Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
A- khái quát chung về vốn lưu động trong các doanh nghiệp.
A- khái quát chung về vốn lưu động trong các doanh nghiệp.
I. Khái niệm, ý nghĩa của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh
doanh
1. Khái niệm
Muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài tư liệu lao động, các doanh
nghiệp còn phải có đối tượng lao động và sức lao động. Trong nền sản xuất
hàng hoá, các doanh nghiệp phải dùng tiền để mua sắm đối tượng lao động và
trả lương cho công nhân viên, do đó phải ứng trước một số vốn cho mục đích
này. Đối tượng lao động khi tham gia quá trình sản xuất không giữ nguyên
hình thái vật chất ban đầu, giá trị của đối tượng lao động được chuyển dịch
toàn bộ ngay một lần vào sản phẩm mới và được bù lại khi giá trị sản phẩm
được thực hiện.
Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ
phận là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục;
một bộ phận khác là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm). Hai bộ phận này từ hình thái hiện vật của nó gọi là tài
sản lưu động sản xuất. Mặt khác, quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp gắn liền với quá trình lưu thông như chọn lọc đóng gói, tích luỹ thành
lô, thanh toán với khách hàng... Những khoản vật tư và tiền tệ phát sinh trong
quá trình lưu thông gọi là tài sản lưu thông. Tài sản lưu động sản xuất và tài
sản lưu thông thay thế nhau vận động không ngừng để quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành thuận lợi.
Như vậy, số tiền ứng trước về TSLĐ sản xuất và tài sản lưu thông nhằm
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp thực hiện được thường
xuyên liên tục gọi là VLĐ của doanh nghiệp, VLĐ luân chuyển giá trị toàn bộ
một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất.
VLĐ của doanh nghiệp còn được định nghĩa là các khoản đầu tư của
doanh nghiệp vào tài sản ngắn hạn như tiền mặt, các khoản đầu tư tài chính
ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các TSLĐ khác có khả năng
lưu động, ngược lại doanh nghiệp có qui mô lớn thì có tỷ lệ vốn lưu động
trong tổng tài sản lớn hơn do có khả năng đầu tư vào tài sản cố định.
Tình hình quản lý sử dụng vốn lưu động có ảnh hưởng rất lớn đến lượng
vốn lưu động. Một doanh nghiệp có kế hoạch quản lý sử dụng vốn lưu động
có hiệu quả thì lượng vốn lưu động không những được bảo toàn qua các kỳ
kinh doanh mà ngày một tăng thêm. Đối với những doanh nghiệp có tình hình
quản lý sử dụng vốn mà hoạt động không tốt sẽ dẫn tới tình trạng hao hụt dần
vốn lưu động và hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn.
*Nhóm nhân tố ảnh hưởng bên ngoài: có thể kể đến uy tín, đặc điểm
từng ngành và tình hình kinh tế trong từng giai đoạn.
Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành cũng ảnh hưởng đến khối
lượng vốn lưu động, ví dụ như ngành thương mại du lịch thì cần lượng vốn
lưu động nhỏ hơn so với ngành sản xuất.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cũng tác động đến
lượng vốn lưu động, một doanh nghiệp có uy tín trên thị trường sẽ cần một
lượng vốn lưu động ít hơn các doanh nghiệp khác.
Mặt khác sự ổn định về kinh tế, chính trị của mỗi nước cũng ảnh hưởng
đến lượng vốn lưu động.
II. Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu
động
1- Kết cấu vốn lưu động
Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng của tài sản Quốc gia. Nếu
doanh nghiệp đảm bảo đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất, ra sức
tiết kiệm và phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển, tăng nhanh
tốc độ luân chuyển vốn thì với số vốn ít nhất có thể đạt hiệu quả kinh tế cao
nhất. Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phân loại vốn lưu động.
