nghiên cứu lựa chọn giống và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng cây dong riềng tại thái nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ THÙY LINH NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIỐNG
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƢỢNG
CÂY DONG RIỀNG TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ LÂN

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã cho tôi cơ hội tham gia khoá đào tạo thạc
sỹ khoá K20 chuyên ngành khoa học cây trồng của trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên.
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Thị Lân giảng viên khoa Nông
học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tận tình hướng dẫn tôi trong
suốt thời gian tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại Khoa Nông
học, phòng quản lý đào tạo sau Đại học đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện
cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình và bạn bè
những ngưòi luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và
nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Học viên Hoàng Thị Thùy Linh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iii

MỤC LỤC
Lời cam đoan i


Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 21
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm 21
2.3. Nội dung nghiên cứu 21
2.4. Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
2.4.2. Quy trình kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm 23
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số giống
dong riềng tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 28
3.1.1. Tỷ lệ mọc mầm và độ đồng đều của các giống dong riềng thí nghiệm tại
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 28
3.1.2. Thời gian sinh trưởng của các giống dong riềng thí nghiệm tại trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 29
3.1.3. Một số đặc điểm nông sinh học của các giống dong riềng thí nghiệm tại
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 31
3.1.4. Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của các giống dong riềng
thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 35
3.1.5. Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của các giống dong riềng
thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 36
3.1.6. Chất lượng củ của các giống dong riềng thí nghiệm tại trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên 39
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng
giống dong riềng DR3 thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 41
3.2.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ mọc mầm và độ đồng đều của
giống dong riềng thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 41



DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT

BNN &PTNT : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
CT : Công thức
CIP : Trung tâm khoai tây Quốc tế
CV : Hệ số biến động
ĐC : Đối chứng
ĐHNLTN : Đại học nông lâm Thái Nguyên
ĐK : Đường kính
HTX : Hợp tác xã
LSD
.05
: Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa 95%
NC & PT : Nghiên cứu và phát triển
NST : Ngày sau trồng
Nxb : Nhà xuất bản
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

hình thái dong riềng thí nghiệm tại Đại học Nông Lâm TháiNguyên……… 43
3.10: Ảnh hưởng của mật độ, khoảng cách trồng đến khả năng chống đổ và
sâu bệnh hại dong riềng thí nghiệm tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 45
3.11: Ảnh hưởng của mật độ, khoảng cách trồng đến năng suất của dong
riềng thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên……………… 46
3.12: Ảnh hưởng của mật độ, khoảng cách trồng đến chất lượng của
dong riềng thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 49

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

viii

3.13: Một số đặc điểm hình thái và độ đồng đều của dong riềng thí
nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 51
3.14: Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của dong riềng thí
nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 53
3.15: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất và chất lượng
dong riềng thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 54
3.16: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến chất lượng của dong
riềng thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên……………… 56

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ix

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Hình 3.1: Năng suất của các giống dong riềng thí nghiệm tại trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên 39
Hình 3.2: Hàm lượng chất khô và tỷ lệ tinh bột của các giống dong riềng thí
nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 41

ngày càng tăng đã đi kèm với việc mở rộng diện tích trồng loại cây này. Năm
1993 ở nước ta ước chừng có khoảng 30 nghìn ha trồng dong riềng, năng suất
đạt 45 - 60 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 13,36 - 16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và
cs., 2010) [7]. Hiện nay, dong riềng vẫn được trồng phổ biến khắp cả nước từ
vùng đồng bằng, trung du đến các vùng núi cao như: Hưng Yên, Thái
Nguyên, Bắc Kạn, Lào Cai Ở những vùng miền núi, những nơi khó khăn
dong riềng cũng được coi là cây có thể đảm bảo an ninh lương thực.
Dong riềng chủ yếu trồng để lấy củ, củ dong riềng có rất nhiều công
dụng có thể luộc, xay làm bột cho người ăn giúp dễ tiêu hóa rất tốt cho trẻ em

