xây dựng hệ thống những bài thực nghiệm phần hóa hữu cơ huấn luyện học sinh giỏi cấp quốc gia, quốc tế - Pdf 24

Luận văn Thạc sỹ TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
 LÊ THỊ THỊNH

XÂY DỰNG HỆ THỐNG NHỮNG BÀI
THỰC NGHIỆM PHẦN HÓA HỮU CƠ
HUẤN LUYỆN HỌC SINH GIỎI CẤP
QUỐC GIA, QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI − 2012
Xây dựng hệ thống những bài thực nghiệm phần hóa hữu cơ BDHSG cấp QG- QTế TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
 LÊ THỊ THỊNH

1.1.3. Kĩ năng cần có của giáo viên bồi dƣỡng HSG 5
1.1.4. Công tác bồi dƣỡng HSG ở các trƣờng THPT 6
1.2. Vai trò, tác dụng của thực nghiệm trong dạy học và nghiên cứu hóa học 7
1.3. Phần thực nghiệm hóa học hữu cơ trong chƣơng trình phổ thông 10
1.4. Một số nội dung thực nghiệm hữu cơ đƣợc đề cập trong kì thi Olympiad
Hóa học Quốc tế 14
1.5. Yêu cầu về phần thực nghiệm trong kì thi Olympiad Hóa học Quốc tế 17
CHƢƠNG 2. XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP THỰC NGHIỆM
2.1. Qui trình xây dựng bài tập thực nghiệm 21
2.2. Cơ sở lý thuyết 21
2.2.1. Động hóa học phản ứng 21
2.2.2. Sơ lƣợc về phƣơng pháp chuẩn độ 28
2.2.3. Sơ lƣợc về phƣơng pháp sắc kí 33
2.2.4. Lý thuyết về phản ứng este hóa 38
2.2.5. Lý thuyết về phản ứng thủy phân este 42
2.2.6. Lý thuyết về chất béo và các chỉ số của chất béo 44
2.3. Nội dung một số bài thực nghiệm bồi dƣỡng HSG 46
2.3.1. Phản ứng este hóa 46
Xây dựng hệ thống những bài thực nghiệm phần hóa hữu cơ BDHSG cấp QG- QTế 2.3.1.1. Tổng hợp và tinh chế n-butyl axetat 46
2.3.1.2. Tổng hợp axit axetyl salixylic (Aspirin) 49
2.3.1.3. Tổng hợp α-D-Glucopyrannozơ pentaaxetat 53
2.3.2. Thủy phân etyl axetat bằng xúc tác axit, động học phản ứng 57
2.3.3. Xác định một số chỉ số của chất béo 61
2.3.3.1 Xác định chỉ số axit của chất béo 61
2.3.3.2. Xác định chỉ số xà phòng hóa của chất béo 64
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 68
3.1. Kết quả khảo sát do giáo viên tiến hành 68

Bảng 3.4. Bảng tổng hợp các giá trị chiết suất etylaxetat của học sinh 80
Bảng 3.5. Bảng tổng hợp các giá trị thể tích butyl axetat thu được của 80
học sinh
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp các giá trị C
c
(N) của học sinh 81
Bảng 3.7. Bảng tổng hợp các giá trị C
t
(N) của học sinh 82
Bảng 3.8. Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng của C
t
(N) 82
Bảng 3.9. Bảng tổng hợp các giá trị hằng số tốc độ phản ứng của học sinh 83
Bảng 3.10. Bảng tổng hợp các giá trị
log
c
ct
C
CC
theo thời gian của học sinh 83

Xây dựng hệ thống những bài thực nghiệm phần hóa hữu cơ BDHSG cấp QG- QTế

Luận văn Thạc sỹ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Bộ GD & ĐT Bộ giáo dục và đào tạo
HSG Học sinh giỏi
IChO International Chemistry Olympiad – Olympic hóa học quốc tế
PTN Phòng thí nghiệm
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TLC Thin layer chromatography – Sắc kí lớp mỏng
TNSP Thực nghiệm sƣ phạm
phát hiện, bồi dƣỡng, đào tạo và sử dụng các nhân tài và năng khiếu hóa học từ
Luận văn Thạc sỹ

