đánh giá việc chấp hành luật bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên lưu vực sông sài gòn đềxuất giải pháp - Pdf 25

TỔNG CỤC CẢNH SÁT NHÂN DÂN
CỤC CẢNH SÁT MÔI TRƯỜNG

CHUYÊN ĐỀ
ĐÁNH GIÁ VIỆC CHẤP HÀNH LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP, CƠ SỞ SẢN
XUẤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Thực hiện: Cục Cảnh sát môi trường
Người đại diện: Đại tá Phan Hữu Vinh
Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2008

2

TỔNG CỤC CẢNH SÁT NHÂN DÂN
CỤC CẢNH SÁT MÔI TRƯỜNG
CÓ KHẢ NĂNG VI PHẠM LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Chương 2 36
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH CHẤP HÀNH LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP, CƠ SỞ SÀN XUẤT
TRÊN LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN. CÔNG TÁC PHÁT HIỆN,
X
Ử LÝ VI PHẠM CỦA CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG QUẢN LÝ
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (từ năm 2007 đến 6 tháng đầu năm 2008)
Chương 3 46
MỘT SỐ GIẢI PHÁP MANG TÍNH PHÁP LÝ VÀ KHẢ THI NHẰM
TĂNG CƯỜNG VIỆC CHẤP HÀNH LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP, CƠ SỞ SẢN XUẤT TRÊN LƯU VỰC,
BẢO ĐẢM AN TOÀN CHO NGUỒN NƯỚC SÔNG SÀI GÒN
KẾT LUẬN 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢ
O 52
4
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của chuyên đề:
Sông Sài Gòn có một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội
của các địa phương trong lưu vực là tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và thành phố
Hồ Chí Minh. Là tuyến vận chuyển đường thủy; là nguồn cung cấp nước phục
vụ nhu cầu sản xuất công nghiệp, tưới tiêu nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và
là nguồn cung cấp nước sinh hoạt quan trọng cho thành phố
Hồ Chí Minh nói
riêng và các tỉnh Miền Đông Nam Bộ nói chung.

2. Nhiệm vụ và mục đích của việc nghiên cứu chuyên đề:
Nhiệm vụ của chuyên đề
:
+ Điều tra, khảo sát hoạt động của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên
lưu vực sông Sài Gòn có khả năng vi phạm Luật Bảo vệ môi trường;
+ Khảo sát, đánh giá đúng thực tế hiện trạng chấp hành Luật Bảo vệ môi
trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên lưu vực sông Saigon. Nêu rõ
những thủ đoạn, hành vi vi phạm pháp luật và những nguyên nhân, đ
iều kiện của
tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ môi trường.
+ Nghiên cứu kết quả hoạt động thực tiễn của công tác thanh tra, kiểm tra,
điều tra, xử lý đối với những vi phạm Luật Bảo vệ môi trường của lực lượng
thanh tra chuyên ngành của Sở Tài nguyên & Môi trường và lực lượng Cảnh sát
môi trường của các địa phương trên lưu vực sông Saigon;
+ Vạch rõ những khó khăn, tồ
n tại, yếu kém làm hạn chế kết quả hoạt
động thực tiễn của công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, xử lý trong thời gian
qua. Tìm ra nguyên nhân của tình hình này.

6
+ Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng vi phạm
pháp luật, tăng cường việc chấp hành Luật Bảo vệ môi trường của các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất trên lưu vực sông Saigon.
Nhằm:
+ Tạo sự chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng của công tác bảo vệ
nguồn nước sông Sài Gòn, nâng cao ý thức tự giác chấ
p hành Luật Bảo vệ môi
trường của các chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất;
+ Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh chống các hành vi
vi phạm Luật Bảo vệ môi trường của các cơ quan chức năng;

sở sản xuất trên lưu vực sông Sài Gòn.
+ Thực trạng hoạt động công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, xử lý vi
phạm Luật Bảo vệ môi trường của các cơ quan chức năng (thanh tra chuyên
ngành tài nguyên & môi trường, cảnh sát môi trường).
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề:
Chuyên đề nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến việc chấp hành Luật
Bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên lưu vực sông Sài
Gòn, tại ba địa phương: Tây Ninh, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh,
trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến 4 tháng
đầu năm 2008.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Chuyên đề được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng, hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường và các tài liệu khác có
liên quan đến bảo vệ môi trường nước sông Sài Gòn.

