Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
PHẦN1: MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Trong bối cảnh nền kinh tế, khoa học, công nghệ, thông tin ngày càng phát triển
mạnh mẽ, xã hội cần những người có tri thức, chủ động, sáng tạo, năng động, nhạy
bén. Con người có được những phẩm chất đó trước tiên từ quá trình học tập, vì
vậy, trong dạy học cần sử dụng những phương pháp dạy học phát huy được tính
tích cực của học sinh.
Ngoài ra, làm việc hợp tác cũng là một kĩ năng cần phải có trong xã hội hiện
đại. Mà theo nhận định chung thì kĩ năng này của người Việt Nam còn thấp, ví dụ
như khi so sánh với Nhật Bản (mét trong những nước phát triển) “một người Việt
Nam làm việc hơn một người Nhật nhưng ba người Việt Nam lại làm việc không
bằng ba người Nhật”.
Phương pháp dạy học hợp tác là phương pháp dạy học trong đó thông qua làm
việc nhóm học sinh sẽ lĩnh hội được tri thức, giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng
dẫn và điều khiển - đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đồng thời
hình thành, rèn luyện kĩ năng làm việc hợp tác cho học sinh. Phương pháp này đã
được các nhà giáo dục trên thế giới nghiên cứu từ khá lâu và áp dụng nhiều ở các
nước phương tây cho kết quả tốt. Ở Việt Nam, trong vài năm gần đây, phương
pháp dạy học hợp tác cũng được quan tâm song mới chỉ là bước đầu tìm hiểu; số
công trình nghiên cứu về phương pháp này còn Ýt và việc áp dụng trong giảng dạy
cũng rất hạn chế, chưa phát huy được hết tác dụng của nã.
Hơn nữa, hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, có sự kết hợp giữa lí
thuyết và thực nghiệm, đòi hỏi học sinh phải có khả năng tự khám phá, tìm tòi để
chiếm lĩnh tri thức.
Chính vì những lí do nêu trên và với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng
dạy học môn hoá học chúng tôi chọn đề tài “Áp dông phương pháp dạy học hợp
tác theo nhóm nhá trong dạy học hoá học phổ thông
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ ở trên lớp với
nhóm oxi - lớp 10 - ban nâng cao.
VI. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phương pháp tổng hợp, phân tích lí thuyết
về cơ sở lí luận của phương pháp sư phạm tương tác, phương pháp dạy học tích
cực và đặc biệt là phương pháp dạy học hợp tác
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: dự giờ tiết học của giáo viên hoá học có kinh
nghiệm trong đó có sử dụng PPDH hợp tác phối hợp các phương pháp dạy học tích
cực khác.
+ Phương pháp phỏng vấn, phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: tham khảo ý
kiến đóng góp của một số giáo viên có kinh nghiệm
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: trực tiếp dạy học mét sè tiết trong
nhóm oxi có sử dụng phương pháp dạy học hợp tác, phối hợp với các phương pháp
dạy học tích cực khác
VII. dự kiến phần đóng góp mới của đề tài:
- Tổng quan đầy đủ về phương pháp dạy học hợp tác
- Đưa ra nguyên tắc lựa chọn, thiết kế kế hoạch và cách tổ chức dạy học theo
phương pháp dạy học hợp tác đạt hiệu quả cao.
- Thiết kế các hoạt động dạy học theo phương pháp dạy học hợp tác có kết hợp
với các phương pháp dạy học tích cực khác cho mét sè nội dung nhóm oxi - lớp 10
- ban nâng cao.
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
điều chỉnh,tìm ra hướng đi mới cho hoạt động dạy của mình.Như vậy,người học đã
hành động và người dạy đã phản ứng.
Tương tự, người dạy bằng phương pháp sư phạm của mình,gợi ý,hướng dẫn
người học,hướng họ tới cái đích cần tới,về phần mình người học tiếp thu những gợi
ý đó và tự mình thu lượm kiến thức.Nếu người học thấy thoả mãn thì họ sẽ dễ có
cảm tình với người dạy và ngược lại.lúc này,người dạy lại hành động và người học
lại phản ứng.