Vốn lưu động của doanh nghiệp dựa theo hình thái biểu hiện có thể chia
thành: vốn vật tư hàng hoá và vốn tiền tệ. Vốn vật tư hàng hoá bao gồm vốn
nguyên liệu chính, vật liệu phụ, vốn sản phẩm dở dang, vốn chi phí chờ phân
Như vậy, tiền còn có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó là
mạch máu lưu thông của nền kinh tế, giữ một lượng tiền ở mức hợp lý là điều
quan tâm của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải dự toán trước nhu
cầu vốn bằng tiền trong kỳ đến để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh
được thuận lợi.
a3. Tiền đang chuyển:
Là tiền của doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng, kho bạc Nhà nước hoặc
đã gởi vào bưu điện để chuyển cho ngân hàng hay làm thủ tục chuyển tiền từ
tài khoản tại ngân hàng để trả cho đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy
báo hay bảng sao kê của ngân hàng.
b. Đâu từ tài chính ngắn hạn:
Là việc bỏ vốn mua các chứng khoán có giá trị hoặc góp vốn liên doanh
ngắn hạn bằng tiền, hiện vật, có thể thu hồi kịp thời kỳ kinh doanh hoặc trong
thời hạn không quá 1 năm (tín phiếu kho bạc, trái phiếu, kỳ phiếu ngân
hàng...) và các loại đầu tư khác không quá 1 năm.
Để đảm bảo vốn của mình các doanh nghiệp tiến hành lập dự phòng
giảm giá đầu tư ngắn hạn để tránh rủi ro trong hoạt động này. Đầu tư tài chính
ngắn hạn có mức độ chuyển thành tiền nhanh hơn những TSLĐ khác.
c. Các khoản phải thu:
Là những khoản tiền phải thu của doanh nghiệp hay chính là những
khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Các khoản phải thu gồm:
- Phải thu khách hàng: là những khoản khách hàng chiếm dụng vốn của
doanh nghiệp do áp dụng chính sách tín dụng thương mai trong quá trình tiêu
thụ của doanh nghiệp.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
- ứng trước cho người bán: Là những khoản tiền doanh nghiệp đặt cọc
trước cho nhà cung cấp để mua hàng hoá, nguyên vật liệu.
- Phải thu nội bộ: Là những khoản thu của doanh nghiệp đối với các đơn
vị phụ thuộc.
doanh nghiệp cho những công việc, những hoạt động được trang trải bằng
nguồn khinh phí do ngân sách Nhà nước, cấp trên cấp phát.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
Ngoài cách phân loại theo hình thái biểu hiện ở trên, người ta còn có thể
phân loại VLĐ dựa theo vai trò của nó trong quá trình tái sản xuất, được chia
thành ba loại. Trong mỗi loại dựa theo công dụng lại được chia ra thành nhiều
khoản vốn như sau:
- VLĐ nằm trong quá trình dự trữ sản xuất: gồm có vốn nguyên vật liệu
chính, bán thành phẩm mua ngoài, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ
tùng thay thế, vốn vật đóng gói, vật rẻ tiền mau hỏng.
- VLĐ nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất: vốn sản phẩm đang chế
tạo, vốn bán thành phẩm tự chế, vốn về phí tổn đợi phân bổ.
- VLĐ nằm trong quá trình lưu thông: vốn thành phẩm, vốn hàng hoá
mua ngoài, vốn hàng hoá xuất ra nhờ ngân hàng mua hộ, vốn tiền tệ, vốn
thanh toán.
Theo cách phân loại này có thể thấy được tỷ trọng VLĐ nằm trong lĩnh
vực sản xuất vật chất càng lớn thì hiệu quả kinh tế trong sử dụng VLĐ càng
cao, vì vậy cần phải chú ý phân bổ tỷ lệ vốn trong các khâu một cách hợp lý.
VLĐ của doanh nghiệp dựa theo nguồn hình thành có thể chia thành: Nguồn
vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi vay. Việc phân loại này tạo điều kiện cho
doanh nghiệp lựa chọn đối tượng huy động vốn tối ưu để luôn có một số vốn
ổn định đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Sự biến động của nguồn vốn
vay so với tổng nguồn hoặc nguồn vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn là căn
cứ để nhà quản lý lựa chọn và quyết định phương án đầu tư.
