ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀
NÔ
̣
I
TRƢƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƢ
̣
NHIÊN
NGUYỄN THỊ CHUNG
1.1. Khái quát về vấn đề đô thị hóa…………………………………………………
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.2. Vai trò của đô thị và đô thị hóa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3. Các hình thái biểu hiện mức độ đô thị hóa
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa
1.1.5. Thực tiễn đô thị hóa ở Việt Nam
1.2. Ứng dụng GIS trong nghiên cứu biến động đất do quá trình đô thị hóa
1.2.1. Tổng quan về hệ thống thông tin địa lý
1.2.2. Khái quát về bản đồ hiện trạng sử dụng đất
1.3.1. Vị trí địa lý……
1.3.3. Khí hậu………
1.3.5. Tài nguyên đất ở địa bàn nghiên cứu.
Chƣơng 2 - ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2. Phương pháp công nghệ số thành lập bản đồ biến động sử dụng đất
2.3.3. Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa 31
2.3.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu……………………….
Chƣơng 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tình hình đô thị hóa ở TP. Vinh giai đoạn 2000 - 2010
3.2. Ảnh hƣởng của đô thị hóa đến đất nông nghiệp TP. Vinh giai đoạn 2000 -
2010………
3.2.1. Tình hình chung về biến động sử dụng đất của TP. Vinh
3.2.2. Biến động đất sản xuất nông nghiệp TP. Vinh giai đoạn 2000 - 2005………
3.2.3. Biến động đất sản xuất nông nghiệp TP. Vinh giai đoạn 2005 - 2010
3.2.4. Biến động giá trị sản xuất nông nghiệp của TP. Vinh
3.3. Ảnh hƣởng của đô thị hóa đến kinh tế - xã hội TP. Vinh
3.3.1. Ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Vai trò và tác động tích cực của quá trình đô thị hóa………………… 6
Hình 1.2. Địa giới hành chính TP. Vinh………… ………… … ………….… 22
Hình 2.1. Quy trình thành lập bản đồ biến động sử dụng đất bằng phương pháp so sánh sau
phân loại 29
Hình 2.1. Quy trình thành lập bản đồ biến động sử dụng đất TP. Vinh giai đoạn 2000 -
2005…………………… 30
Hình 3.1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất TP. Vinh năm 2000………………… 38
3
Hình 3.2. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất TP. Vinh năm 2005……………… … 40
Hình 3.3. Bản đồ biến động sử dụng đất TP. Vinh giai đoạn 2000 - 2005… …43
Hình 3.4. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất TP. Vinh năm 2010…….……… …… 47 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Cơ cấu các loại hình sử dụng đất TP. Vinh giai đoạn 2000 – 2010 37
Biểu đồ 3.2. Diện tích các loại đất sản xuất nông nghiệp TP. Vinh năm 2000.… 39
Biểu đồ 3.3. Diện tích các loại đất sản xuất nông nghiệp TP. Vinh năm 2005 41
Biểu đồ 3.4. Diện tích các loại đất sản xuất nông nghiệp TP. Vinh năm 2010… 46
Biểu đồ 3.5. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp TP. Vinh giai đoạn 2008 -
2010……………………………………………………………………………… 50
Biểu đồ 3.6. Số lao động trong các ngành kinh tế TP. Vinh giai đoạn 2008 -
2010………………………………………………………………………………58
Biểu đồ 3.7. Thu nhập bình quân người /năm của TP. Vinh……….………… 59
Biểu đồ 3.8. Cơ cấu các loại hình sử dụng đất TP. Vinh năm 2020……….… ….68
Bảng 3.18. Thời gian làm việc của lao động trong các nhóm điều tra trước và sau khi thu
hồi đất…………………………………………………………………… 62
Bảng 4.19. Dự kiến cơ cấu kinh tế TP. Vinh đến năm 2020……… …………… 65
