đổi mới quản lý tài chính ở trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng đài truyền hình việt nam - Pdf 24


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
========== BÙI THẾ HÙNG
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở
TRUNG TÂM KỸ THUẬT TRUYỀN DẪN PHÁT SÓNG
ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2010
Tác giả luận văn Bùi Thế Hùng ii
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIỆT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU Ở VIỆT NAM 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu ở
Việt Nam 5
1.1.1 Hoạt động sự nghiệp 5
1.1.2 Đơn vị sự nghiệp. 10
1.2 Cơ sở pháp lý của đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam 15
1.2.1 Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 về chế độ tài chính áp dụng
cho đơn vị sự nghiệp có thu 15
1.2.2 Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với
đơn vị sự nghiệp công lập 18
1.2.3 Nội dung quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam 19
1.3 Các nhân tố ảnh hƣởng tới quản lý tài chính của các đơn vị sự
nghiệp có thu 23
1.3.1 Chế độ quản lý tài chính công 23

3.2.1 Chủ động khai thác các nguồn thu để phục vụ chi thƣờng xuyên tại Trung tâm 76
3.2.2 Đổi mới quy chế chi tiêu nội bộ của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng 80
3.2.3 Tích cực tuyên truyền và nâng cao trình độ về tự chủ tài chính cho cán bộ
Trung tâm 85
3.3 Một số kiến nghị 86
3.3.1 Kiến nghị đối với Đài Truyền hình Việt Nam 86
3.3.2 Kiến nghị đối với Nhà nƣớc 87
KẾT LUẬN 88

iv
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
1.
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
2.
BHXH
Bảo hiểm xã hội
3.
BHYT
Bảo hiểm y tế
4.
ĐHKS
Điều hành Kiểm soát

15.
QLPS
Quản lý phát sóng
16.
TDPS
Truyền dẫn phát sóng
17.
TCTC
Tự chủ tài chính
18.
TDLĐ
Truyền dẫn lƣu động
19.
THQG
Truyền hình Quốc gia
20.
THVN
Truyền hình Việt Nam
21.
TNVN
Tiếng nói Việt Nam
22.
TSCĐ
Tài sản cố định
23.
VTV
Đài Truyền hình Việt nam ii

Hình
Nội dung
Trang
1
Hình 2.1.
Mô hình tổ chức hoạt động của Trung tâm
kỹ thuật truyền dẫn phát sóng.
34
2
Hình 2.2.
Cơ cấu tổ chức bộ máy tài chính kế toán
của Đài THVN.
38
3
Hình 3.1.
Mô hình tổ chức hoạt động của Trung tâm
kỹ thuật truyền dẫn phát sóng trong điều
kiện tự chủ.
71
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Chính phủ, Đài THVN thực hiện
chức năng thông tin, tuyên truyền đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nƣớc và cung ứng các dịch vụ công; góp phần giáo dục, nâng cao dân
trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chƣơng trình truyền hình.

Việc nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của Trung tâm kỹ thuật truyền
dẫn phát sóng - đơn vị dự toán cấp II của Đài THVN trong điều kiện tự chủ
tài chính là bƣớc đột biến, hết sức quan trọng và cấp bách, mang tính khách
quan, nhằm tạo ra hành lang pháp lý về kinh tế, tài chính cho Trung tâm thực
hiện quản lý thu, chi một cách hiệu quả, linh hoạt và đúng quy định của pháp
luật, góp phần làm tiền đề cho việc thực hiện chuyển sang hoạt động theo mô
hình doanh nghiệp ở Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng- Đài THVN.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, “Đổi mới quản lý tài chính ở Trung tâm
kỹ thuật truyền dẫn phát sóng- Đài THVN” đƣợc chọn làm đề tài của Luận
văn này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Đổi mới quản lý tài chính của Trung tâm kỹ thuật truyền dẫn phát sóng
trong điều kiện chuyển đổi hoạt đổi hoạt động sang tự chủ tài chính giai đoạn
2011-2015.
2.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu hành lang pháp lý các vấn đề tài chính liên quan tới chủ
trƣơng trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Đánh giá thực trạng quản lý tài chính của Trung tâm kỹ thuật truyền
dẫn phát sóng và của Đài THVN.
Đề xuất hƣớng đổi mới quản lý tài chính của Trung tâm kỹ thuật truyền
dẫn phát sóng giai đoạn 2011-2015.