Môi trường có thể ảnh hưởng đến phương pháp học của người học và phương
pháp sư phạm của người dạy,vì thế mà nú ảnh hưởng đến quá trình dạy học.Người
học và người dạy không phải là sự trừu tượng chung chung,họ là những con người
cụ thể tồn tại trong thế giới vật chất,bên trong họ là tình cảm,là suy nghĩ,là thái
độ ,xung quanh họ là gia đình,bạn bè,nhà trường và xã hội ,do đó tất cả sự biến
đổi của các yếu tố bên trong hay bên ngoài(hay chính là các yếu tố của môi trường)
đều tác động lên họ,và đều làm thay đổi kết quả dạy và học…
Sù tương tác qua lại giữa ba tác nhân này rất đa dạng,phong phó và rất năng
động theo nhiều chiều hướng khác nhau.Chính điều đó đã làm nên cơ sở của
phương pháp sư phạm tương tác.
I.1.3.Bản chất của phương pháp sư phạm tương tác:
Hiện nay đang tồn tại một số trào lưu sư phạm sau:
+Phương pháp sư phạm tự do: xuất phát từ người học và lợi Ých của người học
+Phương pháp sư phạm đóng,được gọi là hình thức: dựa vào chương trình học
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
+Phương pháp sư phạm bách khoa: hướng về người dạy,người học chỉ ngoan
ngoãn tuân theo quyết định của người dạy
+Phương pháp sư phạm mở,được gọi là không hình thức: đặc biệt quan tâm đến
mối quan hệ giữa người học,người dạy và môi trường.
Mỗi trào lưu sư phạm đều có những ưu điểm riêng nhưng thực tế lại có sự đan
xen giữa các yếu tố của trào lưu này với trào lưu khác
sẽ đem lại hiệu quả cao trong quá trình đào tạo,nú đồng thời khẳng định vai trò
quan trọng của cả ba tác nhân,từ đó nhận thấy rằng: “Mỗi học sinh là một cá
nhân,có nhu cầu học tập khác nhau nhưng sù học tập của con người là mét quá
trình xã hội, trong đó người khác còng tham gia vào hoạt động hợp tác với người
học”.Người khác và người học ở đây chính là muốn đề cập đến mối quan hệ thầy-
trò,và trò - trò.Quan hệ trò - trò chính là biểu hiện của sự tác động qua lại giữa
người học và môi trường. Quan hệ Êy được thể hiện tích cực nhất ở sự thảo luận
giữa các nhóm học tập, giữa các thành viên trong nhóm và ngược lại nhóm học tập
lại là môi trường thuận lợi để gắn kết người học với nhau trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ chung. Đó không chỉ đơn thuần là sự gắn kết về mặt học tập mà còn là sự
gắn kết về mặt đạo đức, tâm lí. Không chỉ có thế, nhóm học tập còn được
coinh một môi trường xã hội thu nhỏ.
Nhà giáo dục Dewey đã đề ra mét học thuyết giáo dục riêng, theo ông, ảnh
hưởng của môi trường đến sự đào tạo con người có sắc thái rõ ràng, từ đó phải tạo
cho học sinh mét môi trường càng gần gũi với đời sống càng tốt. Hơn nữa, chỉ có
sự làm việc chung mới giúp cho học sinh có thói quen
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
trao đổi những kinh nghiệm thực hành, có cơ hội phát triển lý luận và năng lực trừu
tượng hoá.
Theo định hướng của phương pháp dạy học tích cực: tích cực hoá hoạt động
của người học thì rõ ràng quan hệ giữa người học với nhau đang là mét vấn đề cần
được quan tâm,trong đó vấn đề trọng tâm là sự hợp tác làm việc của người học để
việc học đạt hiệu quả cao.Như vậy,phương pháp sư phạm tương tác theo khía cạnh
nào đó có thể coi là cơ sở lí luận cũng như nguồn gốc sù đòi hỏi phải ra đời những
phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp dạy học hợp tác nói
riêng. Phương pháp dạy học hợp tác chính là biểu hiện mối quan hệ học sinh - học
sinh theo lí thuyết dạy học tương tác.
phương pháp dạy học phù hợp theo hướng phát huy được tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học, đó chính là phương pháp dạy học tích cực.
I.2.2. Phương pháp dạy học tích cực và những dấu hiệu đặc trưng: [4]
a. Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp hướng tới việc tích cực hoá hoạt
động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào các hoạt động của người học
chứ không phải của người dạy.
b. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt học tập của học sinh:
Dưới sự tổ chức, chỉ đạo của giáo viên, người học sẽ tham gia tích cực vào các
hoạt động học tập, qua đó tự lực khám phá những điều chưa biết chứ không thụ
động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt.