Bảng 3.20. Dự kiến diện tích đất, dân số của TP. Vinh đến năm 2020……… ….67
Bảng 3.21. Kế hoạch chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp…… 68
Bảng 3.22. Dự báo diện tích các loại đất sản xuất nông nghiệp TP. Vinh đến năm
20120……………………………………………………… …………………… 68
Bảng 3.23. Các chỉ tiêu sử dụng đất của TP. Vinh đến năm 2020…… ……… 69
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT
Bộ Tài nguyên và Môi trường
CEC
Dung tích trao đổi cation
CNH - HĐH
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
GDP
Tổng sản phẩm quốc dân
GTGT
Giá trị gia tăng
HĐBT
Hội đồng Bộ trưởng
KCN
Khu công nghiệp
NĐ - CP
Nghị định - Chính phủ
NQ/BCT PHỤ LỤC
PHIẾU ĐIỀU TRA CÁC NHÓM HỘ NÔNG DÂN
THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN
I. Tình hình chung của hộ
1. Chủ hộ: Tuổi: Trình độ:
Nhóm hộ: 1. Hộ còn nguyên đất NN
2. Hộ còn một phần đất NN
3. Hộ hoàn toàn mất đất NN
2.Địa chỉ:
3. Số nhân khẩu hiện nay trong gia đình: Nam: Nữ:
4. Số người trong độ tuổi lao động hiện nay: Nam: Nữ:
5. Số LĐ làm nông nghiệp: Nam: Nữ:
6. Số lao động phi nông nghiệp Nam: Nữ:
7. Số trẻ em sống trong hộ: Nam: Nữ:
II. Tình hình đất của các hộ
Đơn vị: ha
Chỉ tiêu
Diện tích trước
thu hồi
Diện tích sau khi bị
thu hồi
Diên tích còn lại
Tổng diện tích
Năm 2009
Năm 2010
Tổng chi
1000đ
1. Chi phí vật chất
1000đ
Đạm
1000đ
Lân
1000đ
Kali
1000đ
Phân hữu cơ
1000đ
Tổng thu
1000đ
IV. Tình hình sản xuất chăn nuôi và kinh doanh dịch vụ
Đơn vị: 1000đ
Chỉ tiêu
2008
2009
2010
I. Sản xuất chăn nuôi
* Tổng chi
- Giống
- Thức ăn
TỔNG THU (I+II+III)
V. Thời gian làm việc của lao động trong hộ điều tra
Chỉ tiêu
ĐVT
Trước thu hồi đất
Sau thu hồi đất
Tổng số lao động
Người 1. Lao động có việc làm
Người - 12 tháng
Người - 11 tháng
Người - 10 tháng
Người
- 10 tháng
Người - 9 tháng
Người - 8 tháng
Người - 7 tháng
Người - 6 tháng
Người
VI. Một số câu hỏi liên quan đến vấn đề đô thị hoá
1. Gia đình thấy chính sách đền bù đất nông nghiệp của Nhà nước có thoả đáng không?
Có Không
- Nếu không, lý do tại sao?
2. Số tiền đền bù khi mất đất nông nghiệp, gia đình sử dụng như thế nào?
Chỉ tiêu
3. Khi mất đất nông nghiệp, khả năng tìm việc làm của lao động trong gia đình có khó
khăn không?
Có Không
- Nếu khó khăn là do nguyên nhân nào dưới đây
Việc làm không phù hợp Việc làm không ổn định
Việc làm có thu nhập thấp Chi phí tìm việc lớn
4. Quá trình đô thị hoá diễn ra, gia đình thấy:
- Điều kiện giao thông Tiện hơn Không tiện hơn
- Mua bán vật tư nông nghiệp Tiện hơn Không tiện hơn
- Điện cung cấp Ổn định Không ổn định
5. Từ khi có chính sách đô thị hoá ở địa phương, thu nhập gia đình có cao hơn khi chưa có
chính sách không?
Có Không
- Lý do tại sao?
6. Lao động trong gia đình có ai bị thất nghiệp không?
Có Không
- Lý do tại sao?
7. Việc làm của các lao động trong gia đình ông (bà) có được các Công ty đào tạo không?
Có Không
8. Theo ông (bà), vấn đề đô thị hoá có ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và các vấn đề
xã hội khác ở địa phương bạn không?
Có Không
Vì sao?
Xin chân thành cảm ơn ông (bà) đã trả lời phỏng vấn
Ngƣời phỏng vấn
8
động sử dụng đất của TP. Vinh, tỉnh Nghệ An. Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự thay
đổi mục đích sử dụng của các loại đất khác nhau và xu hướng mất đất nông nghiệp theo
thời gian.