Kết cấu vốn lưu động là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động
chiếm trong tổng số vốn lưu động. ở những doanh nghiệp khác nhau thì kết
cấu vốn lưu động cũng khác nhau. Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động cho
thấy được tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm
trong các giai đoạn luân chuyển để từ đó xác định trọng điểm quản lý vốn lưu
động đồng thời tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong từng
B. sự cần thiết, thông tin sử dụng, phương pháp phân tích tình hìnhquản lý và sử dụng vốn
quản lý và sử dụng vốn
I. sự cần thiết của phân tích tình hình quản lý, sử dụng vốn lưu động:
1. Khái niệm phân tích tình hình quản lý, sử dụng vốn lưu động:
Phân tích tình hình quản lý sử dụng vốn lưu động là tập hợp các khái
niệm, phương pháp, công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và một số
các thông tin khác. Tuy nhiên, đấy không phải là quá trình tính toán các chỉ
số, chỉ tiêu mà là quá trình tìm hiểu, đánh giá, đưa ra những nhận xét về các
kết quả của sự quản lý và sử dụng vốn lưu động ở doanh nghiệp, qua đó kiến
nghị các biện pháp để phát huy những điểm mạnh, khắc phục những mặt hạn
chế của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định quản lý phù hợp.
2. Sự cần thiết của việc phân tích:
Vốn lưu động có ý nghĩa rất lớn trong quá trình sản xuất kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp, có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của
doanh nghiệp vì nó gắn liền với lợi ích lâu dài của chính họ. Tuy nhiên,
không chỉ đơn thuần dựa vào các con số trên báo cáo tài chính vì nó chưa
phản ánh đầy đủ, toàn diện các thông tin mà các đối tượng cần quan tâm. Vì
vậy, tiến hành phân tích tình hình quản lý, sử dụng vốn lưu động là một đòi
hỏi khách quan. Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính trên nhiều
góc độ khác nhau và có xu hướng tập trung vào những khía cạnh riêng phục
vụ cho mục đích của mình.
- Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp: Mối quan tâm hàng đầu của họ
là quản lý sử dụng vốn lưu động như thế nào để có hiệu quả, thông qua việc
phân tích tình hình quản lý sử dụng vốn lưu động họ có thể lập ra kế hoạch sử
dụng vốn lưu động tốt hơn, có những quyết định về tồn trữ tiền mặt, hàng
hoá, nguyên vật liệu... phù hợp với chính sách tín dụng đúng đắn nhất nhằm
lựa chọn các phương án kinh doanh, huy động vốn.
tiết để việc phân tích tình hình quản lý sử dụng vốn lưu động được cụ thể hơn.
Tuy nhiên không chỉ sử dụng các báo cáo tài chính hay sổ chi tiết mà
mục tiêu của phân tích là đưa ra những dự báo để giúp việc quyết định về vốn
trong tương lai của doanh nghiệp. Chính vì vậy cần phải quan tâm đến môi
trường kinh doanh, thông tin về các chính sách của Nhà nước và so sánh tình
hình của doanh nghiệp với trung bình ngành hay với các đối thủ cạnh tranh.
III. các phương pháp phân tích:
Phương pháp phân tích vốn lưu động nói riêng hay tài chính nói chung
bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu
các sự kiện, hiện tượng các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng
dịch chuyển và biến đổi tài chính hay vốn lưu động, các chỉ tiêu tài chính tổng
hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích vốn lưu động của doanh
nghiệp nhưng trên thực tế người ta sử dụng phương pháp so sánh và phân tích
tỉ lệ.
1. Phương pháp so sánh:
Là phương pháp sử dụng các báo cáo tài chính để so sánh giữa số thực
hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi của vốn
lưu động, đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp; so sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn
đấu của doanh nghiệp; so sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung
bình của ngành của các doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình quản lý
sử dụng vốn lưu động tốt hay xấu, được hay chưa được. Có thể so sánh theo
chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo
chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tương đối
và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.