Hoạt động học tập là học sinh được đặt vào một tình huống của đời sống, từ việc
quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm rồi giải thích, học sinh sẽ tìm ra kiến thức mới,
đồng thời trong quá trình đó người học sẽ biết cách “làm ra”
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
kiến thức. Nh vậy, theo hướng này giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức,
hướng dẫn, điều khiển chứ không phải là người truyền đạt tri thức.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học:
Để đạt được mục tiêu dạy học người giáo viên phải dạy cho học sinh phương pháp
học thế nào cho hiệu quả, cốt lõi của các phương pháp học đó chính là phương pháp tự
học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự
học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, giúp họ say mê với môn học từ đó tạo nên hứng thú
học tập và do đó kết quả học tập sẽ được nâng cao. Điều này rất quan trọng vì con
người cần phải học tập suốt đời.
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác:
Trong mét lớp học, trình độ kiến thức và khả năng tư duy của học sinh không thể
đồng đều, luôn có những mức độ khác nhau, vì vậy, khi áp dụng các phương pháp
dạy học tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ làm việc, áp
lưỡng và phải là người có trình độ chuyên môn sâu rộng, có kinh nghiệm tổ chức,
quản lí…
I.2.3. Những phương pháp tích cực cần được phát triển ở trường phổ thông: [1]
Trong các sách lí luận đều chỉ ra rằng: về mặt hoạt động nhận thức thì các
phương pháp thực hành là tích cực nhất, tiếp đến là phương pháp trực quan, và
cuối cùng là phương pháp dùng lời.
Thực hiện dạy học tích cực không có nghĩa là phải gạt bỏ những phương pháp
truyền thống mà phải làm sao để kết hợp các phương pháp tích cực với các phương
pháp truyền thống một cách phù hợp, cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực
của các phương pháp dạy học truyền thống, đồng thời phải học hỏi, vận dụng mét
sè phương pháp dạy học mới, phù hợp với
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
hoàn cảnh, điều kiện cụ thể. Vậy tổ chức quá trình nhận thức như thế nào để đạt
hiệu quả cao nhất. Việc khai thác một cái tranh, mét mô hình, một thí nghiệm sẽ
đạt được những hiệu quả sư phạm khác nhau tuỳ thuộc cách sử dụng của giáo viên
theo lối giải thích minh hoạ, tìm tòi từng phần hay nghiên cứu phát hiện…
Theo định hướng dạy học tích cực thì cần phát triển các phương pháp thực hành,
các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện,
nhất là đối với môn khoa học thực nghiệm nh hoá học.
Theo hướng nói trên, có ba phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở
trường phổ thông:
- Phương pháp vấn đáp tìm tòi.
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề.
- Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ.
a. Phương pháp vấn đáp tìm tòi:
Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt câu hỏi và học sinh
trả lời, hoặc có thể tranh luận để lĩnh hội được nội dung bài học.
Căn cứ và tính chất của hoạt động nhận thức người ta phân loại ba phương pháp
a. Tạo tình huống có vấn đề.
b. Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh.
c. Phát biểu vấn đề cần giải quyết.
2/ Giải quyết vấn đề đặt ra:
a. Đề xuất cách giải quyết.
b. Lập kế hoạch giải quyết.
c. Thực hiện kế hoạch.
3/ Kết luận:
a. Thảo luận kết quả và đánh giá.
b. Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra.
c. Phát biểu kết luận.
d. Đề xuất vấn đề mới.
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
Có bốn mức độ dạy học đặt và giải quyết vấn đề:
- Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết, học sinh thực hiện dưới sự
hướng dẫn của giáo viên, sau đó giáo viên kiểm tra, đánh giá.
- Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý cách giải quyết, học sinh thực hiện dưới sự
hướng dẫn của giáo viên, sau đó giáo viên cùng học sinh kiểm tra, đánh giá.
- Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề, học sinh phát
hiện và xác định vấn đề, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. Giáo viên
và học sinh cùng đánh giá.
- Mức 4: Học sinh tự phát hiện tình huống có vấn đề, lựa chọn vấn đề, giải quyết
vấn đề, đánh giá chất lượng, hiệu quả, giáo viên bổ sung ý kiến.