8
Quá trình thực hiện chuyên đề, còn sử dụng các phương pháp khảo sát,
phân tích, tổng hợp, so sánh.
6. Cấu trúc của chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề
được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Điều tra, khảo sát hoạt động của các doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất trên lưu vực sông Sài Gòn, có khả năng vi phạm Luật Bảo vệ môi trường.
Ch
ương 2: Thực trạng tình hình chấp hành Luật Bảo vệ môi trường của
các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên lưu vực sông Saigon và công tác phát hiện,
xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng quản lý và bảo vệ môi trường (từ năm
2007 đến 4 tháng đầu năm 2008).
Chương 3: Một số giải pháp mang tính pháp lý và khả thi nhằm tăng

Tỉnh Tây Ninh thuộc miền Đông Nam Bộ. Phía Tây và Tây Bắc giáp
Vương quốc Campuchia, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, phía
Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Tây Ninh là một trong
những cửa ngõ giao lưu quốc tế đường bộ quan trọng giữa Việt Nam với các
nước láng giềng Campuchia, Thái Lan… Và là tỉnh có vị trí quan trọng trong
mối giao lưu trao đổi hàng hoá gi
ữa các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các
tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tây Ninh có diện tích tự nhiên 4.035,45km
2
, dân số trung bình: 1.047.101
người (năm 2006), mật độ dân số: 259,48 người/km
2
.
Nhân dân của tỉnh phần đông sống bằng sản xuất nông nghiệp. Nhưng cơ
cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng ngành dịch vụ phát triển ngày càng tăng.
Thể hiện qua biểu đồ sau:

10
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
1976 2002 2003 2004 2005 2006 2007

Cụm công nghiệp Thanh Điền, diện tích 50,16 ha, xã Thanh Điền, huyện Châu
Thành; Cụm công nghiệp Trường Hòa, diện tích 96 ha, xã Trường Hòa, huyện
Hòa Thành; Cụm công nghiệp Thạnh Tân, diện tích 50,79 ha, xã Thạnh Tân –
Thị xã Tây Ninh), với các ngành công nghiệp nhẹ (dệt may, da giày, chế biến
thực phẩm, chế biến nông sản, thứ
c ăn gia súc, điện tử, dược phẩm, hóa mỹ
phẩm…).
Các nguồn nước thải công nghiệp chủ yếu phát sinh từ hoạt động chế biến
nông sản (khoai mì, mía) và cao su. Với 251 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chế
biến tinh bột khoai mì, mủ cao su, hạt điều, đường, sản xuất gạch, thép, khai thác
đá, sản xuất nước khoáng và ciment, một ngày thải ra hàng ngàn tấn chất thải và
nước thả
i công nghiệp, thực sự là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Các nguồn thải này có lưu lượng lớn và mức độ ô nhiễm cao. Đa số các nguồn
thải này chưa được các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất xử lý triệt để do chi phí
cao.
Theo quyết định số 64/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 22/4/2003,
Tây Ninh có 05 nhà máy sản xuất đường, tinh bột mì, chế biến điều; các cụm cơ
s
ở chế biến khoai mì tại thị xã, các huyện Tân Châu, Hòa Thành, Dương Minh
Châu, Châu Thành và các cơ sở sản xuất gạch xây dựng dọc tuyến quốc lộ 22B
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cần xử lý triệt để trong giai đoạn đến năm
2007. (Xem Phụ lục 1)
Vấn đề xử lý nước thải sinh hoạt đô thị và khu công nghiệp, đặc biệt là xử
lý nước thải của các nhà máy chế biến nông sản th
ực phẩm, cao su và thu gom,

12
xử lý chất thải rắn đô thị đang là những tồn tại về môi trường mà Tây Ninh cần
phải giải quyết.