2. Phương pháp phân tích tỷ lệ:
Số tỷ lệ biểu hiện mối quan hệ giữa lượng này với lượng khác. Bản thân
I. Phân tích khái quát tình hình quản lý, sử dụng vốn lưu động.
Thông qua việc phân tích các báo cáo tài chính giúp các nhà phân tích có
cái nhìn ban đầu về tình hình quản lý, sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp.
1. Phân tích cơ cấu tài sản lưu động (TSLĐ):
Khi tiến hành phân tích cơ cấu TSLĐ, bên cạnh việc so sánh sự biến
động của tổng TSLĐ qua các thời kỳ, ta còn xem xét tỷ trọng của từng loại
TSLĐ trong tổng số và xu hướng biến động của chúng để thấy sự biến động
đó hợp lý hay không.
Nội dung phân tích này cho biết vốn lưu động năm N tăng giảm bao
nhiêu so với năm N-1, tình hình sử dụng vố lưu động như thế nào? Những chỉ
tiêu nào chủ yếu ảnh hưởng đến sự tăng giảm này? Từ đó có giải pháp khai
thác nguồn vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh
nghiệp.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
Bảng phân tích cơ cấu TSLĐ:
Chỉ tiêu
Số tiền Chênh lệch Tỷ trọng
Đầu
năm N
Cuối
năm
N
Mức
±
%
Đầu
năm
N
Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của vốn lưu
động ròng.
- Khi nguồn vốn dài hạn < TSCĐ hoặc TSLĐ < nguồn vốn ngắn hạn có
ý nghĩa là nguồn vốn lưu động ròng < 0. Nguồn vốn dài hạn không đủ đầu tư
cho TSCĐ, doanh nghiệp phải đầu tư vào TSCĐ bằng một phần nguồn vốn
ngắn hạn, TSLĐ không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân
thanh toán của doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng một
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
phần TSCĐ để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả. Trường hợp này giả pháp
của doanh nghiệp là tăng cường huy động vốn ngắn hạn hợp pháp hoặc giảm
qui mô đầu tư dài hạn hoặc thực hiện đồng thời cả hai giải pháp.
- Ngược lại khi nguồn vốn dài hạn > TSCĐ hoặc TSLĐ > nguồn vốn
ngắn hạn, tức là vốn lưu động ròng > 0, TSCĐ của doanh nghiệp được tài trợ
vững chắc bởi nguồn vốn dài hạn, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ
trọng càng lớn càng thể hiện tính độc lập cao của doanh nghiệp. Ngoài ra
TSLĐ cũng được tài trợ bằng nguồn vốn thường xuyên. Tuy nhiên nếu vốn
lưu động ròng > 0 mà nợ trung hạn dài hạn chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn
vốn dài hạn thì chưa hẳn là tốt vì doanh nghiệp sẽ chịu áp lực thanh toán
trong tương lai.
Ngoài ra phân tích vốn lưu động ròng có thể tránh được trường hợp một
số doanh nghiệp Nhà nước tính toán sai trong việc xin cấp vốn lưu động.
III. Phân tích khả năng thanh toán:
1. Phân tích tình hình thanh toán:
Bảng phân tích tình hình thanh toán.
Các khoản phải thu
Đầ
u
nă
m
Cuố
hàng.
2. Trả trước cho
người bán.
3. Phải thu khác.
4. Tạm ứng.
1. Vay ngắn hạn.
2. Phải trả người bán.
3. Người mua trả trước.
4. Phải nộp nhà nước.
5. Phải trả CNV.
6. Phải trả khác.
7. Nợ dài hạn đến hạn
trả.
Tổng
Trong sản xuất kinh doanh không tránh khỏi hình thức mua bán chịu
giữa doanh nghiệp với khách hàng; vì vậy phân tích tình hình thanh toán để
thấy được sự nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thanh toán, tình hình chiếm
dụng và bị chiếm dụng vốn của doanh nghiệp và áp lực thanh toán trong thời
gian tới. Qua đó giải quyết nhanh chóng vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán
đồng thời có chính sách trả nợ thích hợp.
