đánh giá tác động của luật thuế bảo vệ môi trường đối với hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành hà nội - Pdf 24

Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lƣơng Thị Bích Việt K18 - Quản lý môi trƣờng

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lƣơng Thị Bích Việt
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT THUẾ BẢO VỆ
MÔI TRƢỜNG ĐỐI VỚI HÀNH VI SỬ DỤNG TÚI
NILON CỦA NGƢỜI DÂN NỘI THÀNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - Năm 2013
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lƣơng Thị Bích Việt K18 - Quản lý môi trƣờng
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Lƣơng Thị Bích Việt

1.2.3. Nội dung chính của Luật thuế bảo vệ môi trường 10
1.2.4. Một số văn bản dưới luật 14
1.2.4.1. Luật thuế bảo vệ môi trường 15
1.2.4.2. Nghị định 67/2011/NĐ-CP 16
1.2.4.3. Thông tư 152/2011/TT-BTC 16
1.2.4.4. Nghị định 69/2012/NĐ-CP 16
1.2.4.5. Thông tư 159/2012/TT-BTC 17
1.3. Tình hình thực hiện thuế bảo vệ môi trƣờng áp dụng với túi nilon ở Việt Nam
23
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về các khoản thu nhằm bảo vệ môi trƣờng 29
CHƢƠNG 2 31
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 31
2.1.1. Siêu thị BigC 31
2.1.2. Siêu thị Co.op Mart 32
2.1.3. Quận Cầu Giấy 32
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 33
CHƢƠNG 3: 37
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lƣơng Thị Bích Việt K18 - Quản lý môi trƣờng
3.1. Kết quả xử lý phiếu điều tra về hành vi sử dụng túi nilon của ngƣời dân nội
thành Hà Nội 37
3.1.1. Thành phần đối tượng khảo sát 37
3.1.2. Thói quen sử dụng túi nilon của người dân 39
3.1.3. Sự hiểu biết về vấn đề môi trường và tác hại của túi nilon của người dân.
42
3.1.4. Mức sẵn lòng của người dân tham gia vào biện pháp, chính sách giảm
thiểu việc sử dụng túi nylon 46
3.1.5. Ảnh hưởng của sự nhận thức và thu nhập (tài chính) đến sự sẵn lòng trả

Nội 43
Bảng 3.7. Sự nhận thức về tác hại của túi nilon 44
Bảng 3.8. Loại túi thích hợp thay thế cho túi nylon 45
Bảng 3.9. Phản ứng của người dân khi được yêu cầu trả tiền cho mỗi túi nylon
47
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa thu nhập và mức sẵn lòng trả tiền của người
dân 48
Bảng 3.11. Tác động của thu nhập đến mức sẵn lòng trả tiền của người dân 49
Bảng 3.12. Hình thức và mức giá của túi nylon 51
Bảng 3.13. Mức độ tán thành của người dân đối với áp dụng chính sách giảm
thiểu việc sử dụng túi nylon 54
Bảng 3.14. Hình thức sử dụng túi nilon trước và sau khi có luật thuế bảo vệ
môi trường của 2 siêu thị 55
Bảng 3.15. Lượng túi nilon sử dụng tại 2 siêu thị trung bình 1 tháng 56
Bảng 3.16. Số lượng túi nilon sử dụng trung bình trong 1 tháng tại 2 siêu thị
57
Bảng 3.17. Chi phí mua túi phát miễn phí cho khách hàng 57
Bảng 3.18. Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế sử dụng của 2 siêu thị 58
Bảng 3.19. Tỷ lệ người dân biết tới Luật thuế bảo vệ môi trường 58
Bảng 3.20. Mức độ sử dụng túi theo tỷ lệ người dân 59
Bảng 3.21. Liên hệ giữa những người hiểu biết luật thuế bảo vệ môi trường
với việc sử dụng túi nilon trong đời sống hàng ngày của họ 59
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lương Thị Bích Việt 1 K18 - Quản lý môi trường
MỞ ĐẦU