3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Những vấn đề lý luận về thực tiễn về cơ chế quản lý, thu, chi tài chính,
nền tảng pháp lý, các cơ chế, chính sách, các quy định của Nhà nƣớc về quản
lý tài chính của các ĐVSN có thu, nghiên cứu cơ chế tài chính của Trung tâm
kỹ thuật truyền dẫn phát sóng trong điều kiện tự chủ tài chính.

cấp thiết và hết sức quan trọng, làm cơ sở cho việc trình Tổng giám đốc Đài
THVN xem xét và chính thức đƣa vào áp dụng trong những năm tới.
7. Bố cục của Luận Văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn có kết cấu thành các phần nhƣ sau:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý đối với quản lý tài chính của
các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam
Chƣơng 2. Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm kỹ thuật truyền
dẫn phát sóng- Đài Truyền hình Việt Nam
Chƣơng 3. Giải pháp đổi mới quản lý tài chính tại Trung tâm kỹ thuật
truyền dẫn phát sóng- Đài Truyền hình Việt Nam 5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU Ở VIỆT NAM

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có
thu ở Việt Nam
1.1.1 Hoạt động sự nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động sự nghiệp
Khi xây dựng mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực, các lý luận gia của
các nƣớc xã hội chủ nghĩa đã coi các hoạt động sản xuất là hoạt động kinh tế,
các hoạt động của bộ máy nhà nƣớc là hành chính và các hoạt động giáo dục,
nghiên cứu, y tế, văn hóa, nghệ thuật là hoạt động sự nghiệp. Hơn nữa, trong
mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa thời bao cấp, ngoài các cơ sở sản xuất và
thƣơng mại quốc doanh bao trùm quá trình tái sản xuất xã hội, Nhà nƣớc còn
thành lập các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục, văn hóa, y tế, nghiên cứu…Để
phân biệt chức năng và cơ chế hoạt động của các loại hình đơn vị cơ sở nhƣ

quả cao hơn. Hoạt động sự nghiệp giáo dục, văn hóa, đào tạo, y tế, thể dục thể
thao đem đến tri thức và bảo đảm sức khỏe cho lực lƣợng lao động, tạo điều
kiện cho lao động có chất lƣợng ngày càng tốt hơn; hoạt động sự nghiệp khoa
học, văn hóa thông tin mang lại những hiểu biết của con ngƣời về tự nhiên, xã
hội, tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống
Thứ hai, hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp:
Trong nền kinh tế thị trƣờng, một số sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự
nghiệp tạo ra có thể trở thành hàng hóa đem lại thu nhập cho đơn vị cung cấp.
Song do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn nhƣ nếu trao đổi theo nguyên tắc thị
trƣờng thì nhiều ngƣời không có khả năng tiêu dùng hoặc không khuyến