sớm.
Mặt khác, hóa học là khoa học thực nghiệm. Thí nghiệm hóa học giữ vai trò
đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học hóa học ở phổ thông. Thí nghiệm hóa
học là cơ sở để học tập hóa học và rèn luyện kĩ năng thực hành; thông qua thí
nghiệm hóa học giúp học sinh củng cố kiến thức, góp phần phát triển tƣ duy, khả
năng sáng tạo, vận dụng kiến thức, liên hệ kiến thức với thực tiễn, kĩ năng lập kế
hoạch và tác phong làm việc khoa học, làm tăng niềm hứng thú say mê học tập bộ
môn.
Tuy nhiên, ở nƣớc ta hiện nay việc sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học
hóa học phổ thông còn chƣa phổ biến hoặc chƣa phát huy đƣợc hết vai trò của nó, vì
vậy cần có sự đổi mới để khắc phục hiện tƣợng dùng thí nghiệm hóa học chủ yếu để
minh họa kiến thức chứ chƣa khai thác theo hƣớng tích cực. Đặc biệt, trong các kì
thi HSG ở nƣớc ta, kể cả kì thi HSG quốc gia, cho tới nay phần thực nghiệm vẫn
chƣa nhiều. Trong khi đó, kì thi HSG hóa học quốc tế (IChO – International
Chemistry Olympiads) luôn gồm hai phần, phần lí thuyết (chiếm 60%) và phần
thực hành (chiếm 40% tổng số điểm). Nhận thức đƣợc tính cấp thiết đó, từ năm học
2011- 2012 lãnh đạo Bộ GD & ĐT Việt Nam đã triển khai thí điểm đƣa thêm phần
thực nghiệm hóa học vào kì thi HSG quốc gia nhằm phát triển và đánh giá toàn diện
hơn khả năng học tập hóa học của học sinh, đồng thời bắt kịp với xu hƣớng của các
đề thi quốc tế, chuẩn bị tốt cho kì thi HSG hóa học quốc tế năm 2014 (IChO 46) sẽ
đƣợc tổ chức tại Việt Nam.
Là một giáo viên đang giảng dạy ở trƣờng THPT, qua thực tiễn công tác và
từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống những bài thực nghiệm
phần hóa hữu cơ huấn luyện học sinh giỏi cấp quốc gia, quốc tế” với mong muốn
góp phần xây dựng một tƣ liệu dạy học, bồi dƣỡng HSG phần hóa học hữu cơ; đồng
thời tạo một tài liệu học tập cho các em học sinh khi tham gia các kì thi HSG, góp
phần nâng cao chất lƣợng dạy học.

Luận văn Thạc sỹ

- Xử lý kết quả thí nghiệm và thực nghiệm sƣ phạm dựa vào phƣơng pháp
thống kê toán học.
6. Đóng góp của đề tài
- Xây dựng đƣợc một số bài tập thực nghiệm phần hóa hữu cơ góp phần bồi
dƣỡng học sinh giỏi trong các kì thi học sinh giỏi cấp quốc gia, quốc tế.
- Cung cấp cho giáo viên ôn học sinh giỏi và các em học sinh yêu thích môn
hóa học một tài liệu tham khảo về bồi dƣỡng HSG về thực nghiệm.