Công cụ GIS đã được nhiều nước trên thế giới và nước ta ứng dụng trong công tác
quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung và trong công tác quản lý đất đai nói riêng. Ưu
điểm của phương pháp là thời gian làm việc ngoài thực địa ít hơn, cho kết quả có độ chính
9
xác cao và thời gian hoàn thành công việc ngắn hơn. Để đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa
đến sản xuất nông nghiệp cũng như xu hướng mất đất nông nghiệp theo thời gian ở khu vực
ven đô TP. Vinh, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của đô thị hóa đến sản
xuất nông nghiệp khu vực ven đô thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”. CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành
thị. Việc xác định quy mô dân cư tối thiểu phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của
từng quốc gia và tỷ lệ phần trăm lao động phi nông nghiệp của một đô thị.
Tại Việt Nam, theo phân cấp quản lý, đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập.
Quyết định số 132/QĐ - HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) cũng đã quy định đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau:
- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định.
- Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn).
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 60 % tổng số lao động, là nơi có sản xuất và
dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển.
- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật các công trình công cộng phục vụ dân cư thành thị.
- Mật độ dân cư được xác định tuỳ theo từng loại đô thị và phù hợp với đặc điểm
từng vùng.
Như vậy, đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi
nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai
trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của vùng lãnh thổ gồm nhiều tỉnh,
một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong huyện. Các đô thị được coi là trung tâm tổng hợp
khi chúng có vai trò chức năng nhiều mặt về hành chính, kinh tế, chính trị, an ninh – quốc
11
phòng, văn hóa, xã hội; các đô thị được coi là trung tâm chuyên ngành nếu có một chức
năng nào đó nổi trội hơn so với các chức năng khác và giữ vai trò quyết định tính chất của
đô thị đó như đô thị công nghiệp, đô thị cảng, đô thị du lịch, đô thị đầu mối giao thông
Việc xác định một đô thị là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành phải căn cứ vào vị trí
của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định.
b. Khái niệm về đô thị hóa
Có nhiều quan điểm về khái niệm đô thị hóa:
Trên quan điểm một vùng: đô thị hóa là một quá trình hình thành, phát triển các
Hình 1.1. Vai trò và tác động tích cực của quá trình đô thị hóa
- Các đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân, tích lũy của cải
nền kinh tế và nguồn thu cho ngân sách quốc gia.
- Với quy mô sản xuất, diện tích, dân số lớn và không ngừng gia tăng, sự tập trung
lớn các năng lực sản xuất, các đô thị cũng có khả năng cung cấp một khối lượng đáng kể
các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ với chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu trong nước và
xuất khẩu.
- Các đô thị lớn thực sự là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ
thuật, thương mại của các vùng và cả nước, là những “đầu tàu” trong nhiều lĩnh vực, đặc
biệt là hợp tác và giao lưu quốc tế.
- Các đô thị có ưu thế về nhân lực được đào tạo chất lượng cao, có khả năng nhanh
Nâng cao phúc
lợi xã hội cho
các vùng
Mở rộng quy mô phát triển
các ngành dịch vụ đáp ứng
nhu cầu sản xuất và đời sống
Nâng cao trình độ
của lao động công
nghiệp
13
từng bước đảm bảo sự tiếp cận nhanh chóng, kịp thời các nguồn thông tin, đặc biệt là
thông tin kinh tế, thông tin về thị trường
- Sự phát triển của các đô thị góp phần nâng cao năng suất và chất lượng lao động
cho toàn bộ nền kinh tế.
- Với lợi thế về lực lượng và tiềm lực khoa học kỹ thuật góp phần từng bước nâng
cao chất lượng nguồn lao động cho nền kinh tế.
- Sự phát triển của các đô thị cũng được đánh giá là tạo điều kiện để bổ sung nguồn
vốn đầu tư cho sự phát triển của các vùng nông thôn, vùng kém phát triển thông qua việc
cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức từ các thành phố lớn chuyển vốn đầu tư phát triển các cơ
sở sản xuất kinh doanh công nghiệp, du lịch, văn hóa tại các vùng kém phát triển [5].
b. Những mặt hạn chế của quá trình đô thị hóa
Bên cạnh những mặt tích cực, tạo điều kiện thuận lợi đối với sản xuất và đời sống
con người, quá trình đô thị hóa cũng có những mặt hạn chế đó là:
- Mở rộng diện tích đất đô thị và thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. Một bộ phận
nông dân bị mất đất canh tác, mất tư liệu sản xuất chủ yếu, thiếu hoặc mất việc làm, đời
sống gặp nhiều khó khăn.
- Hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị lớn, thậm chí cực lớn, gây mất
cân đối trong sự phân bố dân cư. Những hộ nông dân bị thu hồi đất do phát triển công
nghiệp và xây dựng các công trình công cộng di cư từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm.
tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa học kỹ thuật, công nghệ ngày càng tăng cường, hiệu
quả kinh tế ngày càng được cải thiện và nâng cao. Đô thị hóa theo chiều sâu là quá trình
thường xuyên và là yêu cầu tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển. Quá trình đó
đòi hỏi các nhà quản lý đô thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên
vận động và phải biết điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có
hiệu quả trên cơ sở hiện đại hóa trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội đô thị [5].
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa
- Nhân tố tự nhiên: trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh thì đô thị hóa phụ
thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Những vùng có khí hậu thời tiết tốt, có nhiều
khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác sẽ thu hút dân cư nhiều hơn và do
đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn và trên quy mô lớn hơn. Ngược lại những vùng khác sẽ đô
thị hóa chậm hơn với quy mô nhỏ hơn. Từ đó dẫn đến sự phát triển không đồng đều hệ
thống đô thị giữa các vùng.
- Nhân tố kinh tế - xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị
tương ứng và do đó quá trình đô thị hóa cũng có đặc trưng riêng của nó. Kinh tế thị trường
đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh. Sự phát triển của lực lượng sản xuất
là điều kiện để công nghiệp hóa và hiện đại hóa, là tiền đề cho đô thị hóa. Quá trình đô thị
hóa ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra với tốc độ cao, biểu hiện cụ thể là mở rộng quy mô
đô thị theo mô hình phát triển từng phần theo một quy hoạch thống nhất. Việc làm ở đô
thị được tăng thêm đáng kể, tuy nhiên tốc độ tăng việc làm còn chưa phù hợp với tốc
độ tăng dân số đô thị. Chất lượng sống của người dân đô thị chưa cao còn rất nhiều vấn
đề của đô thị được đặt ra và chưa có giải pháp hữu hiệu Các nhà quản lý đô thị đang
phải đối đầu với vấn đề quản lý kinh tế - xã hội ở đô thị.
15
- Văn hóa dân tộc: mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và nền văn hóa
đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và hình thái đô
thị nói riêng.
- Trình độ phát triển kinh tế: phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyết định trong
quá trình đô thị hóa. Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính. Để xây dựng, nâng
16
thác tiềm năng của từng đô thị. Hệ thống đô thị được hình thành trên khắp cả nước
với đủ các loại hình: đô thị công nghiệp, đô thị cảng, đô thị hành chính, đô thị du lịch,
đô thị tổng hợp, song quy mô các đô thị còn bé.
Trong điều kiện của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quá trình đô thị hóa diễn ra
chậm chạp, đời sống dân cư đô thị gặp nhiều khó khăn: thiếu điện, thiếu nước, thiếu lương
thực.
- Giai đoạn 1986 đến nay, Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đánh dấu một bước
khởi đầu phát triển quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước được xác lập thay thế cho mô hình kế
hoạch hóa tập trung. Chính sách đổi mới đã tạo điều kiện nhanh chóng giải phóng lực
lượng sản xuất; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được thúc đẩy mạnh mẽ
nhằm nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng, chậm phát
triển. Quá trình đô thị hóa bắt đầu khởi sắc và diễn ra với tốc độ nhanh. Mối quan hệ giữa
phát triển kinh tế và đô thị hóa không còn là mối quan hệ một chiều như trước (sự phát
triển kinh tế dẫn đến đô thị hóa) mà đô thị hóa đã có tác động trở lại quá trình phát triển
kinh tế. Ảnh hưởng tích cực của đô thị hóa đến phát triển kinh tế đã được thể hiện rất rõ
nét.