Lý do lựa chọn đề tài
Túi nilon khi mới được phát minh, nhân loại coi đó là một phát kiến vĩ
đại vì nó là loại vật liệu không thấm nước, có tính dẻo, dai và được ứng dụng
lớn trong đời sống của con người. Sự tiện dụng của loại vật liệu này góp phần

những sản phẩm tiện dụng tiện lợi giúp ích cho loài người vậy mà ta lại đi
ngược lại lịch sử “nói không với sản phẩm túi nilon” thì quả thật là cũng
không phải là một phương án hợp lý tối ưu.
Một yếu tố quan trọng nữa cần phải kể đến đó là tốc độ tăng trưởng
GDP hàng năm của Việt Nam đạt trên 8,5%, nhưng nếu tính đến cả các tổn
thất do môi trường thì tốc độ tăng GDP thực tế của Việt Nam sẽ chỉ là 3 - 4%.
Trong số thiệt hại này, túi nhựa nylon “góp phần” không ít. Đây là một thiệt
hại quá lớn cho nền kinh tế Việt Nam.
Nhận thức được tác hại của túi nilon đối với môi trường và sức khoẻ
cộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những giải pháp mạnh để giải
quyết vấn đề này như: Ban hành lệnh cấm sản xuất túi nilon khó phân huỷ,
đánh thuế nặng đối với sản xuất túi nilon đã được áp dụng tại Đài Loan,
Trung Quốc, Vương quốc Anh và một số bang ở Hoa Kỳ, Thuỵ Sỹ, Nam Phi,
Đan Mạch…; ngoài ra các nước này cũng yêu cầu người tiêu dùng phải trả
tiền mua túi nilon khi mua hàng để khuyến khích người dân tái sử dụng túi
nilon hoặc sử dụng các loại túi thân thiện với môi trường. Một số quốc gia ở
châu Phi như: Uganda, Kenya, Tanzania… cũng có những động thái cấm
nhập khẩu, sản xuất, tăng thuế đối với túi nhựa nhằm hạn chế tối đa những
ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường.
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lương Thị Bích Việt 3 K18 - Quản lý môi trường
Trước mối lo ngại sử dụng túi nilon tràn lan ảnh hưởng tới sức khỏe
con người và học tập những chính sách của các nước có liên quan tới vấn đề
này, Việt Nam đã đưa luật thuế bảo vệ môi trường vào áp dụng cho các sản
phẩm có ảnh hưởng tới môi trường trong đó có sản phẩm túi nilon. Luật mới
đưa ra áp dụng nhưng lại gây ra những vướng mắc, bối rối và những bất cập
khi áp dụng luật thuế với sản phẩm túi nilon này. Xuất phát từ thực tiễn đó
cùng với mục tiêu nghiên cứu tìm hướng giải quyết vấn đề, tôi đã tiến hành
thực hiện đề tài Luận văn “Đánh giá tác động của Luật thuế bảo vệ môi
trường đối với hành vi sử dụng túi nilon của người dân nội thành Hà Nội”.

khoảng 30 tấn nylon được sử dụng mỗi ngày trong các chợ, siêu thị, trung tâm
thương mại ở TP.HCM và 34-60 tấn/ngày tương đương từ 5 – 9 triệu túi
nylon/ngày từ các hộ dân. Và hầu như chúng đều được phát thải ra môi
trường, trong đó khu vực phát sinh nhiều nhất là chợ chiếm 70%, kế đến là
siêu thị 25% và cuối cùng là trung tâm thương mại 3%. Đây là những con số
rất đáng báo động.
Kết quả khảo sát của Trung tâm Hỗ trợ Ứng phó Biến đổi Khí hậu
(SCC) vào tháng 09/2008 trên 200 khách hàng tại Hà Nội cho thấy, bình quân
mỗi gia đình sử dụng (được siêu thị/cửa hàng/người bán hàng cấp miễn phí)
11.3 túi nylon/ngày và đại bộ phận số túi này chỉ sau một lần sử dụng bị thải
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lương Thị Bích Việt 5 K18 - Quản lý môi trường
ra môi trường. Điều này không những gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
mà còn lãng phí tiền của người dân và xã hội. Theo tính toán nếu mỗi túi
nylon trị giá trung bình 200 đồng thì với khoảng 800.000 gia đình Hà Nội (cũ)
sẽ thải 9 triệu túi nylon/ngày, 270 triệu túi/tháng, 3240 triệu túi/năm tương
ứng với số tiền bị lãng phí là 1,8 tỷ đồng/ngày, 54 tỷ đồng/tháng, 648 tỷ
đồng/năm. Khảo sát việc sử dụng túi nylon cho thấy, 72% lượng túi nylon
được tiêu thụ ở 229 chợ, số còn lại tiêu thụ ở siêu thị và các trung tâm thương
mại trên địa bàn TPHCM có 93% người mua hàng cần dùng túi nylon. Gần
đây, tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ rác thải là túi nylon và
những cảnh báo về hiểm họa lâu dài cho môi trường đã khiến nhiều người bắt
đầu chú ý đến việc làm sao giảm sử dụng túi nylon. Ngày 26-8-2008, Quỹ Tái
chế chất thải TPHCM – Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM đã tổ chức hội
thảo “Đề xuất các giải pháp giảm thiểu sử dụng túi nylon tại TPHCM hướng
đến xã hội tiêu thụ bền vững”. Quỹ Tái chế chất thải TPHCM đã đưa ra kết
quả khảo sát cho thấy người dân TPHCM đã quá phụ thuộc vào túi nylon khi
93% người đi mua hàng hoàn toàn không đem theo túi vì cho rằng “được phát
miễn phí, tội gì không dùng”. Ngoài ra, 1/4 số này cho rằng sẽ rất bất tiện nếu
phải lỉnh kỉnh xách theo túi từ nhà mỗi khi đi mua sắm.