Luận văn Thạc sỹ


2

học sinh tài năng Đức. Giáo dục Phổ thông Hàn Quốc có một chƣơng trình đặc biệt
dành cho học sinh giỏi nhằm giúp chính quyền phát hiện học sinh tài năng từ rất
sớm. Năm 1994 có khoảng 57/174 cơ sở giáo dục ở Hàn Quốc tổ chức chƣơng trình
đặc biệt dành cho học sinh giỏi. Một trong 15 mục tiêu ƣu tiên của Viện quốc gia
nghiên cứu giáo dục và đào tạo Ấn Độ là phát hiện và bồi dƣỡng học sinh tài năng.
Mỗi nƣớc đều có một cách tiếp cận khác nhau trong việc bồi dƣỡng HSG [22, 30].
Ở Việt Nam, tỉ lệ học sinh giỏi chủ yếu tập trung ở hệ thống các trƣờng
chuyên. Đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX, thực hiện chỉ thị của Thủ tƣớng Phạm Văn
Đồng, để khuyến khích các HSG toán, trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội đã phối
hợp với công ty Giáo dục Hà Nội đã tổ chức một lớp bồi dƣỡng toán cho HSG toán
của Hà Nội. “Lớp toán đặc biệt” đầu tiên của cả nƣớc ra đời vào tháng 9 năm 1965.
Tiếp nối các “lớp toán đặc biệt” (sau này gọi là lớp chuyên toán), trong
những năm của thập kỉ 80 và 90, các lớp chuyên ngữ văn, ngoại ngữ, vật lí,
hóa
học, sinh học, tin học, lịch sử, địa lí đƣợc mở đồng thời với việc thành lập các trƣờng,
khối lớp THPT chuyên tại hầu hết các tỉnh, thành phố và một số trƣờng đại
học tạo
nên hệ thống các trƣờng THPT chuyên. Tính đến năm 2012,
cả nƣớc có 76
trƣờng và khối THPT chuyên, trong đó có 68 trƣờng THPT chuyên và 9 khối THPT
chuyên trong các Đại học và trong trƣờng THPT không chuyên. Tổng số học sinh
THPT chuyên toàn quốc là gần 50 nghìn, chiếm 1,74% số học sinh THPT tỉ lệ bình
quân toàn quốc, học sinh đoạt giải trong các kì thi HSG quốc gia là 53% [31].
Mục đích ban đầu của hệ thống trƣờng chuyên nhƣ các nhà khoa học khởi
xƣớng Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy, Tạ Quang Bửu, Ngụy Nhƣ Kontum, … mong đợi
là nơi phát triển các tài năng đặc biệt xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học cơ bản.
Trong thời kì đầu của hệ thống trƣờng chuyên, khi chỉ mới hình thành một vài lớp
phổ thông chuyên tại các đại học, mục tiêu này đã đƣợc theo sát và đạt đƣợc thành

đạt chất lƣợng ngang tầm các trƣờng tiên tiến trong khu vực và quốc tế, 17 trƣờng
chuyên thuộc vùng khó khăn sẽ đƣợc ƣu tiên các hạng mục dự án [23].
1.1.2. Những phẩm chất và năng lực cần có của HSG hóa học [4, 29]
Nhìn chung các nƣớc đều dùng hai thuật ngữ chính là gift (giỏi, có năng
khiếu) và talent (tài năng). Cơ quan giáo dục Hoa Kỳ miêu tả khái niệm HSG nhƣ
sau: Đó là những học sinh có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội
Xây dựng hệ thống những bài thực nghiệm phần hóa hữu cơ BDHSG cấp QG- QTế
4

trong các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, hoặc các lĩnh vực lí thuyết
chuyên biệt. Những học sinh này thể hiện tài năng đặc biệt của mình từ tất cả các
bình diện xã hội, văn hóa và kinh tế. Nhiều nƣớc quan niệm, HSG là những đứa trẻ
có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo
hoặc lĩnh vực lí thuyết. Những học sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động
không theo những điều kiện thông thƣờng của nhà trƣờng nhằm phát triển đầy đủ
các năng lực vừa nêu trên.
Hiện nay chƣa có tài liệu cụ thể định nghĩa nhƣ thế nào là một HSG hóa học.
Nhƣng theo ý kiến của nhiều thầy giáo đã có lâu năm kinh nghiệm trong việc giảng
dạy, bồi dƣỡng HSG hóa học và theo tài liệu của Hội hóa học Việt Nam có thể đúc
kết đƣợc những phẩm chất và năng lực cần có của HSG hóa học là
- Có lòng say mê học tập hóa học cao độ.
- Có năng lực tƣ duy tốt và sáng tạo. Biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái
quát cao, có khả năng sử dụng các phƣơng pháp mới nhƣ qui nạp, diễn dịch, loại
suy,…
- Có kiến thức hóa học sâu sắc, vững vàng, hệ thống. Nắm vững bản chất hóa
học của các hiện tƣợng hóa học. Biết vận dụng các kiến thức hóa học đó một cách
linh hoạt, sáng tạo vào những tình huống mới.
- Có kĩ năng thực nghiệm tốt, có năng lực về phƣơng pháp nghiên cứu khoa
học hóa học. Biết nêu ra những lí luận cho những hiện tƣợng hóa học xảy ra trong
thực tế, biết cách dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại những lí luận trên và biết