7
khích tiêu dùng đủ mức…, trong khi đó mở rộng tối đa sự tiêu dùng các loại
hàng hóa đó có ý nghĩa vừa làm tăng năng lực sản xuất của đất nƣớc, vừa có
giá trị tiến bộ và công bằng. Chính vì thế, Nhà nƣớc cần tổ chức cung ứng
hoặc duy trì các tài trợ để các hoạt động sự nghiệp cung cấp những sản phẩm,
dịch vụ không thu tiền hoặc thu tiền chỉ để hoàn một phần chi phí, không
nhằm thu lợi nhuận. Ngoài ra, khi cung cấp các dịch vụ sự nghiệp không theo
nguyên tắc thƣơng mại bình thƣờng, Nhà nƣớc hƣớng đến mục tiêu phân phối
lại thu nhập và tăng phúc lợi công cộng.
Tuy nhiên, xét về mặt quản lý vi mô, Nhà nƣớc mong muốn các đơn vị
cung cấp hàng hóa, dịch vụ sự nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, có nghĩa là
hoạt động với chi phí tối thiểu. Do đó, các biện pháp khoán kinh phí hay buộc
các đơn vị sự nghiệp phải hạch toán thu chi không phải là giải pháp tăng thu
lợi nhuận nhƣ các biện pháp quản lý doanh nghiệp, mà đơn thuần chỉ là giải
pháp quản lý khuyến khích đơn vị sự nghiệp chủ động phát huy hết mọi năng
lực của mình để tiết kiệm chi phí.
Thứ ba, hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các
chương trình phát triển kinh tế xã hội và ngân sách của Nhà nước:
Trong kinh tế thị trƣờng, các hoạt động sự nghiệp cũng là công cụ để

+ Sự nghiệp kinh tế: Là hoạt động sự nghiệp nhằm phục vụ trực tiếp
hoặc gián tiếp cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho các ngành kinh
tế hoạt động bình thƣờng, thuận lợi.
+ Sự nghiệp văn hóa xã hội (gọi tắt là sự nghiệp văn xã): Là các hoạt
động phục vụ cho các yêu cầu phát triển của xã hội về văn hóa, sức khỏe và
các nhu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân.
- Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động sự
nghiệp, hoạt động sự nghiệp đƣợc chia thành:
+ Hoạt động sự nghiệp không có thu: Là hoạt động do Nhà nƣớc đảm

9
bảo hoàn toàn nhu cầu tài chính. Những hoạt động này thƣờng là những hoạt
động cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội, phạm vi tiêu dùng rộng rãi và
chỉ có Nhà nƣớc mới có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất. Thuộc về
những hoạt động này gồm có các hoạt động về văn hóa tuyên truyền, giáo dục
tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế cho ngƣời nghèo, đảm bảo xã hội,
+ Hoạt động sự nghiệp có thu: Là những hoạt động mà nguồn tài chính
đảm bảo vừa do Nhà nƣớc cung cấp, vừa do ngƣời tiêu dùng đóng góp một
phần dƣới dạng phí, lệ phí. Những hoạt động này thƣờng là những hoạt động
cung cấp các dịch vụ có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và đời sống
mà ngƣời tiêu dùng có thể trả tiền do họ thấy ngay hiệu quả sử dụng dịch vụ,
hoặc là họ muốn nhận đƣợc những dịch vụ có phí phân biệt theo chất lƣợng.
- Căn cứ vào tính chất hoạt động của chúng, hoạt động sự nghiệp đƣợc
chia thành:
+ Hoạt động sự nghiệp thƣờng xuyên: Là những hoạt động đƣợc tổ
chức và duy trì hoạt động liên tục và xã hội luôn luôn có nhu cầu tiêu dùng
sản phẩm dịch vụ của nó, bất luận điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai
đoạn nhƣ thế nào. Thuộc về hoạt động sự nghiệp thƣờng xuyên là các hoạt
động về giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa …
+ Hoạt động sự nghiệp không thƣờng xuyên: Là những hoạt động sự

và bảo vệ Tổ quốc”. Hoạt động sự nghiệp có vai trò quan trọng trong lĩnh vực này.
1.1.2 Đơn vị sự nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế-xã hội, để thực hiện các hoạt động sự nghiệp cần có
các tổ chức tiến hành các hoạt động đó, các tổ chức này đƣợc gọi là đơn vị sự
nghiệp (ĐVSN). Tuy nhiên, theo ngôn ngữ quen dùng ở Việt Nam, ĐVSN
thƣờng phải là các cơ quan của Nhà nƣớc.