nước còn lại các thị trấn vẫn tự khai thác nước ngầm sử dụng. Mạng lưới thoát
nước đô thị bị chấp vá giữa cũ và mới, chưa có hệ thống xử lý nước thả
i riêng
với nước mưa.
Đặc biệt tại các khu nhà trọ công nhân (có 14.512 hộ kinh doanh nhà trọ
với 120.496 phòng cho thuê), phần lớn xây dựng tạm bợ, không đảm bảo yêu cầu
về thoát nước, vệ sinh và môi trường.
Tỉ lệ các hộ gia đình đổ rác sinh hoạt và xả nước thải trực tiếp ra kênh rạch
vẫn còn khá cao.
- Ô nhiễm công nghiệp: Nước thải của các nhà máy chưa được xử lý triệt
để, thải ra môi trường làm
ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nước ngầm, trong
đó đáng lo ngại là nước thải ở những nhà máy chế biến mủ cao su, giấy, bột giấy,
sản xuất hoá chất, dệt nhuộm, xi mạ, sơn, hoá mỹ phẩm, gốm sứ, thép…
Việc quản lý môi trường đối với các cơ sở sản xuất nằm ngoài khu công
nghiệp, cụm công nghiệp, xen lẫn trong khu dân cư, còn gặp nhiều khó kh
ăn.
- Một số thủy vực bị ô nhiễm nghiêm trọng: khu vực kênh Ba Bò, suối
Bưng Cù, khu vực rạch Chòm Sao, khu vực Suối Cát và rạch Cầu Trắng.
- Các bãi rác Hiệp Thành và Phú Chánh, không đảm bảo vệ sinh, chưa xử
lý khống chế ô nhiễm.
- Ô nhiễm không khí do bụi phát sinh từ do quá trình khai thác khoáng
sản, quá trình xây dựng và giao thông vận tải, tập trung nhiều tại khu Bình
Đường, Bình An, Tân Đông Hiệp, Sóng Thần, huyện Dĩ An và Tân Uyên.

14
- Toàn tỉnh có 14 bệnh viện, cơ sở y tế. Nhưng chỉ có 01 bệnh viện tư
nhân mới xây dựng tại KCN Mỹ Phước 2 có hệ thống xử lý nước thải, còn lại
đều đã bị hư và không còn tác dụng. Đặc biệt tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình
Dương hệ thống xử lý nước thải và chất rắn bị hư từ lâu nhưng chưa được s

sở sản xuất có dấu hiệu gia tăng, gây ô nhiễm
nguồn nước mặt. Một số kênh thủy lợi (kênh Thầy Cai, An Hạ; kênh thủy lợi
Hóc Môn – Bắc Bình Chánh) đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do việc xả nước thải

15
chưa qua xử lý của một số doanh nghiệp trong các khu công nghiệp Tân Phú
Trung, Lê Minh Xuân và các doanh nghiệp nằm dọc kênh gây ra.
Toàn thành phố có 69 bệnh viện và hàng vạn cơ sở y tế, phòng khám chữa
bệnh tư nhân.
Mỗi ngày, hệ thống kênh rạch và sông Sài Gòn phải gánh trên 1 triệu m3
nước thải sinh hoạt, gần 400.000 m3 nước thải công nghiệp; 17.000-20.000m3
nước thải y tế; 4.000 – 5.000 tấn rác thải sinh hoạt và 7 tấn rác y tế. Lượng nước
thải chưa qua xử
lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn, hầu hết thải trực tiếp vào hệ
thống tiếp nhận nước thải sinh hoạt và được đưa vào nguồn nước mặt lưu vực
sông, gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nguy cơ lan truyền dịch bệnh qua môi
trường nước.
Tất cả các dòng kênh của thành phố đều bị ô nhiễm nặng như kênh Tham
Lương – Bến Cát – Vàm Thuật; Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè; kênh Tân Hóa –
Lò G
ốm; kênh Tàu Hũ – Kênh Đôi; Kênh Tẻ – Kênh Bến Nghé.
Do thành phố Hồ Chí Minh nằm ở khu vực hạ lưu nên phải tiếp nhận cả
một lượng lớn chất thải từ các khu công nghiệp cũng như chất thải sinh hoạt của
phía thượng lưu như Tây Ninh, Bình Dương. Tổng lượng thải ra lưu vực sông
Sài Gòn lớn làm gia tăng mức độ ô nhiễm dòng sông.
Sông Sài Gòn còn có thể bị ô nhiễm do nước rỉ rác, do công ngh
ệ xử lý rác
còn lạc hậu. Việc xử lý triệt để rác thải, khoảng hơn 7.000 tấn/ngày, bảo đảm vệ
sinh môi trường là một thách thức lớn đối với thành phố.
Do lượng nước ngầm khai thác ngày càng tăng làm mực nước ngầm bị hạ