phải biết khơi nguồn sáng tạo cho học sinh, luôn thắp sáng ngọn lửa mê say môn
học mà học sinh đang theo đuổi, phải dạy cho các em biến ƣớc mơ thành hiện thực,
biết chấp nhận khó khăn để cố gắng vƣợt qua, biết rút kinh nghiệm sau những thất
bại hay thành công trong từng giai đoạn mà mình phấn đấu. Học sinh khi tham gia
vào các đội tuyển phải chịu khá nhiều áp lực, do đó giáo viên khi giảng dạy cần
nắm đƣợc những điểm mạnh, điểm yếu của từng học sinh để kịp thời uốn nắn bổ
sung, luôn quan tâm, động viên kịp thời và chỉ bảo ân cần cho học sinh. Có thể cho
thêm bài riêng để luyện khắc phục các điểm yếu của học sinh, tuyệt đối không nên
nhồi nhét kiến thức cho các em một cách thụ động, không giao những nhiệm vụ bất
khả thi đối với học sinh.
Xây dựng hệ thống những bài thực nghiệm phần hóa hữu cơ BDHSG cấp QG- QTế
6

Để làm tốt đƣợc công việc trên giáo viên cần có những kĩ năng cơ bản sau:
 Kĩ năng nhận thức:
- Đọc và nghiên cứu tài liệu, tổng hợp và tóm tắt tài liệu.
- Xây dựng đề cƣơng, soạn giáo án, lập kế hoạch bồi dƣỡng.
 Kĩ năng truyền đạt:
- Kĩ năng giao tiếp, ngôn ngữ.
- Kĩ năng nêu vấn đề và đặt câu hỏi: câu hỏi đƣợc diễn đạt rõ ràng, ngắn
gọn, xúc tích, dễ hiểu, sử dụng ngôn ngữ phù hợp, không quá phức tạp. Câu
hỏi có thứ tự logic, hình thức thay đổi và không mang tính ép buộc.
- Kĩ năng trình bày và chuyển tải kiến thức: các vấn đề và nội dung kiến
thức đƣa ra cần chính xác khoa học, đơn giản, dễ hiểu, không phức tạp hóa
và cần đƣợc chuẩn bị chu đáo. Nói rõ ràng và đủ âm lƣợng, cần bao quát tốt
và chú ý thái độ phản hồi từ học sinh.
 Kĩ năng tổ chức, quản lý
- Giám sát, theo dõi, động viên, khuyến khích.
- Tiếp nhận, điều chỉnh thông tin phản hồi.
 Kĩ năng sử dụng các phƣơng tiện dạy học

chính xác đƣợc, đồng thời để đƣợc tuyển chọn đƣợc đội tuyển học sinh đi thi
Olympiad hóa học Quốc tế phải mất một thời gian rèn luyện điều chỉnh quan điểm
tƣ duy dẫn đến tình trạng mất nhiều thời gian học mà hiệu quả không cao.
Mặt khác, thời gian thực hiện bồi dƣỡng HSG của các trƣờng còn nhiều
hạn chế.
Kinh phí dành cho bồi dƣỡng theo quy định của nhà nƣớc còn quá thấp. Chế
độ chính sách ƣu tiên cho học sinh đạt giải chƣa ổn định. Vì vậy nhiều học sinh có
năng khiếu lại không mặn mà với việc ôn luyện học sinh giỏi mà thƣờng chọn giải
pháp an toàn hơn là ôn thi vào các trƣờng đại học danh tiếng trong nƣớc hoặc đầu tƣ đi
du học nƣớc ngoài.
Về vấn đề thực hành hóa học chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Trang thiết bị,
các loại máy móc, dụng cụ, hóa chất còn thiếu và chƣa đồng bộ. Vì vậy đa số học sinh
còn rất yếu về kĩ năng thực hành.
1.2. Vai trò, tác dụng của thực nghiệm trong dạy học và nghiên cứu hóa học
Xây dựng hệ thống những bài thực nghiệm phần hóa hữu cơ BDHSG cấp QG- QTế
8