dân nhất như quả cà, con cá, mớ rau, đến những vật dụng quần áo, giày
dép đều được bọc gói bằng túi nylon. Và thông thường sau một lần sử dụng,
những chiếc túi chỉ đáng giá có vài xu ấy được người ta thuận tay vứt bữa bãi
khắp mọi nơi, gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan thành phố. [10]
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lương Thị Bích Việt 7 K18 - Quản lý môi trường
1.1.2. Tác hại của việc sử dụng túi nylon
Túi nylon là một loại bao bì tiện lợi và phổ biến nhưng song song với
ưu điểm này là những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, xã hội, kinh
tế đất nước và cả con người.
Xét từ góc độ cấu tạo khoa học, túi nylon được sản xuất từ nhựa
polythylen (còn gọi là polyme tổng hợp) cấu thành nên PE. Đây là một phần
tử lớn gồm một sợi xích dài các đơn vị nhỏ hơn nối kết với nhau về mặt hoá
học. Các polyme tạo thành nhựa PE để sản xuất ra các túi nylon hay bao bì
nylon được lấy từ các sản phẩm hoá dầu. Nhựa PE là hợp chất có độ thấm
nước nhỏ, tính đàn hồi và độ bền hoá học cao. Đặc điểm này dẫn tới đặc trưng
rất khó phân huỷ của túi nylon. Theo các nhà chuyên môn, tuỳ vào từng loại
chất dẻo mà thời gian phân huỷ 1 chiếc túi nylon có thể dao động trong
khoảng từ 20 năm đến 5000 năm.
Các loại rác thải này khi nằm trong lòng đất tạo thành những kẽ hở len
lỏi xuyên qua hệ thống lọc làm ô nhiễm mạch nước ngầm. Thêm vào đó, khi
túi nylon lẫn vào đất có thể làm chậm sự tăng trưởng của cây trồng, ngăn cản
ôxy đi qua đất, gây xói mòn đất. Túi nylon làm tắc nghẽn cống, rãnh, kênh,
rạch, gây ngập úng, phá hủy đất nông nghiệp, gia tăng thể tích bãi rác tại các
bãi chôn lấp, gây cản trở việc phân hủy rác, tăng chi phí ngân sách trong việc
xử lý rác, làm tắc nghẽn các dòng chảy, làm chết nhiều loài thủy sinh, làm đất
ngạt thở, là nơi phát tán và trú ngụ của côn trùng, dịch bệnh.
Không những thế, túi nylon còn có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe cho
người sử dụng. Khi xử lý loại rác thải này nếu đem đốt ở nhiệt độ bình thường
sẽ tạo ra khí thải có chất độc dioxin va Furan là những chất có khả năng gây