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2 và người ốm, sử dụng tinh bột làm nguyên liệu để chế biến miến, bánh đa,
bánh mì, bánh bao, kẹo, làm thức ăn chăn nuôi, thân cây có nhiều sợi màu
trắng có thể sử dụng để chế biến thành sợi dệt thành các loại bao bì đựng gạo,
ngô,… Dong riềng còn là một trong những loài cây đem lại giá trị kinh tế cao
và đóng một vai trò quan trọng trong việc xoá đói, giảm nghèo, giải quyết
việc làm cho người lao động ở nông thôn miền núi. Trong những năm qua,
sản xuất dong riềng và các sản phẩm chế biến đã thu hút nhiều ngày công lao
động của nông dân, thợ thủ công, góp phần tạo việc làm cho nhiều người lao
động, đồng thời đã góp một phần quan trọng trong việc nâng cao nguồn thu
cho người sản xuất.
Mặc dù dong riềng là cây tăng thu nhập cho nông dân tại một số vùng
sinh thái đặc thù như nơi đất khô hạn, đất dốc sử dụng nước trời, nơi khí hậu
lạnh như Mộc Châu, Sơn La. Nhưng những nghiên cứu phát triển bền vững
dong riềng ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức. Các hướng nghiên
cứu về giống, biện pháp kỹ thuật canh tác, chế biến đối với cây dong riềng

3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để giới thiệu giống mới cho sản
xuất, góp phần làm phong phú cơ cấu giống dong riềng tại địa phương.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài sẽ lựa chọn được 1 - 2 giống dong riềng có khả năng sinh trưởng
phát triển tốt, chống chịu tốt, cho năng suất cao và ổn định, có chất lượng củ
cao thích nghi với điều kiện trồng trọt của tỉnh Thái Nguyên, góp phần mở rộng
diện tích trồng các giống dong riềng mới làm tăng hiệu quả sản xuất.
- Xây dựng được mật độ, khoảng cách trồng và thời điểm thu hoạch
phù hợp nhằm tăng năng suất và chất lượng dong riềng.
- Đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm khai thác hết tiềm
năng đất đai, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho các hộ nông
dân vùng miền núi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4 Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 . Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng góp phần
nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Thực tế sản xuất nhiều năm qua
ở nước ta cho thấy việc lựa chọn giống phù hợp với điều kiện sản xuất và
thích ứng điều kiện địa phương còn nhiều hạn chế. Vì vậy công tác chọn tạo
giống cây trồng mới là hết sức cần thiết và cần được duy trì liên tục. Việc mở
rộng diện tích trồng một loại cây trồng nói chung và cây dong riềng nói riêng

sẽ nhỏ. Trong khoảng không gian hẹp, để có thể lấy được ánh sáng cây phải
phát triển chiều cao cây tối đa vì vậy sẽ làm cho cây yếu, khả năng chống chịu
với các điều kiện ngoại cảnh kém. Trồng ở mật độ thấp cây không phải cạnh
tranh dinh dưỡng nhiều lên sinh trưởng phát triển tốt, cho củ to nhưng năng
suất quần thể giảm. Thu hoạch đúng thời gian giúp tránh hao hụt vì nếu thu
hoạch quá sớm hay quá muộn đều làm giảm giảm năng suất, chất lượng. Khi
thu hoạch sớm củ chưa tích lũy đầy đủ vật chất khô, hàm lượng tinh bột thấp,
còn nếu thu hoạch muộn, do cây trồng còn nằm trên đồng ruộng khó tránh
khỏi thiệt hại do côn trùng, chuột cắn phá, mưa bão làm củ bị thối .Vì vậy
việc nghiên cứu để xác định mật độ trồng và thời gian thu hoạch phù hợp sẽ
góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật và mức đầu tư hợp lý để nâng cao hiệu
quả kinh tế cho người sản xuất.
1.2. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng
1.2.1. Nguồn gốc
Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ. Người ta đã xác định được
7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington
và Janaki, 1945) đó là:
- Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới,
- C. Flauca ở Tây Ấn và Mêhico,
- C. flaccida ở Nam Mỹ,
- C. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

6 - C. Indica ở châu Mỹ nhiệt đới,
- C.libata ở Braxin,
- C.humilis ở Trung Quốc.