Hóa học nói chung và hóa học hữu cơ nói riêng là một ngành khoa học thực
nghiệm. Thí nghiệm có vai trò vô cùng quan trọng trong nghiên cứu và dạy học hóa
học.
“…Không thể hình dung đƣợc việc giảng dạy hóa học trong nhà trƣờng mà
lại không có quan sát, không có thí nghiệm học tập” [4]. Quan sát và thí nghiệm là
các phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học tự nhiên, của các môn khoa học
thực nghiệm, trong đó có môn hóa học. Hóa học là một khoa học đã và sẽ không thể
phát triển đƣợc nếu không có quan sát, thí nghiệm.
Quan sát và thí nghiệm đã tạo khả năng cho các nhà khoa học phát hiện và
khai thác các sự kiện, hiện tƣợng mới, xác định những quy luật mới, rút ra những
kết luận khoa học và tìm cách vận dụng vào thực tiễn. Nhƣ chúng ta đã biết, hầu hết
các nguyên tố hóa học, các chất hóa học mới, vật liệu mới,… đều đƣợc tìm ra từ
phòng thí nghiệm của các nhà hóa học. Tất cả các qui trình công nghệ trƣớc khi đƣa

gắn liền với thực tế cuộc sống. Khi quan sát thí nghiệm học sinh ghi nhớ các thí
nghiệm, nếu học sinh gặp lại hiện tƣợng trong tự nhiên, học sinh sẽ hình dung lại kiến
thức và giải thích đƣợc hiện tƣợng một cách dễ dàng. Từ đó học sinh phát huy đƣợc
tính tích cực, sáng tạo và ứng dụng kiến thức nhạy bén trong những trƣờng hợp cụ
thể.
Làm thí nghiệm hóa học giúp học sinh r
èn luyện kĩ năng thực hành.
Khi
thực hành thí nghiệm, học sinh phải nắm vững lí thuyết của bài thực hành, phải đƣợc
trang bị đầy đủ kiến thức về an toàn thí nghiệm, phải làm chính xác các thao tác thí
nghiệm, sử dụng lƣợng hóa chất thích hợp để đảm bảo thí nghiệm thành công. Qua
thực hành thí nghiệm học sinh rèn luyện kĩ năng thao tác, sự khéo léo, kĩ năng lập kế
hoạch thí nghiệm, phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề. Từ đó học sinh sẽ hình thành
những đức tính cần thiết của ngƣời lao động mới: tác phong làm việc nghiêm túc,
cẩn thận, ngăn nắp, kiên trì, trung thực, chính xác, khoa học,…
Thí nghiệm hóa học giúp học sinh phát triển tƣ duy, hình thành thế giới quan
duy vật biện chứng. Khi học sinh tự tay tiến hành các thí nghiệm sẽ giúp các em rèn
luyện kĩ năng quan sát, so sánh, phán đoán, nhận xét các hiện tƣợng xảy ra, khái quát
hóa và rút ra những kết luận khoa học. Khi làm thí nghiệm hoặc đƣợc tận mắt nhìn
thấy những hiện tƣợng hóa học xảy ra, học sinh sẽ tăng thêm niềm tin vào kiến thức
đã học và tăng niềm tin đối với bản thân.
Thông qua thí nghiệm hóa học học sinh nắm kiến thức một cách hứng thú,
vững chắc và sâu sắc hơn. Thí nghiệm hóa học giúp giờ học thêm sinh động, góp
Xây dựng hệ thống những bài thực nghiệm phần hóa hữu cơ BDHSG cấp QG- QTế
10

phần nâng cao chất lƣợng dạy học. Học sinh sẽ khó yêu thích bộ môn và không thể
say mê khoa học với những bài giảng lý thuyết khô khan. Khi quan sát thí nghiệm,
học sinh sẽ muốn tự khám phá những thí nghiệm và tính chất hóa học của các chất để
giải thích đƣợc các câu hỏi: Tại sao các chất phản ứng với nhau lại tạo ra đƣợc hiện

Thí nghiệm 1: Xác định sự có mặt của
cacbon và hiđro trong hợp chất hữu cơ
Luận văn Thạc sỹ