Năm 1990, cả nước có 461 đô thị, 3 thành phố trực thuộc Trung ương. Đến năm
2002 cả nước đã có 651 đô thị, trong đó có 4 thành phố trực thuộc Trung ương, 82 thành
phố, thị xã trực thuộc tỉnh và 565 thị trấn. Dân số đô thị năm 1990 chỉ khoảng 13 triệu
người, chiếm chưa đến 20 % tổng dân số thì năm 2002 đạt khoảng 20,2 triệu người, chiếm
25,4 % tổng dân số. Tăng dân số đô thị 0,5 triệu người/năm (4,2 %/năm). Ở đồng bằng ven
biển, năm 1990 bình quân khoảng 900 km
2
diện tích tự nhiên có 1 đô thị, đến năm 1998
đạt khoảng 700 km
2
có một đô thị. Ở Trung du và miền núi năm 1990 cứ 1200 km
tranh ác liệt do tác động của quá trình toàn cầu hóa. Nếu như năm 2010 số lao động nông
nghiệp chỉ chiếm 50 % thì mục tiêu đến 2020 phấn đấu hạ mức lao động nông nghiệp thấp
hơn nữa (các nước công nghiệp phát triển hiện nay có tỷ lệ lao động nông nghiệp từ 2 % đến 6
% so với dân số chung). Đồng thời Nhà nước ta còn đề ra mục tiêu cho năm 2020 là công
nghiệp đạt tới 45 %, dịch vụ 42 - 43 % và nông nghiệp khoảng 13 - 14 % của tỷ trọng GDP
trong toàn quốc [18].
1.2. Ứng dụng GIS trong nghiên cứu biến động đất do quá trình đô thị hóa
1.2.1. Tổng quan về hệ thống thông tin địa lý
1.2.1.1 Khái niệm
GIS - Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System ) là một nhánh
của công nghệ thông tin
được hình thành vào những năm 1960 và phát triển rất rộng rãi
trong 10 năm lại đây. GIS ngày nay là công cụ trợ giúp quyết định trong nhiều hoạt động
kinh tế - xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới. GIS có khả năng trợ giúp
các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các cá nhân đánh giá được
hiện trạng của các quá trình, các thực thể tự nhiên, kinh tế - xã hội thông qua các chức
năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền
hình học (bản đồ) nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu đầu vào [11].
Định nghĩa: Hệ thống thông tin địa lý GIS là một tổ chức tổng thể của bốn hợp
phần: phần cứng máy tính, phần mềm, dữ liệu địa lý, người điều hành, mạng thông tin và
quy trình được thiết kế hoạt động một cách có hiệu quả nhằm tiếp nhận, lưu trữ, phân tích
và hiển thị toàn bộ các dạng dữ liệu địa lý. GIS có mục tiêu đầu tiên là xử lý hệ thống dữ
liệu trong môi trường không gian địa lý [12].
1.2.1.2. Các chức năng của GIS
- Cung cấp cơ sở dữ liệu không gian hiện đại để thành lập các bản đồ chuyên đề và
phân tích không gian một cách hiệu quả, công cụ này thực thi các công việc một cách hiệu
quả và nhanh hơn các phương pháp thủ công cũ. Trước công nghệ GIS chỉ có một số ít
18
liệu không gian. Do đó tiếp cận công nghệ GIS sẽ tạo nên một hệ thống quản lý thông tin
số liệu và trợ giúp các quyết định có hiệu quả. Bởi vì đây là hệ thống phần mềm được thiết
kế và cài đặt theo nguyên tắc mô phỏng tư duy con người nhằm giúp con người hiểu thêm
thông tin một cách đa dạng và tốt hơn cho phép đạt được những quyết định đúng đắn.
Hiện nay hầu hết các lĩnh vực chuyên ngành đều quan tâm tới GIS và khai thác nó
19
theo các mục đích khác nhau. Ngành trắc địa và địa chính đang rất quan tâm, chú trọng
việc khai thác và phát triển GIS. Hệ thống thông tin địa lý đã được ứng dụng trong lĩnh vực
trắc địa bản đồ giải quyết các vấn đề như:
- Hệ thống tự động quản lý, lưu trữ, tìm kiếm dữ liệu trắc địa bản đồ với sự trợ giúp
của máy tính. Đặc biệt là có khả năng biến đổi dữ liệu mà không thể thực hiện được bằng
phương pháp thô sơ.