hệ thống công nghệ xử lý hiện đại, khép kín và triệt để. [10]
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lương Thị Bích Việt 9 K18 - Quản lý môi trường
1.2. Luật thuế bảo vệ môi trƣờng và một số văn bản dƣới luật
1.2.1. Mục tiêu, yêu cầu xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường
Việc ban hành Luật thuế bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo các mục
tiêu, yêu cầu sau:
1. Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, khuyến khích phát
triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường, phù hợp với tình hình kinh tế
hiện nay và những năm tới.
2. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phần
thay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong sản xuất và tiêu dùng
nhằm giảm phát thải ô nhiễm tại nguồn.
3. Tăng cường quản lý nhà nước, thể chế hoá chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ,
phù hợp với các qui định của Hiến pháp, tính thống nhất và đồng bộ với các
văn bản pháp luật có liên quan khác; thực hiện cam kết của Chính phủ với
cộng đồng quốc tế.
4. Các quy định trong Luật không quá phức tạp, phải rõ ràng, dễ hiểu,
dễ thực hiện, dễ quản lý.
5. Động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu để giải
quyết vấn đề môi trường, đồng thời phải đảm bảo tính cạnh tranh của nền
kinh tế, của các sản phẩm chủ yếu của Việt Nam. [12]
1.2.2. Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường
Luật thuế bảo vệ môi trường gồm 4 Chương, 14 Điều, cụ thể:
Chương 1: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 5). Chương này
xác định phạm vi điều chỉnh, đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện
chịu thuế, người nộp thuế bảo vệ môi trường.
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lương Thị Bích Việt 10 K18 - Quản lý môi trường

b) Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng
hàng hóa nhập khẩu.
- Mức thuế tuyệt đối để tính thuế được quy định tại Điều 8 của Luật này.
- Số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng số lượng đơn vị hàng hóa
chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa.
Mức thuế tuyệt đối được quy định theo Biểu khung thuế dưới đây:
Bảng 1.1. Biểu khung thuế bảo vệ môi trƣờng
STT
Hàng hóa
Đơn vị
tính
Mức thuế
(đồng/1 đơn vị hàng
hóa)
I
Xăng, dầu, mỡ nhờn
1
Xăng, trừ etanol
Lít
1.000-4.000
2
Nhiên liệu bay
Lít
1.000-3.000
3
Dầu diezel
Lít
500-2.000
4
Dầu hỏa

4
Than đá khác
Tấn
10.000-30.000
III
Dung dịch Hydro-chloro-
fluoro-carbon (HCFC)
kg
1.000-5.000
IV
Túi ni lông thuộc diện
chịu thuế
kg
30.000-50.000
V
Thuốc diệt cỏ thuộc loại
hạn chế sử dụng
kg
500-2.000
VI
Thuốc trừ mối thuộc loại
hạn chế sử dụng
kg
1.000-3.000
VII
Thuốc bảo quản lâm sản
thuộc loại hạn chế sử
dụng
kg
1.000-3.000

hóa nhập khẩu được thực hiện cùng thời điểm với khai thuế và nộp thuế nhập
khẩu.
3. Thuế bảo vệ môi trường chỉ nộp một lần đối với hàng hóa sản xuất
hoặc nhập khẩu.
Hoàn thuế
Người nộp thuế bảo vệ môi trường được hoàn thuế đã nộp trong các
trường hợp sau:
1. Hàng hóa nhập khẩu còn lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩu và đang chịu
sự giám sát của cơ quan Hải quan được tái xuất khẩu ra nước ngoài;
2. Hàng hóa nhập khẩu để giao, bán cho nước ngoài thông qua đại lý tại
Việt Nam; xăng, dầu bán cho phương tiện vận tải của hãng nước ngoài trên
tuyến đường qua cảng Việt Nam hoặc phương tiện vận tải của Việt Nam trên
tuyến đường vận tải quốc tế theo quy định của pháp luật;
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lương Thị Bích Việt 14 K18 - Quản lý môi trường
3. Hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh
doanh hàng tạm nhập, tái xuất;
4. Hàng hóa nhập khẩu do người nhập khẩu tái xuất khẩu ra nước
ngoài;
5. Hàng hóa tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu
sản phẩm theo quy định của pháp luật khi tái xuất khẩu ra nước ngoài.
Hiệu lực thi hành:
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012.
2. Các quy định về thu phí xăng, dầu tại Pháp lệnh về phí và lệ phí số
38/2001/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực thi hành từ ngày Luật này có hiệu lực.
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành:
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản
được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này
để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.2.4.1. Luật thuế bảo vệ môi trƣờng
- Tại khoản 3 Điều 2 Chương 1 định nghĩa “Túi ni lông thuộc diện chịu
thuế là loại túi, bao bì được làm từ màng nhựa đơn polyetylen, tên kỹ thuật là
túi nhựa xốp”.[5]
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lương Thị Bích Việt 16 K18 - Quản lý môi trường
1.2.4.2. Nghị định 67/2011/NĐ-CP
- Tại Khoản 3 Điều 2 chương 1 của nghị định nêu “Đối với túi ni lông
thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Luật Thuế
bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn
HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen)
hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn
hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy
định của Bộ Tài nguyên và Môi trường”.[6]
1.2.4.3. Thông tƣ 152/2011/TT-BTC
- Tại Khoản 4 Điều 1 Chương 1 khẳng định lại “Túi ni lông thuộc diện
chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn
HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen)
hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn
hàng hoá và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy
định của pháp luật về bảo vệ môi trường và hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và
Môi trường”.[8]
1.2.4.4. Nghị định 69/2012/NĐ-CP
- Tại Điều 1 của Nghị định đã nêu:
Sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày
08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường như sau:
“3. Đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tại
Khoản 4 Điều 3 của Luật thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựa
mỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựng

định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá (kể cả có hình dạng túi và không có hình
dạng túi) tại khoản này được quy định cụ thể như sau:
a) Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa bao gồm:
a1) Bao bì đóng gói sẵn hàng hoá nhập khẩu.
a2) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất hoặc nhập khẩu
để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công
ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói.
Ví dụ 1: Doanh nghiệp A tự sản xuất hoặc nhập khẩu 100 kg bao bì (túi
ni lông) để đóng gói sản phẩm giầy (sản phẩm giầy do doanh nghiệp A sản
xuất, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói) thì 100 kg
bao bì nêu trên không thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường.
Bao bì mà người sản xuất hoặc người nhập khẩu đã có cam kết hoặc
khai báo tại khâu nhập khẩu để đóng gói sản phẩm, nhưng sau đó không sử
dụng để đóng gói sản phẩm mà đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng
cho thì người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì phải kê khai, nộp thuế
bảo vệ môi trường và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Ví dụ 2: Doanh nghiệp A tự sản xuất hoặc nhập khẩu 100 kg bao bì (túi
ni lông), doanh nghiệp A đã có cam kết hoặc khai báo tại khâu nhập khẩu để
đóng gói sản phẩm giầy (sản phẩm giầy do doanh nghiệp A sản xuất, gia công
ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói), nếu doanh nghiệp A chỉ
sử dụng 20 kg bao bì để đóng gói sản phẩm giầy và đã sử dụng 30kg bao bì
để trao đổi, 40kg bao bì để tiêu dùng nội bộ, 10kg bao bì để tặng cho thì
doanh nghiệp A phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với 80 kg bao
Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Lương Thị Bích Việt 19 K18 - Quản lý môi trường
bì đã sử dụng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho và bị xử lý theo quy định
của pháp luật về quản lý thuế.
a3) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua trực tiếp của người
sản xuất hoặc người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình,

hàng và 50 kg túi ni lông để đóng gói sản phẩm (sản phẩm do Siêu thị A hoặc
cửa hàng B sản xuất, gia công ra hoặc mua về đóng gói hoặc làm dịch vụ
đóng gói) thì 50 kg túi ni lông để đựng hàng hoá trong trường hợp này không
phải là bao bì đóng gói sẵn hàng hoá.
b) Bao bì sản xuất hoặc nhập khẩu được xác định là bao bì đóng gói sẵn
hàng hoá quy định tại tiết a2 và a3 điểm a khoản này phải có các giấy tờ sau:
b1) Đối với bao bì do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất (gọi tắt
là người sản xuất bao bì):
- Trường hợp bao bì để đóng gói sản phẩm do người sản xuất bao bì đó
sản xuất hoặc gia công ra thì người sản xuất bao bì phải có Bản chính văn bản
cam kết có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người sản xuất bao bì và
đóng dấu (nếu người sản xuất bao bì là pháp nhân) về việc tự sản xuất bao bì
để đóng gói sản phẩm gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi sản xuất bao bì
(trong văn bản cam kết nêu rõ số lượng bao bì sản xuất, số lượng sản phẩm dự
kiến sản xuất hoặc gia công ra, số lượng sản phẩm cần đóng gói và số lượng
bao bì sử dụng để đóng gói sản phẩm).
- Trường hợp bao bì để đóng gói sản phẩm do người sản xuất bao bì
mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói thì ngoài Bản chính
văn bản cam kết có chữ ký của đại diện theo pháp luật của người sản xuất bao

Trích đoạn Thói quen sử dụng túi nilon của người dân Sự hiểu biết về vấn đề môi trường và tác hại của túi nilon của người dân. Mức sẵn lòng của người dân tham gia vào biện pháp, chính sách giảm Hình thức của túi nylon và số tiền mà người dân chịu chi trả cho 1 tú
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status