11

Thí nghiệm 2: Điều chế và thử tính
chất của metan
Thí nghiệm 2: Nhận biết halogen
trong hợp chất hữu cơ
Thí nghiệm 3: Điều chế và thử một vài
tính chất của metan
2
Điều chế và tính chất của etilen,
axetilen
Thí nghiệm 1: Điều chế và thử tính
chất của etilen
Thí nghiệm 2: Điều chế và thử tính
chất của axetilen
Tính chất của hiđrocacbon không no
Thí nghiệm 1: Điều chế và thử tính
chất của etilen
Thí nghiệm 2: Điều chế và thử tính
chất của axetilen
Thí nghiệm 3: Phản ứng của tecpen
với nƣớc brom
3

Tính chất của một vài hiđrocacbon
thơm


Thí nghiệm 1: Phản ứng tráng bạc
Thí nghiệm 2: Phản ứng của axit
axetic với quì tím, natri cacbonat
Thí nghiệm 1: Phản ứng tráng bạc
Thí nghiệm 2: Phân biệt các dung dịch
axit axetic, anđehit fomic và etanol

Lớp 12
6
Điều chế, tính chất hóa học của este
và gluxit
Thí nghiệm 1: Điều chế etyl axetat
Thí nghiệm 2: Phản ứng xà phòng
hóa
Thí nghiệm 3: Phản ứng của Glucozơ
với Cu(OH)
2

Thí nghiệm 4: Phản ứng của tinh bột
với iot
Điều chế este và tính chất một số
cacbohiđat
Thí nghiệm 1: Điều chế etyl axetat
Thí nghiệm 2: Phản ứng của Glucozơ
với Cu(OH)
2
Thí nghiệm 3: Tính chất của saccarozơ
Thí nghiệm 4: Phản ứng của tinh bột
với iot

- Hóa chất phổ biến, dụng cụ đơn giản.
- Đảm bảo tính mỹ thuật, sƣ phạm và khoa học.
Các bài thực hành nói chung và các bài thực hành phần hữu cơ nói riêng
trong chƣơng trình hóa học THPT là công cụ trực quan sinh động để minh họa và
làm sáng tỏ lí thuyết, góp phần rèn luyện những kĩ năng thực hành cơ bản, làm quen
với các dụng cụ thí nghiệm và hình thành phƣơng pháp nghiên cứu khoa học cho
các em học sinh.
Ví dụ nhƣ, khi làm bài thực hành “Phân tích định tính nguyên tố. Điều chế
và tính chất của metan” học sinh rèn luyện đƣợc các kĩ năng thực hành nhƣ
- Làm thí nghiệm với lƣợng nhỏ hóa chất trong ống nghiệm: sử dụng thìa
thủy tinh để lấy chất rắn, công tơ hút để lấy chất lỏng,
- Biết cách nung nóng chất rắn trong phòng thí nghiệm.
- Biết lắp ráp hệ thống dụng cụ đơn giản để tiến hành thí nghiệm với chất
rắn và chất khí.
- Biết cách thử tính chất của chất khí: đốt, dẫn khí vào các dung dịch,
Khi làm bài thực hành “Điều chế, tính chất hóa học của este và gluxit” học
sinh rèn luyện đƣợc các kĩ năng thực hành nhƣ
- Tiếp tục rèn luyện kĩ năng làm việc với lƣợng nhỏ hóa chất trong ống
nghiệm, dùng ống hút nhỏ giọt để lấy hóa chất và ƣớc lƣợng lƣợng hóa chất một
cách định tính,
- Biết cách đun nóng và đun cách thủy hỗn hợp phản ứng,
Tuy nhiên, hiện nay số lƣợng và chất lƣợng thí nghiệm thực hành hóa học
trong chƣơng trình THPT chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của việc dạy học nói chung
và đặc biệt là yêu cầu việc đổi mới dạy học nói riêng. Hơn nữa các thí nghiệm hóa
học trong chƣơng trình THPT chủ yếu chỉ mang tính chất định tính. Hầu hết các bài
thực hành thí nghiệm sinh học ở THPT trong chƣơng trình và sách giáo khoa đƣợc
bố trí ở cuối mỗi chƣơng chỉ mang tính chất củng cố minh họa cho các kiến thức lý
thuyết đã đƣợc trình bày trong các bài học của chƣơng trình. Hơn nữa số tiết thực

Trích đoạn Thủy phõn etylaxetat bằng xỳc tỏc axit, động học phản ứng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status