- Khả năng chuẩn hóa ngân hàng dữ liệu để có thể đưa vào các hệ thống xử lý khác
nhau do đó nó phát triển được khả năng khai thác dữ liệu.
- Có khả năng biến đổi dữ liệu để đáp ứng được những bài toán cụ thể cần được giải
quyết.
- Có khả năng cung cấp thông tin mới nhất và chính xác nhất. Những thông tin này
đã được thu thập từ tất cả các dạng thông tin mới nhất để cung cấp cho người sử dụng cùng
với khả năng biến hóa theo thời gian.
Các lĩnh vực sử dụng GIS [12]
- Các nhà địa lý dùng GIS trong nghiên cứu địa hình, vẽ bản đồ, nghiên cứu sinh thái
cảnh quan, biến động địa lý.
- Các nhà địa chất dùng GIS trong nghiên cứu địa chất như sự phân bố các loại đá
trên bề mặt Trái Đất (không gian), các cấu trúc địa chất (đứt gãy), hiển thị địa chất 3 chiều,
thiết lập các lát cắt địa chất, nội suy dị thường địa hóa và khoáng sản và vạch ra các vùng
tiềm năng khoáng sản.
- Các nhà địa chất môi trường dùng GIS trong việc nghiên cứu ô nhiễm, dự báo các
vùng ô nhiễm tiềm năng bằng các chức năng phân tích không gian hoạch định nghiên cứu
dữ liệu biến động môi trường, hiện trạng môi trường. GIS sẽ là công cụ hữu hiệu trong
tàu. Quân sự dùng dữ liệu GIS để tiến hành các biện pháp nhanh nhất đến mục tiêu.
- Các nhà quản lý rừng dùng GIS nghiên cứu hiện trạng rừng, tính sinh khối, nghiên
cứu chỉ số thực vật hoặc định ra vùng nhạy cảm của các giống loài thực vật.
- GIS dùng trong nghiên cứu và đánh giá tài nguyên môi trường của quốc gia.
- GIS được giảng trong các trường đại học như một môn chuyên đề, như là một công
nghệ tin học mới và đơn giản nhất của nó là giúp thể hiện bất kỳ loại bản đồ nào.
- GIS ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các ngành và được tổ chức trong các
hợp phần kiểu trung tâm GIS, trung tâm ứng dụng công nghệ GIS - Viễn Thám.
…
1.2.1.4. Một số ứng dụng của công nghệ GIS tại Việt Nam
Hiện nay, hệ thống thông tin địa lý đã thâm nhập một cách đáng kể vào đa số các
nước trên thế giới. Việt Nam và các nước trong khu vực đã tiếp cận mạnh mẽ với lĩnh vực
công nghệ này.
Ở Việt Nam, một số phần mềm đã được đưa vào sử dụng, phát triển và khai thác như
ILWIS, IDRISI, ARC/INFO, MAPINFO tại nhiều cơ quan (Bộ Tài nguyên và Môi
trường, Cục Đo đạc bản đồ quân đội, Viện Quy hoạch thiết kế nông nghiệp, Viện Tư liệu
địa chất).
Hệ thống GIS đã được đưa vào để thực hiện phân tích, đánh giá, xây dựng bản đồ thích
hợp của đất cho việc canh tác cây trồng, bảo vệ chống xói mòn đất.
21
Năm 1993, viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã bắt đầu sử dụng kỹ thuật GIS
thu thập số liệu, ứng dụng trong công tác quy hoạch và định hướng phát triển nông nghiệp.
Viện Điều tra quy hoạch đất đai, Tổng cục Địa chính (nay là Tổng cục Quản lý đất
đai - Bộ Tài nguyên và Môi trường) xử lý, thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất toàn
quốc, 8 vùng địa lý tự nhiên - kinh tế và 64 tỉnh, thành phố năm 1995, 2000 và 2005.
Viện Điều tra Quy hoạch lâm nghiệp phát triển hệ xử lý ảnh phục vụ cho công tác
quản lý tài nguyên rừng. Sử dụng chương trình đánh giá đất tự động (Automated Land
Evaluation System) để đánh giá phân hạng đất một số mô hình tại tỉnh Tuyên Quang.