Tây Ninh Nâng cấp hệ
thống xử lý
nước thải
2 Nhà máy Đường 2.500 tấn/ngày thuộc
Công ty Mía đường Biên Hòa

Tây Ninh Nâng cấp hệ
thống xử lý
nước thải

17
3 Nhà máy Mì Thái Lan (TAPIOCA)

Tây Ninh Xử lý chống
thấm nước thải
tại ao sinh học
4 Nhà máy Sản xuất tinh bột mì Tân Châu
- Singapor

Huyện Tân
Châu – Tây
Ninh
Xử lý chống
thấm nước thải
tại ao sinh học
5 Nhà máy Chế biến hạt điều Tân Biên

Huyện Tân
Biên – Tây
Ninh

thống xử lý
nước thải
11 Công ty Dệt kim Đông Phương TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
nước thải
12 Công ty Dệt Thắng Lợi TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
nước thải
13 Công ty Dệt Thành Công TP. HCM Xây dựng hệ

18
thống xử lý
nước thải
14 Công ty Dệt Đông Nam TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
nước thải
15 Công ty May nhuộm dệt len Việt Phó TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
nước thải
16 Công ty Giấy Viễn Đông TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
chất thải
17 Công ty Giấy Vĩnh Huê TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
chất thải
18 Công ty Giấy Linh Xuân TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
chất thải
19 Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý

29 Nhà máy Lưới thép Tân Thuận TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
chất thải
30 Công ty Đúc số 1 TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
chất thải
31 Công ty Tôn Phương Nam TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
chất thải
32 Xí nghiệp Da Bình Lợi TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
chất thải
33 Công ty Liên doanh Maruviena TP. HCM Xử lý khí thải
và nước thải
34 Công ty trách nhiệm hữu hạn Việt Thắng
- Jean
TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
nước thải
35 Công ty trách nhiệm hữu hạn Kiên
Giang
TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
nước thải
36 Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhuộm
Đông Anh
TP. HCM Xây dựng hệ
thống xử lý
nước thải và
khí thải

hệ thống xử lý
chất thải
46 Bãi rác xã Phú Chánh (1.620.000m2) Tân Uyên –
Bình Dương

47 Bãi rác cũ Hiệp Thành

Hiệp Thành –
Bình Dương 21
1.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước sông Sài Gòn:
Theo báo cáo tổng hợp kết quả phân tích mẫu bổ sung và quan trắc định
kỳ do Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh thực hiện cho thấy
chất lượng nguồn nước mặt sông Sài Gòn đã bị ô nhiễm. Đặc biệt, sự gia tăng ô
nhiễm trong các năm gần đây thật sự đáng lo ngại.
Về mức độ
ô nhiễm, đánh giá diễn biến nồng độ các chất ô nhiễm tại
trạm quan trắc Phú Cường kể từ năm 2000 đến năm 2007 cho thấy :
- Coliform (Biểu thị số vi trùng Coliform có trong một đơn vị thể tích
nước. Chỉ tiêu này biểu thị mức độ ô nhiễm vi trùng gây bệnh đường ruột trong
nguồn nước) tăng lên 47,01 lần.
- Nồng độ TSS (Chất rắn lơ lửng (SS) hoặ
c tổng số chất rắn lơ lửng (TSS:
total suspended solid) là một phần của chất rắn có trong nước ở dạng không hòa
tan. Hàm lượng TSS trong nước sẽ cho biết hàm lượng sét, mùn và những phần