11
“Chƣơng trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan
hành chính nhà nƣớc và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2004-2005”, ban
hành theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15/01/2004 của Thủ tƣớng
Chính phủ đã xác định: ĐVSN là một loại hình đơn vị đƣợc Nhà nƣớc ra
quyết định thành lập, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nƣớc giao trên lĩnh vực quản lý,
thực hiện các hoạt động sự nghiệp. Đó là đơn vị thuộc sở hữu nhà nƣớc, hoạt
động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, thông tin, nghiên cứu
khoa học, y tế, không theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh [24].
ĐVSN thuộc khu vực phi lợi nhuận, sự chi tiêu của các đơn vị này,
theo con mắt của các nhà quản lý tài chính nhà nƣớc, mất đi, không thu hồi lại
đƣợc vốn gốc, mặc dù các đơn vị này vẫn tính khấu hao tài sản cố định. Trong
quá trình hoạt động, các ĐVSN đƣợc Nhà nƣớc trang trải kinh phí đáp ứng
nhu cầu chi tiêu từ ngân sách nhà nƣớc hoặc đƣợc bổ sung từ các nguồn khác.
Đặc điểm hoạt động của các ĐVSN là rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu
cầu phát triển kinh tế xã hội và vai trò của Nhà nƣớc trong nền kinh tế thị
trƣờng. Mục đích hoạt động của các ĐVSN là phục vụ lợi ích cộng đồng, xã
hội, đất nƣớc. Trong quá trình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cho xã hội,
các ĐVSN đƣợc phép tạo lập nguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản
thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ do Nhà nƣớc quy định để trang
trải các khoản chi tiêu. Quản lý tài chính ĐVSN phải tuân thủ theo những quy

ĐVSN có những điểm khác với loại hình doanh nghiệp. Trong kinh tế
thị trƣờng, các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc hạch toán kinh doanh,
hƣớng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tự bù đắp đủ chi phí và có
lãi. Doanh nghiệp phải hoạt động theo quy luật thị trƣờng. ĐVSN không hoàn
toàn hoạt động theo cơ chế thị trƣờng và không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng
đầu của mình.

13
Lĩnh vực sự nghiệp tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục
vụ chính trị-xã hội, vừa mang tính hàng hóa đòi hỏi phải bù đắp chi phí. Với
chức năng phục vụ xã hội, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp không thể đo
bằng giá trị tiền tệ hữu hình. Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và
càng không hạch toán đƣợc lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức
năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Mặt khác, mỗi sản phẩm này đều
mang trong nó giá trị đã hao phí để tạo ra nó. Để tái sản xuất giản đơn, các
ĐVSN phải thu lại từ ngân sách nhà nƣớc và từ chi trả của ngƣời hƣởng thụ.
Hiệu quả hoạt động của ĐVSN không đơn thuần đo đếm bằng tiền, mà
thƣờng đƣợc tính bằng các giá trị phi tiền tệ. Chính vì thế, việc đánh giá hiệu
quả hoạt động của các ĐVSN thƣờng khó khăn.
1.1.2.2 Các loại hình đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam
* Căn cứ vào vị trí
- ĐVSN ở Trung ƣơng là những ĐVSN trực thuộc Chính phủ nhƣ
TTXVN, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các bệnh viện,
trƣờng học, các nhà xuất bản quốc gia…
- ĐVSN ở địa phƣơng nhƣ đài phát thanh truyền hình ở địa phƣơng,
các bệnh viện, trƣờng học, do địa phƣơng quản lý,
* Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể
- ĐVSN giáo dục, đào tạo.
- ĐVSN y tế (Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân)
- ĐVSN văn hóa, thông tin

dƣới hình thái tiền, giấy tờ có giá của một đơn vị, tổ chức vừa đảm bảo cho
đơn vị, tổ chức hoạt động bình thƣờng, vừa đảm bảo cho nguồn tài chính sử
dụng tiết kiệm và sinh lợi nhiều nhất.
Chủ thể quản lý tài chính ĐVSN gồm cơ quan nhà nƣớc chuyên trách,
bộ phận quản lý tài chính trong ĐVSN.

