầng hiện đại có một tầm quan trọng quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của
SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 21
GVHD: Ths.Hà Minh Hiếu
mọi nền kinh tế , vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp , đảm bảo các
quan hệ liên lạc thông suốt kịp thời , cung cấp đủ điện nước cho toàn bộ hoạt động
của nền kinh tế đất nước . Chính vì vậy , các quốc gia phát triển ngay từ đầu đã ưu
tiên xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại trong một thời gian ngắn 20-30 năm làm bước
khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của đất nước .
SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 22

từ đầu năm 2014. Nhân cơ hội này, một số nước được hưởng ưu đãi thuế suất này
như Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản… đã nhanh tay tăng số lượng xe nhập khẩu vào
Việt Nam .
SVTH : Nguyễn Thanh Hằng 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status