Lá: Lá dong riềng gồm phiến lá và cuống lá với bẹ lá ở phía gốc, lá
của cây dong riềng thuôn dài, mặt trên của lá có màu xanh hoặc xanh lục
xen tím, mặt dưới màu xanh hoặc màu tím. Lá dài khoảng 35 – 60 cm và có
chiều rộng 22 – 25cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một
đường mỏng mầu tím đỏ hoặc màu trắng trong; Phiến lá có gân giữa to, gân
phụ song song, có màu xanh hoặc tím đỏ; Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân có
chiều dài khoảng 8 – 15 cm.
Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, rất phát triển; Rễ mọc từ
các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì ở đốt thân củ phát triển ra thành rễ. Rễ
của cây dong riềng phát triển liên tục phân thành rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (tùy
thuộc vào giống). Do củ phát triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất
khoảng 20 - 30cm.
Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có
thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh
bột, thân rễ nằm trong đất; Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc
mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần; Trên mỗi
đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể
phân chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có màu
trắng, vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn phụ
thuộc vào giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài
cùng của củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có
những bó cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu
mô chứa ít một số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu
mô chứa nhiều hạt tinh bột. So với thân khí sinh thân rễ có ít bó cương mô hơn.
Hoa: Hoa dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, Hoa mọc ở
ngọn cây. Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều. Cụm hoa được bao
bởi một mo chung như hoa chuối. Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có từ 6
– 8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có 1 hoa.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất không khắt khe
so với cây trồng khác, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy nhiên
trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suất cao.
Dong riềng là loại cây chịu úng kém do vậy đất trồng dong riềng phải là nơi
dễ thoát nước. Đất đọng nước làm bộ rễ hô hấp kém có thể dẫn đến thối củ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

9 Yêu cầu nước: Dong riềng có đặc điểm chịu hạn tốt, có thể bố trí trên
đất có độ dốc trên 15
o
, ít ẩm, nhưng dong riềng không chịu được ngập úng,
nếu bị ngập úng cây thường bị vàng lá, thối củ. Vùng trồng dong riềng ở vùng
có lượng mưa thích hợp 900 - 1200 mm.
Chất dinh dưỡng: Cũng như các cây có củ khác, dong riềng yêu cầu có
đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng NPK, trong đó K có ý nghĩa trong việc tăng
khối lượng củ. Cây dong riềng yêu cầu đất tốt giàu mùn để cho năng suất cao.
Những nơi đất quá cằn cỗi cần bón thêm phân hữu cơ. Phân bón rất có ý
nghĩa trong việc tăng năng suất củ của cây dong riềng.
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước
vùng Nam Mỹ, Châu Phi, và một số nước Nam Thái Bình Dương. Châu Phi là
châu lục có sản lượng và diện tích trồng dong riềng lớn nhất thế giới. Tại
Châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc,
Úc, và Đài Loan. Trung Quốc là nước có diện tích dong riềng lớn nhất châu Á
(Hermann và Cs, 2007) [19]. Theo thống kê chưa đầy đủ, diện tích trồng dong