Phân tích tình hình thanh toán được tiến hành thông qua những chi tiết
sau:
Chuyên đề tốt nghiệp Trang
K thu tin bq =
ngày360x
chịunábthuầnthuDoanh
bqhàngchákhthuiảphnảKho
Vi:
2
NmăncuốivàohàngchákhthuiảPh+
ảtriảphnợsốTổng
thuiảphnợsốTổng
100
T l ny cng ln thỡ chng t n v b chim dng vn cng nhiu v
nhc li.
lm rừ hn tỡnh hỡnh thanh toỏn ca cụng ty ta cn lp bng phõn tớch
tỡnh hỡnh thanh toỏn.
Ngoi ra, khi phõn tớch tỡnh hỡnh chim dng ca doanh nghip, ta phi
loi tr vay ngn hn trong khon phi tr ca doanh nghip, cn phi xem
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
xét tính hợp lý của khoản chiếm dụng và đi chiếm dụng. Nhìn vào bảng nếu
thấy các khoản thu và phải trả đều tăng lên thì tình hình tài chính của doanh
nghiệp đang gặp khó khăn cần phải có biện pháp thúc đẩy nhanh việc thu hồi
nợ và trả nợ.
2. Phân tích khả năng thanh toán:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các
chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
a. Khả năng thanh toán hiện hành:
Một trong những thước đo khả năng thanh toán của doanh nghiệp được
sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành.
Khả năng thanh toán hiện hành
n¹hn¾ngNî
TNH§&éng®uln¶sTµi
=
Khả năng thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài
sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ
ngắn hạn. Nếu khả năng thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh
toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy
ra. Nếu tỷ số này cao có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các
vốn.
1. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động:
Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn lưu động được biểu thị bằng chỉ
tiêu tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động được gọi là hiệu suất
luân chuyển vốn lưu động. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm
nói rõ tình hình tổ chức các mặt cung cấp, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp
hợp lý hay không, các khoản vật tư dự trữ sử dụng có hiệu quả hay không?
Số vòng quay của VLĐ =
m¨nbq§VL
doanhkinhthuDoanh
Trong đó: VLĐ bq năm =
2
m¨ncuèi§VL+m¨nÇu®§VL
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng trong kỳ
hay phản ánh tốc độ chuyển đổi vốn lưu động thành tiền. Nếu số vòng quay
chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lai, chỉ tiêu này được gọi là hệ
số luân chuyển.
Từ công thức trên ta có thể xác định thời gian của một vòng luân chuyển:
Số ngày một vòng quay VLĐ
§VLquayvßngSè
360
=
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một
vòng. Thời gian của một vòng (kỳ) luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân
chuyển càng lớn.
Một cách tổng quát, có thể xác định số vốn lưu động tiết kiệm (-) hay
lãng phí (+) trong kỳ của doanh nghiệp theo công thức.
Chuyên đề tốt nghiệp Trang
S VL tit Doanh thu thun k phõn tớch S ngy 1 vũng S
cú bin phỏp s lý. Nu so sỏnh s ngy mt vũng quay khon phi thu vi k
hn tớn dng ca doanh nghip ỏp dng cho tng khỏch hng s ỏnh giỏ cụng
tỏc thu hi n v kh nng hoỏn chuyn thnh tin ca doanh nghip.
3. Vũng quay hng tn kho:
S vũng quay hng tn kho
bqkhotồnHàng
nábhàngvốnáGi
=
Da vo h s vũng quay hng tn kho ta nh c tc luõn chuyn
hng hoỏ v thi gian hng hoỏ d tr ti kho, t ú doanh nghip cú nhng
phng ỏn kinh doanh tt nht. H s ny cng cao th hin tỡnh hỡnh tiờu th
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
của doanh nghiệp rất tốt. Tuy nhiên, nếu duy trì hàng tồn kho thấp đôi khi sẽ
thiếu hàng bán và hạn chế việc tăng doanh thu.