- Nồng độ DO: nồng độ DO giảm xuống 2,05 lần.
- pH: giá trị pH thấp hơn tiêu chuẩn từ 1,02 – 1,09 lần.
- Mn: có 07/20 vị trí khảo sát có giá trị vượt tiêu chuẩn TCVN 5942 –
1995, loại A từ 1,04 – 2,97 lần.
Chất lượng nước trong các kênh rạch sau có mức độ ô nhiễm cao cần phải
có biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt là :
- Rạch Sơn
- Sông Thị Tính
- Rạ
ch Bến Nẩy
- Rạch Tra.
- Rạch Bà Hồng.
- Sông Vàm Thuật
Về nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước trên sông Sài Gòn, đặc biệt
làm ảnh hưởng đến chất lượng nước tại trạm bơm nước thô Hòa Phú, là nước

23
thải từ hoạt động công nghiệp của các cơ sở sản xuất và nước thải sinh hoạt của
dân cư sống trên lưu vực, cụ thể:
- Rạch Bà Bếp, cách Hòa Phú khoảng 1 km về phía Nam, nồng độ các chất
ô nhiễm cao cùng với lưu lượng đổ vào sông Sài Gòn khá lớn nên tải lượng các
chất ô nhiễm lớn. Nguồn gây ô nhiễm BOD5, Amoniac, Coliform chủ yếu là từ
nước thải sinh hoạt củ
a dân cư sống trên lưu vực. Nước thải từ hoạt động công
nghiệp của Cụm công nghiệp Tân Quy với tổng lưu lượng nước thải 1.722
m
3
/ngày. Nhưng Cụm công nghiệp này chưa có trạm xử lý nước thải tập trung là
nguyên nhân gây ô nhiễm COD, TOC, Mn trên lưu vực. Theo tính toán của Chi
cục Bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, trong điều kiện cơ sở sản xuất

/ngày đêm. Do rạch tiếp nhận nước thải từ các doanh nghiệp, một
số cơ sở chăn nuôi và nước thải sinh hoạt của dân cư trên địa bàn Hóc Môn nên
một số chỉ tiêu quan trắc khá cao là Coliform, COD, Amoniac và đặc biệt là Mn.
1.3 Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên lưu vực sông Sài Gòn có khả năng
gây ô nhiễm môi trường:
Theo kết quả khảo sát bước đầu, chưa đầy đủ, của Phòng Cảnh sát môi
trườ
ng các địa phương, tại Tây Ninh có 109 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất; tại
Bình Dương có 56 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và tại thành phố Hồ Chí Minh
có 33 doanh nghiệp cơ sở sản xuất có khả năng gây ô nhiễm môi trường lưu vực
sông Sài Gòn, do không có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng không vận
hành hoặc không tuân thủ quy trình vận hành dẫn đến nước thải qua xử lý vẫn
vượt quá tiêu chu
ẩn bảo vệ môi trường. (Xem phụ lục 2)
Phụ lục 2
DANH SÁCH DOANH NGHIỆP THẢI NƯỚC THẢI VÀO
LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN – TỈNH BÌNH DƯƠNG

STT TÊN DOANH NGHIỆP ĐỊA CHỈ
01 Cty TNHH khóa kéo Hoàn Mỹ 60/3 Đại lộ Bình Dương,
xã Vĩnh Phú, huyện Thuận
An

25
02 Cty TNHH Công nghiệp may mặc
Lucretia Việt Nam
11 ấp Đông, xã Vĩnh Phú,
huyện Thuận An
03 Cty TNHH may mặc quốc tế Việt Hsing ấp Bình Quới, xã Bình
Chuẩn, huyện Thuận An

huyện Thuận An
16 Cty TNHH Kim Huy ấp Bình Quới, xã Bình
Chuẩn, huyện Thuận An
17 Cty TNHH Quảng Thăng ấp Bình Quới, xã Bình
Chuẩn, huyện Thuận An
18 Cty TNHH chế biến gỗ Đông Tham ấp Bình Phước B, xã Bình
Chuẩn, huyện Thuận An
19 Cty TNHH Golden Friends ấp Bình Phước B, xã Bình
Chuẩn, huyện Thuận An

Trích đoạn HUYỆN TRẢNG BÀNG Khu công nghiệp Việt Hương dù đã có hệ thống xử lý nước thải nhưng quá trình vận hành không tốt, nhiều lúc xả nước thải chưa xử lý đạt tiêu chuẩn ra Đánh gía, nhận xét về việc chấp hành Luật Bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên lưu vực sông Saigon:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status