Hiện nay nhiều giáo viên đã vận dụng phương pháp này ở mức 1 và 2, cần
vậndông hiệu quả mức 3 và 4 hơn. [4]
Sử dụng hiệu quả phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề, học sinh không
chỉ nắm được tri thức mới mà còn nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó,
phát triển tư duy và cao hơn nữa là được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời
- Là một đơn vị, mét bộ phận của tập thể lớp học.
- Hoạt động của nhóm được thống nhất với nhau bởi các thành viên cùng thực
hiện một nhiệm vụ học tập, đây vừa là nguyên nhân vừa là điều kiện của nhóm học
tập.
- Các thành viên trong nhóm không chỉ liên kết với nhau về mặt trách nhiệm
mà còn có mối quan hệ về tình cảm, đạo đức, lối sống.
Nh vậy nhóm học tập cũng là nơi diễn ra quá trình xã hội, không chỉ đơn thuần
là một đơn vị cấu thành nên lớp học mà còn là môi trường thuận lợi cho sù phát
triển và hình thành nhân cách cho học sinh.
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
nhận thức, được duy trì trong suốt quá trình nhận thức không chỉ bởi nội dung mà
còn bởi phương pháp nhận thức. Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải luôn biết
linh hoạt lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp để tạo được và duy trì hứng thú
cho học sinh.
Phương pháp dạy học hợp tác góp phần tăng cường hoạt động của học sinh, tạo
bầu không khí thoải mái để người học tích cực, tự giác chiếm lĩnh nội dung khoa
học. Bằng hoạt động nhóm, các học sinh- những người bạn, những người bằng vai
phải lứa với nhau- có thể tự do thảo luận, phát biểu ý kiến, phân tích vấn đề, từ đó
việc nắm được bản chất kiến thức, việc tiếp cận tri thức sẽ không còn khó khăn
như khi phải một mình học tập nữa. Chính điều đó làm cho hứng thú nhận thức
luôn được nảy sinh ở người học. Do đó, có thể dễ dàng nhận thấy rằng phương
pháp dạy học hợp tác rất có hiệu quả mang lại hứng thú nhận thức. Song, hiệu quả
đó chỉ có thể được phát huy khi người giáo viên có năng lực tổ chức, điều khiển
hoạt động nhóm.
b. Cơ sở về mặt giáo dục:
Trong giáo dục cần phân biệt “nhóm” với “đám đông”. Nhà giáo dục người
Pháp , Reiniger cho rằng: “ nhóm có sẵn trong mỗi cá nhân”, còn “đám đông là
mét sù tạo lập tự do ở bên ngoài”. Như vậy, trong mỗi nhóm, chính cá tính của mỗi
khăn do giáo viên cùng một lóc phải quan sát nhiều nhóm ở trong lớp.
- Kết quả kiểm tra cả nhóm chưa thấy rõ được sự nỗ lực của mỗi cá nhân và
chưa có sự công bằng về điểm số cho mỗi thành viên.
- Trong quá trình hoạt động nhóm, các học sinh có học lực khá, giỏi sẽ quyết
định kết quả thảo luận do vậy chưa chú trọng được sự đóng góp của học sinh kém,
dẫn đến hiện tượng ăn theo, chi phối, tách nhóm…
- Đôi khi sù thi đua giữa các nhóm bị trở thành ganh đua, tranh cãi…
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
Trong xu hướng dạy học ngày nay, việc khai thác các phương tiện trực
quan để tiếp cận tri thức đã trở nên rất quen thuộc và được sử dụng khá phổ biến.
Trong hoá học, những phương tiện trực quan Êy có thể là tranh ảnh, mô hình, hình
vẽ, sơ đồ, biểu bảng, thí nghiệm hoá học…Phương tiện dạy học được sử dụng ở
tất cả các loại bài hoá học.
Khi nội dung kiến thức phức tạp, với các sơ đồ, biểu bảng khó hay những thí
nghiệm diễn ra nhiều giai đoạn thì việc quan sát, phân tích, giải thích, khái quát,
tổng hợp là rất khó khăn đối với cá nhân. Lúc này, hoạt động nhóm sẽ phát huy tác
dụng, giúp các thành viên phân chia công việc cùng nhau quan sát, giải thích, bổ
sung cho nhau những ý kiến…
Tóm lại, quả đúng nh quan điểm của tác giả Trần Duy Hưng: “ Dạy học nhóm chỉ
là trường hợp đặc biệt và phát triển cao của dạy học tích cực hướng vào học sinh.