15
* Quản lý tài chính ĐVSN từ phía Nhà nước
Tùy theo tổ chức bộ máy nhà nƣớc trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể,
có các cơ quan nhà nƣớc trực tiếp quản lý tài chính ĐVSN khác nhau. Hiện
nay, cơ quan chuyên trách quản lý tài chính các ĐVSN ở trung ƣơng là Bộ
Tài Chính, Bộ chủ quản, ở địa phƣơng là Sở Tài chính và Sở chủ quản.
Mục tiêu của Nhà nƣớc trong quản lý tài chính các ĐVSN là đề ra
chính sách, chế độ, quy chế hoạt động tài chính phù hợp với luật pháp và chức
năng, nhiệm vụ của ĐVSN.
* Quản lý tài chính ở ĐVSN
Chủ thể quản lý tài chính là các bộ phận chuyên trách về tài chính trong
các ĐVSN. Thông thƣờng, đó là bộ phận kế toán-tài vụ. Nếu trong ĐVSN còn
có các đơn vị độc lập có tƣ cách pháp nhân thì đơn vị trực thuộc đó cũng tiến
hành quản lý tài chính trong đơn vị mình. Mục tiêu quản lý tài chính của
ĐVSN là sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ nhà nƣớc và tiết kiệm nguồn
tài chính của mình.
1.2 Cơ sở pháp lý của đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam
1.2.1 Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 về chế độ tài
chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu
Cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu ra đời trong quá trình
thực hiện tách chức năng quản lý nhà nƣớc với chức năng điều hành các đơn
vị sự nghiệp dịch vụ công để hoạt động theo các cơ chế riêng, phù hợp, có
hiệu quả; xóa bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu “xin-cho”, ban hành các
cơ chế, chính sách thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp

Thứ chín: Khi Nhà nƣớc điều chỉnh mức tiền lƣơng tối thiểu hoặc thay
đổi định mức chi, chế độ, tiêu chuẩn chi ngân sách nhà nƣớc, đơn vị sự
nghiệp có thu tự bảo đảm trang trải các khoản chi tăng thêm, từ các nguồn:

17
Thu sự nghiệp, các khoản tiết kiệm chi, các quỹ của đơn vị và kinh phí ngân
sách nhà nƣớc cấp tăng thêm hàng năm (đối với các đơn vị tự bảo đảm một
phần chi phí).
Nhìn chung, sau khi chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo
Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ, quan hệ giữa đơn vị sự nghiệp
và các cơ quan quản lý nhà nƣớc đã có sự thay đổi cơ bản, đơn vị sự nghiệp
đã chủ động sắp xếp tổ chức, bộ máy, lao động theo yêu cầu công việc, chủ
động xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, chủ động phân bổ nguồn tài chính của
đơn vị theo nhu cầu chi tiêu của từng lĩnh vực trên tinh thần tiết kiệm, thiết
thực hiệu quả, giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan chủ quản, cơ quan tài
chính. Một số đơn vị đã thực hiện vay tín dụng để đầu tƣ mở rộng hoạt động.
Yêu cầu về công khai, minh bạch trong tổ chức sắp xếp công việc, nhân sự và
chi tiêu tài chính đã đƣợc thực hiện, tạo không khí đoàn kết, phấn khởi, tin
tƣởng trong nội bộ đơn vị. Qua thời gian thực hiện, đã đạt đƣợc một số kết
quả nhƣ sau:
- Việc giao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp có thu là bƣớc quan
trọng nhằm phân biệt rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính và đơn
vị sự nghiệp;
- Thay đổi phƣơng thức quản lý theo hƣớng trao quyền tự chủ về
quản lý biên chế, lao động, hoạt động chuyên môn, quản lý tài chính cho
đơn vị sự nghiệp.
- Các đơn vị sự nghiệp đã chủ động linh hoạt tổ chức hoạt động dịch vụ
để thu hút đƣợc nhiều ngƣời tham gia hƣởng thụ các dịch vụ công cộng với
chất lƣợng cao và chi phí hợp lý.
- Sắp xếp tổ chức bộ máy, biên chế và thực hiện hợp đồng lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status