đó nguồn nguyên liệu cho chế biến lại chưa đủ nên hàng năm nước ta vẫn
phải nhập hàng ngàn tấn tinh bột dong ẩm từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
Bắc Kạn là tỉnh có diện tích trồng dong riềng lớn nhất. Nằm trong khu
vực Trung du miền núi phía bắc, Bắc Kạn là tỉnh có địa hình phức tạp, độ dốc
cao, đất sản xuất nông nghiệp ít và manh mún, chủ yếu đất lâm nghiệp và đất
đồi núi. Trong những năm qua tỉnh Bắc Kạn đã ban hành nhiều chính sách tập
trung phát triển nông nghiệp. Cây dong riềng được xác định là cây trồng phù
hợp và có khả năng phát triển ở Bắc Kạn và cho hiệu quả kinh tế cao. Năm
2010, toàn tỉnh trồng được 270 ha, năng suất 100 tấn/ha, năm 2011 trồng
được 551 ha (tăng 2 lần so với 2010), sản lượng đạt 51.000 tấn củ, năm 2012,
diện tích trồng dong riềng của tỉnh tăng lên 1.800 ha (tăng 2,4 lần so với
2011). Năm 2013, kế hoạch ban đầu của tỉnh là 2100 ha, nhưng diện tích
trồng thực tế đã lên tới 2943 ha, tăng 40% về diện tích so với chỉ tiêu giao ban
đầu. Diện tích trồng tập trung ở các huyện Na Rì, Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

11 Thông, Pác Nặm. Sản lượng đạt gần 175000 tấn đặt ra áp lực rất lớn trong
công tác tiêu thụ dong riềng. Đứng trước tình hình đó, tỉnh Bắc Kạn đã chỉ
đạo các cấp, các ngành tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để khuyến khích các
tổ chức, cá nhân mở doanh nghiêp, hợp tác xã, thành lập, xây dựng cơ sở chế
biến tinh bột, tổ chức những chuyến tham quan học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật
từ những địa phương có kinh nghiệm về sản xuất, chế biến dong riềng. Năm
2014, diện tích trồng mà tỉnh xây dựng kế hoạch khoảng 1700 ha để phù hợp
với công suất chế biến của các cơ sở sản xuất, chế biến (Phương Thảo, 2014)
[10]. Trong đó Ba Bể là huyện có diện tích trồng dong riềng lớn nhất. Năm
2011 huyện Ba Bể đã trồng 105 ha. Năm 2012 diện tích trồng là 470 ha (Yến

Xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, cây dong riềng đang ngày
càng mở rộng thêm diện tích, trở thành một trong 3 loại cây hàng hóa mũi
nhọn xóa đói, giảm nghèo ở vùng cao. Khoảng 3 - 4 năm lại đây, việc tiêu thụ
dong riềng ổn định, lượng củ thu hoạch đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Toàn xã
trồng khoảng 300 ha, năng suất ước đạt từ 35 - 40 tấn/ha, sản lượng ước đạt
11000 tấn. Từ hiệu quả kinh tế mà cây dong riềng mang lại ta thấy cây trồng
này đã thực sự trở thành cây trồng quan trọng trong cơ cấu kinh tế ở hầu khắp
các địa phương trên địa bàn một số tỉnh (Trịnh Thanh Hòa, 2013) [2].
Huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai không có điều kiện thuận lợi để trồng
lúa nước. Năm 2012, cây dong riềng đã được đưa vào trồng thử nghiệm và
thích nghi với điều kiện tự nhiên của địa phương. Bước đầu, cây dong riềng
được đưa vào sản xuất trên diện tích 9 ha thuộc 3 thôn Cán Chư Sử, Cốc Phà
và Chư Sang, thuộc xã Cán Cấu. Kết quả cho thấy cây dong riềng phát triển
tốt, phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng vùng đất này không cần đầu tư nhiều
công chăm sóc, vốn đầu tư ban đầu thấp, có thể trồng xen ghép với các cây
trồng khác, nguồn thu đạt từ 20 - 30 triệu đồng/ha. Nhận thấy hiệu quả từ cây
dong riềng mang lại huyện Si Ma Cai đã nhân rộng mô hình này nhằm giảm
nghèo bền vững cho đồng bào vùng cao. Huyện Si Ma Cai đã vận động nhân
dân tham gia mở rộng diện tích lên 100 ha, tập trung chủ yếu tại xã Cán Cấu,
Si Ma Cai và Sín Chéng. Để đảm bảo cho việc chế biến và tiêu thụ sản phẩm
dong riềng bền vững huyện đã gấp rút xây dựng xưởng chế biến dong riềng
tại xã Si Ma Cai với quy mô đủ đáp ứng chế biến sản phẩm cho hàng trăm ha