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
khotånhµngquayvßngSè
360
V. phân tích rủi ro và tình hình bảo toàn vốn lưu động.
1. Phân tích những rủi ro ảnh hưởng đến vốn lưu động:
Vốn lưu động có ý nghĩa rất lớn trong quá trình sản xuất kinh doanh như
đã nói ở phần trước. Tuy nhiên, trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động
sẽ ít nhiều gặp phải những rủi ro do khách quan hay chủ quan, những rủi ro
này làm vốn lưu động của doanh nghiệp bị giảm đi. Có thể do những nguyên
nhân sau:
- Hàng hoá bị ứ đọng, kém phẩm chất hoặc không phù hợp với thị hiếu
khách hàng, không tiêu thụ hoặc được bán với giá thấp.
- Sự rủi ro bất thường xảy ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Những khoản vốn trong thanh toán bị chiếm dụng trong thời gian dài
với số lượng lớn trong khi đồng tiền bị mất giá do lạm phát.
P
±
V
tg
Trong đó: V
KD
:
Vốn lưu động phải bảo toàn lúc cuối kỳ
I
P
: Chỉ số giá trong kỳ
V
dn
: Vốn lưu động đầu năm phải bảo toàn
V
tg
: Vốn lưu động tăng, giảm trong kỳ
Ngoài ra có thể sử dụng chỉ tiêu hệ số bảo toàn vốn lưu động và hệ số
khả năng bảo toàn vốn lưu động để phân tích tình hình bảo toàn vốn lưu động
ở doanh nghiệp.
Hệ số Tổng số VLĐ thực tế Tỷ giá, chỉ số giá tại thời
bảo toàn = x điểm cần tính do cơ quan
VLĐ Tổng số VLĐ phải bảo toàn có thẩm quyền ban hành
Hệ số khả Tổng số VLĐ thực tế + thu nhập Tỷ giá, chỉ số giá tại thời
năng bảo toàn = x điểm cần tính do cơ quan
VLĐ Tổng số VLĐ phải bảo toàn có thẩm quyền ban hành
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
A. khái quát chung Về công ty cổ phần sản xuất bao bì xuất khẩu
Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty:
CHI TIÊU NĂM 2001 NĂM 2002 NĂM 2003
1. Vốn kinh doanh
2. Doanh thu
3. Lợi nhuận trước thuế
4. Số thuế đã nộp nhà nước
1.000.000.000
9.047.374.598
30.355.065
161.534.464
1.000.000.000
9.530.115.716
51.533.685
169.966.565
1.000.000.000
10.407.371.331
83.754.363
263.138.766
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trang
2. Đặc điểm sản phẩm và mặt hàng kinh doanh của Công ty:
Là một doanh nghiệp sản xuất và thương mại nên Công ty kinh doanh ba
mặt hàng:
a. Kinh doanh bao bì carton:
Là một công ty được thành lập từ nhu cầu thực tế của Seprodex ĐN,
cũng như nhu cầu thiết yếu của thị trường nên mặt hàng này đạt doanh thu
khá ổn định. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với sự cạnh
tranh khốc liệt của các sản phẩm cùng loại đòi hỏi Công ty phải có những
chiến lược kinh doanh phù hợp.
b. Kinh doanh bao bì nhựa (PP, PE):
ở thị trường miền trung, các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này
HĐQT. Việc tổ chức quản lý như vậy là xuất phát từ yêu cầu cơ bản của việc
tổ chức kinh doanh của Công ty nhằm đảm bảo tính hiệu quả và thống nhất
trong Công ty.
Đứng đầu chủ tịch HĐQT, người tham mưu và trực tiếp điều hành mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty là Giám đốc, giúp việc cho Giám
đốc là hai phó Giám đốc, dưới nữa là các phòng ban tham mưu cho Giám đốc,
mỗi phòng ban