Nã chính là hệ tích hợp của nhiều phương pháp gần gũi nhau nh: phương pháp
thảo luận, phương pháp dự án, …”
II. MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU VÀ SỬ
DỤNGPHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC THEO NHểM NHỎ
II.1. Vài nét về lịch sử của phương pháp dạy học hợp tác:
Phương pháp dạy học hợp tác nhóm đã được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu từ
lâu và đã được biết đến trong hệ thống phương pháp “dạy học lấy học sinh làm
trung tõm”.
- Đặc biệt là ý thức bảo vệ và vận động mọi người cùng bảo vệ môi trường,
chống ô nhiễm môi trường…
5. Khả năng áp dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ vào
nhóm oxi - lớp 10 - ban nâng cao:
5.1. Khả năng áp dụng phương pháp dạy học hợp tác trong chương:
- Vị trí của chương: nh trên đã phân tích, để chuẩn bị cho chương này học sinh
đã có những kiến thức lý thuyết chủ đạo đồng thời cũng đã được
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
187
0
C quánh, nhớt nâu đỏ vòng S
8
→ chuỗi S
8
→S
n
445
0
C
1400
0
C
1700
0
C
hơi
hơi
hơi
của lưu huỳnh: -2, 0, +4, +6.
2. dự đoán tchh:
Nx: lưu huỳnh đơn chất có số oxi hoá
0 là sè oxi hoá trung gian nên vừa có
tính oxi hoá vừa có tính khử,
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
S
SO
2
SO
3
H
2
SO
4
FeS
2- GV sắp xếp bảng hợp lí, giữ lại phần
kiểm tra bài cũ để dạy bài mới.
(4) H
2
3
(3) SO
3
+ H
2
O → H
2
SO
43.2. Hoạt động 2: 1. Cấu tạo phân tử
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- GV gọi một HS lên bảng viết công
thức cấu tạo của phân tử H
2
SO
4
, xác
- HS:
định số oxi hoá của S trong phân tử.
- GV lưu ý HS: công thức 1 đúng quy
tắc bát tử nhưng cả hai công thức đều
được công nhận.
H_O O H_
O O
S
+ 6
S
+ 6
4
là chất lỏng không màu,
sánh như dầu. không bay hơi, nặng gần
hai lần nước, dễ hút ẩm.- HS: Nếu rót nước vào
Khoa Húa học Trường ĐHSP Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
3.2. Hoạt động 2: Ôn tập kiến thức thông qua bài tập trắc nghiệm (10 phút):
Mục đích:
- Ôn tập kiến thức về tính chất lưu huỳnh và các hợp chất của lưu huỳnh.
- Rèn luyện kỹ năng làm bài tập trắc nghiệm.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- GV phát phiếu học tập cho HS làm
trong thời gian 5 phút.
- GV gọi lần lượt từng HS phát biểu
chọn đáp án và giải thích.
- GV nhận xét, phân tích các kiến thức
liên quan.
- HS làm phiếu bài tập trắc nghiệm.
- HS phát biểu.
- HS khác theo dõi, nhận xét, bổ sung.
Phiếu bài tập trắc nghiệm:
1. Dãy các chất nào sau đây tác dụng với H
2
SO
2
S và
Na
2
S: A. FeCl
2
B. CuSO
4
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
- GV gọi HS lên bảng chữa bàiBài 1: Hoà tan hoàn toàn kim loại R trong dd H
2
SO
4
đặc, nóng thu được V lít khí
SO
2
và 1 dd A, cô cạn dd A thu được 16g muối khan.
Sục V lít SO
2
vào dd Ba(OH)
2
vừa đủ thu được 8, 68 g kết tủa X và 1dd Y. Đun
nóng dd Y lại thu được 6, 51g kết tủa X.
Xác định kim loại R.
Bài 2: Chia hỗn hợp B gồm Fe và Fe
2
Khóa luận tốt nghiệp Vò Thị
Hiên
HS
% 0 10, 87 26, 09 60, 87 91, 30 95, 65 100
Đồ thị 3: Đường luỹ tích so sánh kết quả kiểm tra lần 1 giữa lớp TN và ĐC