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

13 dong riềng. Dự kiến nhà máy hoàn thành và đi vào hoạt động trong tháng 10
năm 2013 (Kim Thoa, 2013) [12].
định, chương trình phát triển cây dong riềng hàng hóa được huyện Xín Mần
thực hiện khá thành công. Từ kinh nghiệm và kết quả triển khai trong những
năm vừa qua, huyện Xín Mần tiếp tục coi đây là cây trồng mũi nhọn nâng
cao đời sống cho nhân dân. Do đó, trong năm 2014, huyện xây dựng kế
hoạch thực hiện nhân rộng diện tích trồng dong riềng tập trung với diện tích
lên đến 500 ha (Khánh Toàn, 2014) [13].
1.4. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên thế giới
Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), thuộc nhóm
cây có củ có nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ. Ngày nay dong riềng được
trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới. Nam Mỹ là trung tâm đa
dạng của dong riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi là những nơi trồng
và sử dụng dong riềng nhiều nhất (Cecil, 1992; Hermann, 1999). Dong riềng
được gọi bằng một số tên khác nhau như Queenland Arrowroot, Canna Indica
(L.), Canna Edulis (Kerr- Gawl) (Cecil,1992) [18].
Trên thế giới dong riềng được trồng với quy mô thương mại ở các nước
vùng Nam Mỹ, Châu Phi, và một số nước Nam Thái Bình Dương. Tại Châu
Á, dong riềng được trồng ở Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc, và
Đài Loan (Hermann, M. và cs., 2007). Mặc dầu vậy đến nay chưa có số liệu
thống kê về diện tích loại cây trồng này và nghiên cứu về dong riềng ở các
nước còn nhiều hạn chế.
Theo Hermann và cs, (2007) cây dong riềng là loài cây triển vọng cho
hệ thống nông lâm kết hợp vì nó có những đặc điểm quí như chịu bóng râm,
trồng được những nơi khó khăn như thiếu nước, thời tiết lạnh. Củ dong riềng
có nhiều công dụng: luộc để người ăn, làm bột, nấu rượu. Bột dong riềng dễ
tiêu hoá vì thế là nguồn thức ăn rất tốt cho trẻ nhỏ và người ốm. Bột dong
riềng có thể dùng làm hạt trân châu, miến, bánh đa, bánh mì, bánh bao, mì
sợi, kẹo và thức ăn chăn nuôi. Đối với miền núi, những nơi khó khăn, dong

Nghiên cứu hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế cho thấy có sự
tương quan thuận cao giữa hàm lượng chất khô của củ với hàm lượng đường
hòa tan và hàm lượng tinh bột trong củ tươi r =0,66, trong khi số chồi tương
quan nghịch với hàm lượng chất khô trong củ r = -0,57. Phân tích các chất
dinh dưỡng trong đất trồng và trong cây, các nhà khoa học cho biết: Để thu
được 1tấn củ tươi, cho 120 - 130 kg tinh bột khô, cây dong riềng cần 0,54 kg
N; 0,53 kg P; 3,11 kg K; 2,47 kg Mg và 0,37 kg Ca. Dong riềng là cây sử dụng
rất hiệu quả nguồn N và nước trong đất.
Nghiên cứu của Hermann M và cs, (2007) đã kết luận: Mặc dù hàm
lượng tinh bột trong củ dong riềng thấp nhưng do năng suất củ rất cao nên

Trích đoạn Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của các giống dong riềng Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của các giống dong riềng Chất lượng củ của các giống dong riềng thí nghiệm tại trường Đạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status