Tại viện Tư liệu địa chất đã xây dựng hệ thống thông tin lưu trữ bản đồ và số liệu địa
- Trồng trọt.
- Quy hoạch thủy văn và tưới tiêu.
- Kinh tế nông nghiệp.
- Phân tích khí hậu.
- Mô hình hóa nông nghiệp.
- Chăn nuôi gia súc/gia cầm.
1.2.2. Khái quát về bản đồ hiện trạng sử dụng đất
a. Khái niệm về bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là tài liệu phản ánh thực tế sử dụng đất ở thời điểm
kiểm kê quỹ đất của các đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh (gọi tắt là đơn vị hành chính
các cấp), các vùng kinh tế và toàn quốc phải được lập trên cơ sở bản đồ nền thống nhất
trong cả nước.
b. Phương pháp thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất [14]
Phương pháp thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất được căn cứ vào mục đích,
yêu cầu thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, tỷ lệ bản đồ nền, đặc điểm của đơn vị
hành chính, diện tích và kích thước của các khoanh đất, mức độ đầy đủ, độ chính xác và tin
cậy của các nguồn tài liệu hiện có; điều kiện thời gian, trang thiết bị kỹ thuật công nghệ và
trình độ của lực lượng cán bộ kỹ thuật.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được thành lập bằng một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp đo đạc truyền thống.
- Phương pháp sử dụng ảnh chụp từ máy bay, hoặc vệ tinh có độ phân giải cao đã
được nắn chỉnh thành sản phẩm ảnh trực giao.
- Phương pháp hiệu chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất đã có sẵn của giai đoạn
trước. Phương pháp này chỉ được áp dụng khi: 1) Không có bản đồ địa hình cơ sở và ảnh
chụp từ máy bay, hoặc ảnh chụp từ vệ tinh. 2) Bản đồ hiện trạng sử dụng đất giai đoạn
trước được thành lập trên bản đồ nền theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường khi
số lượng và diện tích các khoanh đất ngoài thực địa đã biến động không quá 25% so với
bản đồ hiện trạng sử dụng đất của giai đoạn trước đó.
1.2.3. Khái quát về bản đồ biến động sử dụng đất
Biến động là sự biến đổi, thay đổi, thay thế trạng thái này bằng một trạng thái khác
rãi. Việc thể hiện sự biến động của số liệu theo không gian địa lý làm tăng giá trị của số
liệu lên rất nhiều. Sự đa dạng về đặc điểm kinh tế xã hội và việc sử dụng đất được đánh giá
rõ hơn ở dưới dạng bản đồ.
Ưu điểm của bản đồ biến động sử dụng đất là thể hiện được rõ sự biến động theo
không gian và theo thời gian. Diện tích biến động được thể hiện rõ ràng trên bản đồ, đồng
thời cho thấy có biến động hay không biến động, hay biến động từ loại đất nào sang loại
đất nào. Nó có thể được kết hợp với nhiều nguồn dữ liệu tham chiếu khác để phục vụ có
hiệu quả cho rất nhiều mục đích khác nhau như quản lý tài nguyên, môi trường, thống kê,
kiểm kê đất đai.
Về cơ bản, bản đồ biến động sử dụng đất được thành lập trên cơ sở hai bản đồ hiện
24
trạng sử dụng đất tại hai thời điểm khác nhau vì vậy độ chính xác của bản đồ này phụ
thuộc vào độ chính xác của các bản đồ hiện trạng sử dụng đất tại hai thời.
1.3. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội địa bàn nghiên cứu [16]
1.3.1. Vị trí địa lý
TP. Vinh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Nghệ An, là một
trong hai đô thị lớn nhất vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên là 104,97 km
2
bao gồm
16 phường và 9 xã. Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 295 km (về phía bắc) và cách
Huế 350 km, Đà Nẵng 472 km; TP. Hồ Chí Minh 1.447 km (về phía nam). Địa giới hành
chính giới hạn như sau:
Hình 1.2. Địa giới hành chính TP. Vinh
- Phía Bắc và phía Đông giáp huyện Nghi Lộc
- Phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên
- Phía Nam giáp Hà Tĩnh
TP. Vinh nằm ở trung độ cả nước trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc -
Nam, giữa 2 TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.